- Aṅguttara Nikāya 5.100
- 10. Kakudhavagga
Kakudhatherasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Kakudhatherasutta
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Kosambì, tại khu vườn Ghosita. Lúc bấy giờ Kakudha, người Koliya, là thị giả của Tôn giả Mahàmoggallàna vừa mệnh chung và sanh ra với một thân do ý tạo, thân ấy với tự thể có được (to rộng) ví như hai hay ba thửa ruộng làng ở Magadha. Vị ấy, với tự thể như vậy, không làm cho tự mình hay làm cho người khác bị bệnh. Rồi Thiên tử Kakudha đi đến Tôn giả Mahàmoggallàna; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Mahàmoggallàna rồi đứng một bên. Thiên tử Kakudha thưa với Tôn giả Mahàmoggallàna:
—Thưa Tôn giả, Devadatta có khởi lên ý muốn như sau: “Ta sẽ lãnh đạo chúng Tăng”. Với tâm khởi lên như vậy, thưa Tôn giả, thần thông của Devadatta bị thối thất.
Thiên tử Kakudha nói lên như vậy, nói như vậy xong, đảnh lễ Tôn giả Mahàmoggallàna, thân phía hữu hướng về ngài rồi biến mất tại chỗ. Rồi Tôn giả Mahàmoggallàna đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahàmoggallàna bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, Kakudha, người xứ Koliya, là thị giả của con, mệnh chung không bao lâu, sanh ra với thân do ý tạo thành, thân ấy với tự thể có được (to rộng) ví như hai hay ba thửa ruộng làng ở Magadha. Vị ấy với tự thể như vậy, không làm cho tự mình hay làm cho người khác bị bệnh. Rồi Thiên tử Kakudha đi đến con; sau khi đến, đảnh lễ con rồi đứng một bên. Sau khi đứng một bên, bạch Thế Tôn, Thiên tử Kakudha thưa với con: “Thưa Tôn giả, Devadatta có khởi lên ý muốn như sau: “Ta sẽ lãnh đạo chúng Tăng”. Với tâm khởi lên như vậy. Thưa Tôn giả, thần thông của Devadatta bị thối thất”. Thiên tử Kakudha, bạch Thế Tôn, nói lên như vậy. Nói như vậy xong, đảnh lễ con, rồi thân phía hữu hướng về con rồi biến mất.
—Này Moggallàna, có phải Thầy với tâm của mình biết được tâm của Thiên tử Kakudha rằng: “Ðiều gì Thiên tử Kakudha nói lên, tất cả đều là như vậy, không thể khác được”?
—Bạch Thế Tôn, với tâm của con, con biết được tâm của Thiên tử Kakudha rằng: “Ðiều gì Thiên tử Kakudha nói lên, tất cả đều là như vậy, không thể khác được”.
—Này Moggallàna, hãy phòng hộ lời nói này! Này Moggallàna, hãy phòng hộ lời nói này. Nay kẻ ngu si ấy sẽ tự mình thấy rõ tự mình. Này Moggallàna, có năm bậc Ðạo sư này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là năm?
TTC 2Ở đây, này Moggallàna, có vị Ðạo sư, giới không thanh tịnh lại tự cho rằng: “Ta có giới thanh tịnh. Giới của ta thanh tịnh, chói sáng, không có uế nhiễm”. Nhưng các đệ tử biết về vị ấy như sau: “Tôn giả Ðạo sư này có giới không thanh tịnh, lại tự nghĩ rằng: “Ta có giới thanh tịnh. Giới của ta thanh tịnh, trong sáng, không uế nhiễm”. Nếu ta tin cho các cư sĩ biết như vậy, thời vị Ðạo sư sẽ không bằng lòng. Và nếu vị ấy không bằng lòng, thời chúng ta sẽ xử sự như thế nào mới được”. Và vị ấy nhận được các vật dụng nhu yếu như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Những gì tự ngã sẽ làm, tự ngã sẽ được biết do việc làm ấy. Như vậy, này Moggallàna, các đệ tử che chở giới cho bậc Ðạo sư, và bậc Ðạo sư như vậy chờ đợi các đệ tử che chở về giới cho mình.
