- Aṅguttara Nikāya 4.52
- 6. Puññābhisandavagga
Bản dịch
AN 4.52 — Nguồn Sanh Phước (Với Cư Sĩ) (2)
Dutiyapuññābhisandasutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có bốn nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện… hạnh phúc, an lạc. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu với lòng tịnh tín bất động đối với Phật; bậc Thế Tôn ấy là bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn… Này các Tỷ-kheo, đây là nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện thứ nhất… hạnh phúc an lạc.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu với lòng tịnh tín bất động đối với Pháp, Pháp được Thế Tôn khéo nói, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu. Này các Tỷ-kheo, đây là nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện thứ hai… hạnh phúc, an lạc.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu với lòng tịnh tín bất động đối với chúng Tăng, Thiện hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn. Ưng lý hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn. Chánh hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám vị. Chúng đệ tử này của Thế Tôn đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được đảnh lễ, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời. Này các Tỷ-kheo, đây là nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện thứ ba… hạnh phúc, an lạc.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu với những giới được bậc Thánh ái kính, không bị phá hoại, không bị bể vụn, không bị điểm chấm, không bị uế nhiễm, đưa đến giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến Thiền định. Này các Tỷ-kheo, đây là nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện thứ tư… hạnh phúc, an lạc.
Này các Tỷ-kheo, bốn nguồn sanh phước, nguồn sanh thiện này, đem lại an lạc, thuộc Thiên giới, là quả lạc dị thục, dẫn đến cõi Trời, đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc.
Ai tin tưởng Như Lai,
Bất động, khéo an trú,
Ai tin giới, hiền thiện,
Bậc Thánh khen, mến chuộng.
Ai tịnh tín chúng Tăng,
Với cái nhìn chánh trực,
Người ấy được họ gọi,
Không phải là người nghèo.
Ðời sống người như vậy,
Không phải đời trống rỗng,
Do vậy tín và giới,
Tịnh tín và thắng pháp,
Bậc trí chú tâm niệm,
Lời dạy của chư Phật.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 4.52
- 6. Overflowing Merit
Overflowing Merit (2nd)
2. Kinh Dòng Phước Báu Thứ Hai
“Cattārome, bhikkhave, puññābhisandā kusalābhisandā sukhassāhārā sovaggikā sukhavipākā saggasaṁvattanikā iṭṭhāya kantāya manāpāya hitāya sukhāya saṁvattanti. Katame cattāro?
Idha, bhikkhave, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti: ‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti. Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo puññābhisando kusalābhisando sukhassāhāro sovaggiko sukhavipāko saggasaṁvattaniko iṭṭhāya kantāya manāpāya hitāya sukhāya saṁvattati.
“Mendicants, there are these four kinds of overflowing merit, overflowing goodness. They nurture happiness and are conducive to heaven, ripening in happiness and leading to heaven. They lead to what is likable, desirable, agreeable, to welfare and happiness. What four?
It’s when a noble disciple has experiential confidence in the Buddha: ‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’ This is the first kind of overflowing merit …
52. “Này các Tỳ khưu, có bốn dòng phước thiện, dòng thiện lành này, mang lại an lạc, hướng đến cõi thiện, có quả báo an lạc, đưa đến tái sanh cõi trời, dẫn đến điều mong muốn, điều đáng yêu, điều hài lòng, điều lợi ích, điều an lạc. Bốn điều ấy là gì? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Thánh đệ tử thành tựu niềm tin bất động đối với Đức Phật rằng: ‘Đức Thế Tôn là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn’. Này các Tỳ khưu, đây là dòng phước thiện, dòng thiện lành thứ nhất, mang lại an lạc, hướng đến cõi thiện, có quả báo an lạc, đưa đến tái sanh cõi trời, dẫn đến điều mong muốn, điều đáng yêu, điều hài lòng, điều lợi ích, điều an lạc.”
Puna caparaṁ, bhikkhave, ariyasāvako dhamme aveccappasādena samannāgato hoti: ‘svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhī’ti. Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo puññābhisando kusalābhisando sukhassāhāro sovaggiko sukhavipāko saggasaṁvattaniko iṭṭhāya kantāya manāpāya hitāya sukhāya saṁvattati.
Furthermore, a noble disciple has experiential confidence in the teaching: ‘The teaching is well explained by the Buddha—apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.’ This is the second kind of overflowing merit …
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử thành tựu niềm tin bất động đối với Pháp rằng: ‘Pháp đã được Đức Thế Tôn khéo thuyết giảng, là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình chứng hiểu’. Này các Tỳ khưu, đây là dòng phước thiện, dòng thiện lành thứ hai, mang lại an lạc, hướng đến cõi thiện, có quả báo an lạc, đưa đến tái sanh cõi trời, dẫn đến điều mong muốn, điều đáng yêu, điều hài lòng, điều lợi ích, điều an lạc.”