TTC 3Lại nữa, này Moggallàna ở đây có bậc Ðạo sư mạng sống không thanh tịnh, lại tự cho rằng: “Ta có mạng sống thanh tịnh. Mạng sống của ta thanh tịnh chói sáng, không có uế nhiễm”. Nhưng các đệ tử biết về vị ấy như sau: “Vị Tôn giả Ðạo sư này có mạng sống không thanh tịnh, lại tự nghĩ rằng: “Ta có mạng sống thanh tịnh. Mạng sống của ta thanh tịnh, trong sáng, không uế nhiễm”. Nếu chúng ta tin cho các cư sĩ biết như vậy, thời vị Ðạo sư ấy không bằng lòng, và nếu vị ấy không bằng lòng, thời chúng ta sẽ xử sự như thế nào mới được”. Và vị ấy nhận được các vật dụng nhu yếu như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Những gì tự ngã sẽ làm, tự ngã sẽ được biết do việc làm ấy. Như vậy, này Moggallàna, các đệ tử che chở mạng sống cho bậc Ðạo sư, và bậc Ðạo sư như vậy chờ đợi các đệ tử che chở mạng sống cho mình.
TTC 4Lại nữa, này Moggallàna, ở đây có bậc Ðạo sư thuyết pháp không thanh tịnh, lại tự cho rằng: “Ta thuyết pháp thanh tịnh. Thuyết pháp của ta thanh tịnh, chói sáng, không có uế nhiễm”. Nhưng các đệ tử biết về vị ấy như sau: “Tôn giả Ðạo sư này thuyết pháp không thanh tịnh, lại tự nghĩ rằng: “Ta thuyết pháp thanh tịnh. Thuyết pháp của ta thanh tịnh, trong sáng, không uế nhiễm”. Nếu chúng ta tin cho các cư sĩ biết như vậy, thời vị Đạo sư ấy sẽ không bằng lòng. Và nếu vị ấy không bằng lòng, thời chúng ta sẽ xử sự như thế nào mới được”. Và vị ấy nhận được các vật dụng nhu yếu như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Những gì tự ngã sẽ làm, tự ngã sẽ được biết do việc làm ấy. Như vậy, này Moggallàna, các đệ tử phòng hộ sự thuyết pháp cho bậc Ðạo sư, và bậc Ðạo sư như vậy chờ đợi các đệ tử che chở thuyết pháp cho mình.
TTC 5Lại nữa, này Moggallàna, ở đây có bậc Ðạo sư trả lời không thanh tịnh, lại tự cho rằng: “Ta trả lời thanh tịnh. Trả lời của ta thanh tịnh, chói sáng, không có uế nhiễm”. Nhưng các đệ tử biết về vị ấy như sau: “Tôn giả Ðạo sư này trả lời không thanh tịnh, lại nghĩ rằng: “Ta trả lời thanh tịnh. Trả lời của ta thanh tịnh, chói sáng, không uế nhiễm”. Nếu chúng ta tin cho các cư sĩ biết như vậy, thời vị Ðạo sư ấy sẽ không bằng lòng và nếu vị ấy không bằng lòng, thời chúng ta sẽ xử sự như thế nào mới được”. Và vị ấy nhận được các vật dụng nhu yếu như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Những gì tự ngã sẽ làm, tự ngã sẽ được biết do việc làm ấy. Như vậy, này Moggallàna, các đệ tử che chở trả lời cho bậc Ðạo sư, và bậc Ðạo sư như vậy chờ đợi các đệ tử che chở trả lời cho mình.
TTC 6Lại nữa, này Moggallàna, ở đây có bậc Ðạo sư tri kiến không thanh tịnh, lại tự cho rằng: “Ta có tri kiến thanh tịnh. Tri kiến của ta thanh tịnh, chới sáng, không có uế nhiễm”. Nhưng các đệ tử biết về vị ấy như sau: “Tôn giả Ðạo sư này tri kiến không thanh tịnh, lại tự nghĩ rằng: “Ta có tri kiến thanh tịnh. Tri kiến của ta thanh tịnh, trong sáng, không có uế nhiễm”. Nếu chúng ta tin cho các cư sĩ biết như vậy, thời vị Ðạo sư sẽ không bằng lòng và nếu vị ấy không bằng lòng, thời chúng ta sẽ xử sự như thế nào mới được”. Và vị ấy nhận được các vật dụng nhu yếu như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Những gì tự ngã sẽ làm, tự ngã sẽ được biết do việc làm ấy. Như vậy, này Moggallàna, các đệ tử che chở tri kiến cho bậc Ðạo sư, và bậc Ðạo sư như vậy chờ đợi các đệ tử che chở tri kiến cho mình.
TTC 7Này Moggallàna, Ta có giới thanh tịnh, và Ta tự biết: “Giới của Ta thanh tịnh, trong sáng, không có uế nhiễm”. Các đệ tử không có che chở Ta về giới, và Ta không có chờ đợi các đệ tử che chở Ta về giới. Mạng sống của Ta thanh tịnh, Ta tự rõ biết: “Mạng sống của Ta thanh tịnh, trong sáng, không có uế nhiễm”. Các đệ tử không có che chở Ta về mạng sống, và Ta không có chờ đợi các đệ tử che chở cho Ta về mạng sống. Thuyết pháp của Ta thanh tịnh, Ta tự rõ biết: “Thuyết pháp của Ta thanh tịnh, Ta tự rõ biết: “Thuyết pháp của Ta thanh tịnh, trong sáng, không có uế nhiễm”. Các đệ tử không có che chở Ta về thuyết pháp và Ta không có chờ đợi các đệ tử che chở Ta về thuyết pháp. Các câu trả lời của Ta thanh tịnh, Ta tự rõ biết :” Các câu trả lời của Ta thanh tịnh, trong sáng, không có uế nhiễm”. Các đệ tử không có che chở Ta về các câu trả lời, và Ta không có chờ đợi các đệ tử che chở Ta về các câu trả lời. Tri kiến của Ta thanh tịnh, Ta tự rõ biết: “Tri kiến của Ta thanh tịnh, trong sáng, không có uế nhiễm”. Các đệ tử không có che chở Ta về tri kiến, và Ta không có chờ đợi các đệ tử che chở Ta về tri kiến.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
10. Kinh Trưởng Lão Kakudha
Tena kho pana samayena kakudho nāma koliyaputto āyasmato mahāmoggallānassa upaṭṭhāko adhunākālaṅkato aññataraṁ manomayaṁ kāyaṁ upapanno. Tassa evarūpo attabhāvapaṭilābho hoti—seyyathāpi nāma dve vā tīṇi vā māgadhakāni gāmakkhettāni. So tena attabhāvapaṭilābhena neva attānaṁ no paraṁ byābādheti.
At that time the Koliyan named Kakudha—Venerable Mahāmoggallāna’s supporter—had recently passed away and been reborn in a certain host of mind-made gods. His incarnation was two or three times the size of a Magadhan village with its fields. But with that incarnation he didn’t obstruct himself or others.
100. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú ở Kosambī, tại tu viện Ghosita. Vào lúc bấy giờ, một người con trai dòng Koliyā tên là Kakudha, là người hộ độ của Tôn giả Mahāmoggallāna, vừa mới mệnh chung, đã tái sanh vào một thân do ý tạo nào đó. Sự thành tựu thân mạng của vị ấy như thế này: ví như hai hoặc ba khu làng của xứ Māgadha. Với sự thành tựu thân mạng ấy, vị ấy không làm tổn hại chính mình, cũng không làm tổn hại người khác.
Atha kho kakudho devaputto yenāyasmā mahāmoggallāno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho kakudho devaputto āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ etadavoca: “devadattassa, bhante, evarūpaṁ icchāgataṁ uppajji: ‘ahaṁ bhikkhusaṅghaṁ pariharissāmī’ti. Sahacittuppādā ca, bhante, devadatto tassā iddhiyā parihīno”ti.
Idamavoca kakudho devaputto. Idaṁ vatvā āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyi.
Then the godling Kakudha went up to Venerable Mahāmoggallāna, bowed, stood to one side, and said to him, “Sir, this fixed desire arose in Devadatta: ‘I shall lead the mendicant Saṅgha.’ And as that thought arose, Devadatta lost that psychic power.”
That is what the godling Kakudha said. Then he bowed and respectfully circled Mahāmoggallāna, keeping him on his right, before vanishing right there.
Bấy giờ, thiên tử Kakudha đi đến chỗ Tôn giả Mahāmoggallāna; sau khi đến, vị ấy đảnh lễ Tôn giả Mahāmoggallāna rồi đứng một bên. Sau khi đứng một bên, thiên tử Kakudha bạch với Tôn giả Mahāmoggallāna điều này: – Thưa ngài, một ý muốn xấu xa như vầy đã khởi lên cho Devadatta: ‘Ta sẽ lãnh đạo chúng Tỳ khưu.’ Và thưa ngài, cùng với sự khởi lên của tâm ấy, Devadatta đã bị mất đi thần thông ấy. Thiên tử Kakudha đã bạch điều này. Sau khi bạch điều này, vị ấy đảnh lễ Tôn giả Mahāmoggallāna, đi nhiễu quanh theo chiều bên phải, rồi biến mất ngay tại chỗ ấy.
Atha kho āyasmā mahāmoggallāno yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā mahāmoggallāno bhagavantaṁ etadavoca:
Then Mahāmoggallāna went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened.