Puna caparaṁ, bhikkhave, ariyasāvako saṅghe aveccappasādena samannāgato hoti: ‘suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ujuppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ñāyappaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, sāmīcippaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, yadidaṁ cattāri purisayugāni aṭṭha purisapuggalā, esa bhagavato sāvakasaṅgho āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassā’ti. Ayaṁ, bhikkhave, tatiyo puññābhisando kusalābhisando sukhassāhāro sovaggiko sukhavipāko saggasaṁvattaniko iṭṭhāya kantāya manāpāya hitāya sukhāya saṁvattati.
Furthermore, a noble disciple has experiential confidence in the Saṅgha: ‘The Saṅgha of the Buddha’s disciples is practicing the way that’s good, direct, systematic, and proper. It consists of the four pairs, the eight individual persons. This is the Saṅgha of the Buddha’s disciples that is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of greeting with cupped palms, and is the supreme field of merit for the world.’ This is the third kind of overflowing merit …
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử thành tựu niềm tin bất động đối với Tăng rằng: ‘Tăng đoàn đệ tử của Đức Thế Tôn là bậc diệu hạnh, Tăng đoàn đệ tử của Đức Thế Tôn là bậc trực hạnh, Tăng đoàn đệ tử của Đức Thế Tôn là bậc như lý hạnh, Tăng đoàn đệ tử của Đức Thế Tôn là bậc chánh hạnh; tức là bốn đôi, tám vị. Tăng đoàn đệ tử của Đức Thế Tôn này là đáng được cúng dường, đáng được nghênh đón, đáng được bố thí, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời’. Này các Tỳ khưu, đây là dòng phước thiện, dòng thiện lành thứ ba, mang lại an lạc, hướng đến cõi thiện, có quả báo an lạc, đưa đến tái sanh cõi trời, dẫn đến điều mong muốn, điều đáng yêu, điều hài lòng, điều lợi ích, điều an lạc.”
Puna caparaṁ, bhikkhave, ariyasāvako ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi acchiddehi asabalehi akammāsehi bhujissehi viññuppasatthehi aparāmaṭṭhehi samādhisaṁvattanikehi. Ayaṁ, bhikkhave, catuttho puññābhisando kusalābhisando sukhassāhāro sovaggiko sukhavipāko saggasaṁvattaniko iṭṭhāya kantāya manāpāya hitāya sukhāya saṁvattati.
Ime kho, bhikkhave, cattāro puññābhisandā kusalābhisandā sukhassāhārā sovaggikā sukhavipākā saggasaṁvattanikā iṭṭhāya kantāya manāpāya hitāya sukhāya saṁvattantīti.
Furthermore, a noble disciple’s ethical conduct is loved by the noble ones, unbroken, impeccable, spotless, and unmarred, liberating, praised by sensible people, not mistaken, and leading to immersion. This is the fourth kind of overflowing merit …
These are the four kinds of overflowing merit, overflowing goodness. They nurture happiness and are conducive to heaven, ripening in happiness and leading to heaven. They lead to what is likable, desirable, agreeable, to welfare and happiness.
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử thành tựu các giới được các bậc Thánh yêu mến, không bị sứt mẻ, không bị đứt đoạn, không bị tỳ vết, không bị uế nhiễm, có công năng giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến thiền định. Này các Tỳ khưu, đây là dòng phước thiện, dòng thiện lành thứ tư, mang lại an lạc, hướng đến cõi thiện, có quả báo an lạc, đưa đến tái sanh cõi trời, dẫn đến điều mong muốn, điều đáng yêu, điều hài lòng, điều lợi ích, điều an lạc. Này các Tỳ khưu, đây chính là bốn dòng phước thiện, dòng thiện lành, mang lại an lạc, hướng đến cõi thiện, có quả báo an lạc, đưa đến tái sanh cõi trời, dẫn đến điều mong muốn, điều đáng yêu, điều hài lòng, điều lợi ích, điều an lạc.”
Yassa saddhā tathāgate, acalā suppatiṭṭhitā; Sīlañca yassa kalyāṇaṁ, ariyakantaṁ pasaṁsitaṁ.
Whoever has faith in the Realized One, unwavering and well grounded; whose ethical conduct is good, praised and loved by the noble ones;
“Người nào có niềm tin nơi Như Lai, bất động, được thiết lập vững chắc; và có giới đức tốt đẹp, được các bậc Thánh yêu mến, tán thán.”
Saṅghe pasādo yassatthi, ujubhūtañca dassanaṁ; Adaliddoti taṁ āhu, amoghaṁ tassa jīvitaṁ.
who has confidence in the Saṅgha, and correct view: they’re said to be prosperous, their life is not in vain.
“Người nào có lòng tịnh tín nơi Tăng đoàn, và có tri kiến ngay thẳng; người ấy được gọi là không nghèo khó, đời sống của người ấy không vô ích.”
Tasmā saddhañca sīlañca, pasādaṁ dhammadassanaṁ; Anuyuñjetha medhāvī, saraṁ buddhāna sāsanan”ti.
Dutiyaṁ.
So let the wise devote themselves to faith, ethical behavior, confidence, and insight into the teaching, remembering the instructions of the Buddhas.”
“Do đó, người trí, khi nhớ đến lời dạy của các Đức Phật, nên chuyên tâm vào niềm tin và giới đức, vào lòng tịnh tín và sự thấy Pháp.” Hết phẩm thứ hai.