Bấy giờ, Tôn giả Mahāmoggallāna đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, ngài đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi một bên. Sau khi ngồi một bên, Tôn giả Mahāmoggallāna bạch với đức Thế Tôn điều này:
“Kakudho nāma, bhante, koliyaputto mamaṁ upaṭṭhāko adhunākālaṅkato aññataraṁ manomayaṁ kāyaṁ upapanno hoti. Tassa evarūpo attabhāvapaṭilābho—seyyathāpi nāma dve vā tīṇi vā māgadhakāni gāmakkhettāni. So tena attabhāvapaṭilābhena neva attānaṁ no paraṁ byābādheti. Atha kho, bhante, kakudho devaputto yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho, bhante, kakudho devaputto maṁ etadavoca: ‘devadattassa, bhante, evarūpaṁ icchāgataṁ uppajji—ahaṁ bhikkhusaṅghaṁ pariharissāmīti. Sahacittuppādā ca, bhante, devadatto tassā iddhiyā parihīno’ti.
Idamavoca, bhante, kakudho devaputto. Idaṁ vatvā maṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyī”ti.
– Bạch Thế Tôn, người con trai của dòng Koliyā tên là Kakudha, là người hộ độ của con, vừa mới mệnh chung, đã được sanh vào một thân do ý tạo nào đó. Sự thành tựu tự thân của vị ấy là như vầy – ví như là hai hoặc ba khu đất làng của xứ Māgadha. Với sự thành tựu tự thân ấy, vị ấy không làm khổ mình, cũng không làm khổ người khác. Bạch Thế Tôn, rồi thiên tử Kakudha đã đi đến chỗ con; sau khi đến, vị ấy đảnh lễ con rồi đứng một bên. Bạch Thế Tôn, sau khi đứng một bên, thiên tử Kakudha đã bạch với con điều này: ‘Thưa ngài, một ý muốn xấu xa như vầy đã khởi lên cho Devadatta: ‘Ta sẽ lãnh đạo chúng Tỳ khưu.’ Và thưa ngài, cùng với sự khởi lên của tâm ấy, Devadatta đã bị mất đi thần thông ấy.’ Bạch Thế Tôn, thiên tử Kakudha đã bạch điều này. Sau khi bạch điều này, vị ấy đảnh lễ con, đi nhiễu quanh theo chiều bên phải, rồi biến mất ngay tại chỗ ấy.
“Kiṁ pana te, moggallāna, kakudho devaputto cetasā ceto paricca vidito: ‘yaṁ kiñci kakudho devaputto bhāsati sabbaṁ taṁ tatheva hoti, no aññathā’”ti?
“Cetasā ceto paricca vidito me, bhante, kakudho devaputto: ‘yaṁ kiñci kakudho devaputto bhāsati sabbaṁ taṁ tatheva hoti, no aññathā’”ti.
“Rakkhassetaṁ, moggallāna, vācaṁ. Rakkhassetaṁ, moggallāna, vācaṁ. Idāni so moghapuriso attanāva attānaṁ pātukarissati.
“But Moggallāna, did you encompass the godling Kakudha’s mind, and know that everything he says is correct and not otherwise?”
“Indeed I did, sir.”
“Mark these words, Moggallāna! Mark these words! Now that futile man Devadatta will expose himself by his own deeds.
– Này Moggallāna, có phải thiên tử Kakudha đã được ngươi biết rõ bằng cách dùng tâm bao trùm tâm rằng: ‘Bất cứ điều gì thiên tử Kakudha nói, tất cả điều ấy là đúng như vậy, không khác đi’ không? – Bạch Thế Tôn, thiên tử Kakudha đã được con biết rõ bằng cách dùng tâm bao trùm tâm rằng: ‘Bất cứ điều gì thiên tử Kakudha nói, tất cả điều ấy là đúng như vậy, không khác đi.’ – Này Moggallāna, hãy giữ gìn lời nói này! Này Moggallāna, hãy giữ gìn lời nói này! Giờ đây, kẻ ngu muội ấy sẽ tự mình bộc lộ chính mình.
Pañcime, moggallāna, satthāro santo saṁvijjamānā lokasmiṁ. Katame pañca?
Idha, moggallāna, ekacco satthā aparisuddhasīlo samāno ‘parisuddhasīlomhī’ti paṭijānāti ‘parisuddhaṁ me sīlaṁ pariyodātaṁ asaṅkiliṭṭhan’ti. Tamenaṁ sāvakā evaṁ jānanti: ‘ayaṁ kho bhavaṁ satthā aparisuddhasīlo samāno parisuddhasīlomhī’ti paṭijānāti ‘parisuddhaṁ me sīlaṁ pariyodātaṁ asaṅkiliṭṭhan’ti. Mayañceva kho pana gihīnaṁ āroceyyāma, nāssassa manāpaṁ. Yaṁ kho panassa amanāpaṁ, kathaṁ naṁ mayaṁ tena samudācareyyāma: ‘sammannati kho pana cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārena; yaṁ tumo karissati tumova tena paññāyissatī’ti.
Moggallāna, there are these five teachers found in the world. What five?
Firstly, some teacher with impure conduct claims: ‘I am pure in ethics. My ethical conduct is pure, bright, uncorrupted.’ But their disciples know: ‘This teacher has impure ethical conduct, but claims to be ethically pure. They wouldn’t like it if we were to tell the laypeople. And how could we treat them in a way that they don’t like? But they consent to robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick. They themselves will be recognized by their own deeds.’
– Này Moggallāna, có năm hạng đạo sư này đang hiện hữu, có mặt ở trên đời. Năm hạng nào? Này Moggallāna, ở đây, có một hạng đạo sư có giới không trong sạch nhưng lại tự nhận rằng: ‘Ta có giới trong sạch,’ ‘Giới của ta trong sạch, thanh tịnh, không uế nhiễm.’ Các đệ tử của vị ấy biết về vị ấy như vầy: ‘Vị Tôn sư này có giới không trong sạch nhưng lại tự nhận rằng: ‘Ta có giới trong sạch,’ ‘Giới của ta trong sạch, thanh tịnh, không uế nhiễm.’ Nếu chúng ta nói cho các hàng tại gia thì điều ấy sẽ không làm cho vị ấy hài lòng. Điều gì không làm cho vị ấy hài lòng, làm sao chúng ta có thể đối xử với vị ấy bằng cách ấy? Vị ấy quả thật được tôn trọng vì y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, và dược phẩm trị bệnh; bất cứ điều gì ngài làm, chính ngài sẽ được biết đến qua việc ấy.’ Này Moggallāna, các đệ tử che chở cho vị đạo sư như vậy về phương diện giới hạnh; và vị đạo sư như vậy cũng mong đợi sự che chở về phương diện giới hạnh từ các đệ tử.
Puna caparaṁ, moggallāna, idhekacco satthā aparisuddhājīvo samāno ‘parisuddhājīvomhī’ti paṭijānāti ‘parisuddho me ājīvo pariyodāto asaṅkiliṭṭho’ti. Tamenaṁ sāvakā evaṁ jānanti: ‘ayaṁ kho bhavaṁ satthā aparisuddhājīvo samāno parisuddhājīvomhī’ti paṭijānāti ‘parisuddho me ājīvo pariyodāto asaṅkiliṭṭho’ti. Mayañceva kho pana gihīnaṁ āroceyyāma, nāssassa manāpaṁ. Yaṁ kho panassa amanāpaṁ, kathaṁ naṁ mayaṁ tena samudācareyyāma: ‘sammannati kho pana cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārena; yaṁ tumo karissati tumova tena paññāyissatī’ti. Evarūpaṁ kho, moggallāna, satthāraṁ sāvakā ājīvato rakkhanti; evarūpo ca pana satthā sāvakehi ājīvato rakkhaṁ paccāsīsati.
Furthermore, some teacher with impure livelihood claims: ‘I am pure in livelihood. My livelihood is pure, bright, uncorrupted.’ But their disciples know: ‘This teacher has impure livelihood, but claims to have pure livelihood. They wouldn’t like it if we were to tell the laypeople. And how could we treat them in a way that they don’t like? But they consent to robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick. They themselves will be recognized by their own deeds.’ The disciples of such a teacher cover up their teacher’s livelihood, and the teacher expects them to do so.
Lại nữa, này Moggallāna, ở đây, có một hạng đạo sư có sinh kế không trong sạch nhưng lại tự nhận rằng: ‘Ta có sinh kế trong sạch,’ ‘Sinh kế của ta trong sạch, thanh tịnh, không uế nhiễm.’ Các đệ tử của vị ấy biết về vị ấy như vầy: ‘Vị Tôn sư này có sinh kế không trong sạch nhưng lại tự nhận rằng: ‘Ta có sinh kế trong sạch,’ ‘Sinh kế của ta trong sạch, thanh tịnh, không uế nhiễm.’ Nếu chúng ta nói cho các hàng tại gia thì điều ấy sẽ không làm cho vị ấy hài lòng. Điều gì không làm cho vị ấy hài lòng, làm sao chúng ta có thể đối xử với vị ấy bằng cách ấy? Vị ấy quả thật được tôn trọng vì y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, và dược phẩm trị bệnh; bất cứ điều gì ngài làm, chính ngài sẽ được biết đến qua việc ấy.’ Này Moggallāna, các đệ tử che chở cho vị đạo sư như vậy về phương diện sinh kế; và vị đạo sư như vậy cũng mong đợi sự che chở về phương diện sinh kế từ các đệ tử.
Puna caparaṁ, moggallāna, idhekacco satthā aparisuddhadhammadesano samāno ‘parisuddhadhammadesanomhī’ti paṭijānāti ‘parisuddhā me dhammadesanā pariyodātā asaṅkiliṭṭhā’ti. Tamenaṁ sāvakā evaṁ jānanti: ‘ayaṁ kho bhavaṁ satthā aparisuddhadhammadesano samāno parisuddhadhammadesanomhī’ti paṭijānāti ‘parisuddhā me dhammadesanā pariyodātā asaṅkiliṭṭhā’ti. Mayañceva kho pana gihīnaṁ āroceyyāma, nāssassa manāpaṁ. Yaṁ kho panassa amanāpaṁ, kathaṁ naṁ mayaṁ tena samudācareyyāma: ‘sammannati kho pana cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārena; yaṁ tumo karissati tumova tena paññāyissatī’ti. Evarūpaṁ kho, moggallāna, satthāraṁ sāvakā dhammadesanato rakkhanti; evarūpo ca pana satthā sāvakehi dhammadesanato rakkhaṁ paccāsīsati.
Furthermore, some teacher with impure teaching claims: ‘I am pure in teaching. My teaching is pure, bright, uncorrupted.’ But their disciples know: ‘This teacher has impure teaching, but claims to have pure teaching. They wouldn’t like it if we were to tell the laypeople. And how could we treat them in a way that they don’t like? But they consent to robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick. They themselves will be recognized by their own deeds.’ The disciples of such a teacher cover up their teacher’s teaching, and the teacher expects them to do so.
Lại nữa, này Moggallāna, ở đây, có một hạng đạo sư có việc thuyết pháp không trong sạch nhưng lại tự nhận rằng: ‘Ta có việc thuyết pháp trong sạch,’ ‘Việc thuyết pháp của ta trong sạch, thanh tịnh, không uế nhiễm.’ Các đệ tử của vị ấy biết về vị ấy như vầy: ‘Vị Tôn sư này có việc thuyết pháp không trong sạch nhưng lại tự nhận rằng: ‘Ta có việc thuyết pháp trong sạch,’ ‘Việc thuyết pháp của ta trong sạch, thanh tịnh, không uế nhiễm.’ Nếu chúng ta nói cho các hàng tại gia thì điều ấy sẽ không làm cho vị ấy hài lòng. Điều gì không làm cho vị ấy hài lòng, làm sao chúng ta có thể đối xử với vị ấy bằng cách ấy? Vị ấy quả thật được tôn trọng vì y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, và dược phẩm trị bệnh; bất cứ điều gì ngài làm, chính ngài sẽ được biết đến qua việc ấy.’ Này Moggallāna, các đệ tử che chở cho vị đạo sư như vậy về phương diện thuyết pháp; và vị đạo sư như vậy cũng mong đợi sự che chở về phương diện thuyết pháp từ các đệ tử.
Puna caparaṁ, moggallāna, idhekacco satthā aparisuddhaveyyākaraṇo samāno ‘parisuddhaveyyākaraṇomhī’ti paṭijānāti ‘parisuddhaṁ me veyyākaraṇaṁ pariyodātaṁ asaṅkiliṭṭhan’ti. Tamenaṁ sāvakā evaṁ jānanti: ‘ayaṁ kho bhavaṁ satthā aparisuddhaveyyākaraṇo samāno parisuddhaveyyākaraṇomhī’ti paṭijānāti ‘parisuddhaṁ me veyyākaraṇaṁ pariyodātaṁ asaṅkiliṭṭhan’ti. Mayañceva kho pana gihīnaṁ āroceyyāma, nāssassa manāpaṁ. Yaṁ kho panassa amanāpaṁ, kathaṁ naṁ mayaṁ tena samudācareyyāma: ‘sammannati kho pana cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārena; yaṁ tumo karissati tumova tena paññāyissatī’ti. Evarūpaṁ kho, moggallāna, satthāraṁ sāvakā veyyākaraṇato rakkhanti; evarūpo ca pana satthā sāvakehi veyyākaraṇato rakkhaṁ paccāsīsati.
Furthermore, some teacher with impure answers claims: ‘I am pure in how I answer. My answers are pure, bright, uncorrupted.’ But their disciples know: ‘This teacher has impure answers, but claims to have pure answers. They wouldn’t like it if we were to tell the laypeople. And how could we treat them in a way that they don’t like? But they consent to robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick. They themselves will be recognized by their own deeds.’ The disciples of such a teacher cover up their teacher’s answers, and the teacher expects them to do so.
Này Moggallāna, lại nữa, ở đây có vị đạo sư có sự giải thích không trong sạch, nhưng lại tự nhận rằng: ‘Ta có sự giải thích trong sạch’, và rằng: ‘Sự giải thích của ta trong sạch, thuần tịnh, không ô nhiễm’. Các đệ tử của vị ấy biết như sau: ‘Vị tôn sư này có sự giải thích không trong sạch, nhưng lại tự nhận rằng: ‘Ta có sự giải thích trong sạch’, và rằng: ‘Sự giải thích của ta trong sạch, thuần tịnh, không ô nhiễm’. Nếu chúng ta nói điều này cho hàng cư sĩ, điều ấy sẽ không làm ngài hài lòng. Điều gì không làm ngài hài lòng, làm sao chúng ta có thể đối xử với ngài bằng cách ấy? Ngài đã đối xử tốt với chúng ta về y phục, vật thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh; bất cứ điều gì ngài làm, ngài sẽ được biết đến qua việc làm ấy’. Này Moggallāna, các đệ tử bảo vệ vị đạo sư như vậy về phương diện giải thích; và vị đạo sư như vậy cũng mong đợi sự bảo vệ từ các đệ tử về phương diện giải thích.
Puna caparaṁ, moggallāna, idhekacco satthā aparisuddhañāṇadassano samāno ‘parisuddhañāṇadassanomhī’ti paṭijānāti ‘parisuddhaṁ me ñāṇadassanaṁ pariyodātaṁ asaṅkiliṭṭhan’ti. Tamenaṁ sāvakā evaṁ jānanti: ‘ayaṁ kho bhavaṁ satthā aparisuddhañāṇadassano samāno parisuddhañāṇadassanomhī’ti paṭijānāti ‘parisuddhaṁ me ñāṇadassanaṁ pariyodātaṁ asaṅkiliṭṭhan’ti. Mayañceva kho pana gihīnaṁ āroceyyāma, nāssassa manāpaṁ. Yaṁ kho panassa amanāpaṁ, kathaṁ naṁ mayaṁ tena samudācareyyāma: ‘sammannati kho pana cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārena; yaṁ tumo karissati tumova tena paññāyissatī’ti. Evarūpaṁ kho, moggallāna, satthāraṁ sāvakā ñāṇadassanato rakkhanti; evarūpo ca pana satthā sāvakehi ñāṇadassanato rakkhaṁ paccāsīsati. Ime kho, moggallāna, pañca satthāro santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Furthermore, some teacher with impure knowledge and vision claims: ‘I am pure in knowledge and vision. My knowledge and vision are pure, bright, uncorrupted.’ But their disciples know: ‘This teacher has impure knowledge and vision, but claims to have pure knowledge and vision. They wouldn’t like it if we were to tell the laypeople. And how could we treat them in a way that they don’t like? But they consent to robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick. They themselves will be recognized by their own deeds.’ The disciples of such a teacher cover up their teacher’s knowledge and vision, and the teacher expects them to do so. These are the five teachers found in the world.
Này Moggallāna, lại nữa, ở đây có vị đạo sư có tri kiến không trong sạch, nhưng lại tự nhận rằng: ‘Ta có tri kiến trong sạch’, và rằng: ‘Tri kiến của ta trong sạch, thuần tịnh, không ô nhiễm’. Các đệ tử của vị ấy biết như sau: ‘Vị tôn sư này có tri kiến không trong sạch, nhưng lại tự nhận rằng: ‘Ta có tri kiến trong sạch’, và rằng: ‘Tri kiến của ta trong sạch, thuần tịnh, không ô nhiễm’. Nếu chúng ta nói điều này cho hàng cư sĩ, điều ấy sẽ không làm ngài hài lòng. Điều gì không làm ngài hài lòng, làm sao chúng ta có thể đối xử với ngài bằng cách ấy? Ngài đã đối xử tốt với chúng ta về y phục, vật thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh; bất cứ điều gì ngài làm, ngài sẽ được biết đến qua việc làm ấy’. Này Moggallāna, các đệ tử bảo vệ vị đạo sư như vậy về phương diện tri kiến; và vị đạo sư như vậy cũng mong đợi sự bảo vệ từ các đệ tử về phương diện tri kiến. Này Moggallāna, năm hạng đạo sư này có mặt, hiện hữu ở trên đời.
Ahaṁ kho pana, moggallāna, parisuddhasīlo samāno ‘parisuddhasīlomhī’ti paṭijānāmi ‘parisuddhaṁ me sīlaṁ pariyodātaṁ asaṅkiliṭṭhan’ti. Na ca maṁ sāvakā sīlato rakkhanti, na cāhaṁ sāvakehi sīlato rakkhaṁ paccāsīsāmi. Parisuddhājīvo samāno ‘parisuddhājīvomhī’ti paṭijānāmi ‘parisuddho me ājīvo pariyodāto asaṅkiliṭṭho’ti. Na ca maṁ sāvakā ājīvato rakkhanti, na cāhaṁ sāvakehi ājīvato rakkhaṁ paccāsīsāmi. Parisuddhadhammadesano samāno ‘parisuddhadhammadesanomhī’ti paṭijānāmi ‘parisuddhā me dhammadesanā pariyodātā asaṅkiliṭṭhā’ti. Na ca maṁ sāvakā dhammadesanato rakkhanti, na cāhaṁ sāvakehi dhammadesanato rakkhaṁ paccāsīsāmi. Parisuddhaveyyākaraṇo samāno ‘parisuddhaveyyākaraṇomhī’ti paṭijānāmi ‘parisuddhaṁ me veyyākaraṇaṁ pariyodātaṁ asaṅkiliṭṭhan’ti. Na ca maṁ sāvakā veyyākaraṇato rakkhanti, na cāhaṁ sāvakehi veyyākaraṇato rakkhaṁ paccāsīsāmi. Parisuddhañāṇadassano samāno ‘parisuddhañāṇadassanomhī’ti paṭijānāmi ‘parisuddhaṁ me ñāṇadassanaṁ pariyodātaṁ asaṅkiliṭṭhan’ti. Na ca maṁ sāvakā ñāṇadassanato rakkhanti, na cāhaṁ sāvakehi ñāṇadassanato rakkhaṁ paccāsīsāmī”ti.
Dasamaṁ.
But Moggallāna, I have pure ethical conduct, and I claim: ‘I am pure in ethical conduct. My ethical conduct is pure, bright, uncorrupted.’ My disciples don’t cover up my conduct, and I don’t expect them to. I have pure livelihood, and I claim: ‘I am pure in livelihood. My livelihood is pure, bright, uncorrupted.’ My disciples don’t cover up my livelihood, and I don’t expect them to. I have pure teaching, and I claim: ‘I am pure in teaching. My teaching is pure, bright, uncorrupted.’ My disciples don’t cover up my teaching, and I don’t expect them to. I have pure answers, and I claim: ‘I am pure in how I answer. My answers are pure, bright, uncorrupted.’ My disciples don’t cover up my answers, and I don’t expect them to. I have pure knowledge and vision, and I claim: ‘I am pure in knowledge and vision. My knowledge and vision are pure, bright, uncorrupted.’ My disciples don’t cover up my knowledge and vision, and I don’t expect them to.”
Còn Ta, này Moggallāna, có giới hạnh trong sạch, Ta tự nhận rằng: ‘Ta có giới hạnh trong sạch’, và rằng: ‘Giới hạnh của Ta trong sạch, thuần tịnh, không ô nhiễm’. Các đệ tử không bảo vệ Ta về phương diện giới hạnh, và Ta cũng không mong đợi sự bảo vệ từ các đệ tử về phương diện giới hạnh. Có sanh kế trong sạch, Ta tự nhận rằng: ‘Ta có sanh kế trong sạch’, và rằng: ‘Sanh kế của Ta trong sạch, thuần tịnh, không ô nhiễm’. Các đệ tử không bảo vệ Ta về phương diện sanh kế, và Ta cũng không mong đợi sự bảo vệ từ các đệ tử về phương diện sanh kế. Có sự thuyết pháp trong sạch, Ta tự nhận rằng: ‘Ta có sự thuyết pháp trong sạch’, và rằng: ‘Sự thuyết pháp của Ta trong sạch, thuần tịnh, không ô nhiễm’. Các đệ tử không bảo vệ Ta về phương diện thuyết pháp, và Ta cũng không mong đợi sự bảo vệ từ các đệ tử về phương diện thuyết pháp. Có sự giải thích trong sạch, Ta tự nhận rằng: ‘Ta có sự giải thích trong sạch’, và rằng: ‘Sự giải thích của Ta trong sạch, thuần tịnh, không ô nhiễm’. Các đệ tử không bảo vệ Ta về phương diện giải thích, và Ta cũng không mong đợi sự bảo vệ từ các đệ tử về phương diện giải thích. Có tri kiến trong sạch, Ta tự nhận rằng: ‘Ta có tri kiến trong sạch’, và rằng: ‘Tri kiến của Ta trong sạch, thuần tịnh, không ô nhiễm’. Các đệ tử không bảo vệ Ta về phương diện tri kiến, và Ta cũng không mong đợi sự bảo vệ từ các đệ tử về phương diện tri kiến.” Hết bài kinh thứ mười.
Kakudhavaggo pañcamo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Kakudha, phẩm thứ năm.
Dve sampadā byākaraṇaṁ, phāsu akuppapañcamaṁ; Sutaṁ kathā āraññako, sīho ca kakudho dasāti.
Dutiyo paṇṇāsako samatto.
Hai kinh Sampadā, Byākaraṇa, Phāsu, và kinh thứ năm là Akuppa; Suta, Kathā, Āraññaka, Sīha, và Kakudha là mười kinh.