- Aṅguttara Nikāya 4.30
- 3. Uruvelavagga
Bản dịch
AN 4.30 — Các Du Sĩ
Paribbājakasutta
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại núi Gijihakùta (Linh Thứu). Lúc bấy giờ, nhiều du sĩ danh tiếng, có danh tiếng, sống tại khu vườn du sĩ trên bờ sông Sappini, như các du sĩ Annabhàra, Varadhara, Sakuludàyi, và một số du sĩ có danh tiếng khác.
Rồi Thế Tôn vào buổi chiều, từ chỗ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến khu vườn của các du sĩ trên bờ sông Sappini, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Ngồi xuống, Thế Tôn nói với các du sĩ ngoại đạo ấy như sau:
TTC 2Có bốn pháp cú này, này các Du sĩ, được biết là tối sơ… (giống như kinh số 29, chỉ khác là kinh này nói với các Du sĩ, không phải với các Tỷ-kheo như kinh trước và không có bài kệ)…
Này các Du sĩ, có bốn pháp cú này được biết là tối sơ… không bị quở trách.
TTC 3Này các Du sĩ, ai nói như sau: “Nhưng tôi sẽ chỉ ra một Sa-môn hay Bà-la-môn, dầu cho vị này có tự chứng được pháp cú không tham này; tuy vậy vị ấy vẫn có lòng tham, tham đắm sắc bén trong các dục”. Ðối với người ấy, Ta có thể nói như thế này: “Hãy để vị ấy nói lên. Hãy để vị ấy trả lời, rồi Ta thấy uy đức của vị ấy”. Thật vậy, này các Du sĩ, sự kiện này không xảy ra, rằng một Sa-môn hay Bà-la-môn như vậy đã tự mình chứng được pháp cú không tham sẽ được nêu rõ là có lòng tham, tham đắm sắc bén trong các dục. Này các Du sĩ, ai nói như sau: “Nhưng tôi sẽ chỉ ra một Sa-môn hay Bà-la-môn, dầu cho vị này có tự chứng được pháp cú không sân này, tuy vậy, tâm của vị ấy vẫn có sân, trong ý vẫn có tư duy hiềm hận”. Ðối với người ấy, Ta có thể nói như thế này: “Hãy để vị ấy nói lên, hãy để vị ấy trả lời, rồi Ta thấy uy đức của vị ấy”. Thật vậy, này các Du sĩ, sự kiện này không xảy ra: rằng một Sa-môn hay Bà-la-môn đã tự chứng được pháp cú không sân này sẽ được nêu rõ là tâm vẫn có sân, trong ý vẫn có tư duy hiềm hận. Này các Du sĩ, ai nói như sau: “Nhưng tôi sẽ chỉ ra một Sa-môn hay Bà-la-môn, dầu cho vị này có tự chứng được pháp cú chánh niệm này, tuy vậy, tâm của vị ấy vẫn thất niệm, không có tỉnh giác”. Ðối với người ấy, Ta có thể nói như thế này: “Hãy để vị ấy nói lên, hãy để vị ấy trả lời, rồi Ta thấy uy đức của vị ấy”. Thật vậy, này các Du sĩ, sự kiện này không xảy ra, rằng một Sa-môn hay Bà-la-môn, đã tự mình chứng được pháp cú chánh niệm sẽ được nêu rõ là thất niệm không có tỉnh giác. Này các Du sĩ, ai nói như sau: “Nhưng tôi sẽ chỉ ra một Sa-môn hay Bà-la-môn, dầu cho vị này có tự chứng được pháp cú chánh định này, tuy vậy vị ấy vẫn không định tĩnh, tâm vẫn dao động”. Ðối với người ấy, Ta có thể nói như thế này: “Hãy để vị ấy nói lên. Hãy để vị ấy trả lời, rồi Ta thấy uy đức của vị ấy”. Thật vậy, này các Du sĩ, sự kiện này không xảy ra, rằng một Sa-môn hay Bà-la-môn đã tự mình chứng được pháp cú chánh định, sẽ được nêu rõ là không định tĩnh, tâm vẫn dao động.
TTC 4Này các Du sĩ, nếu có ai nghĩ rằng, cần phải chỉ trích, cần phải bài xích bốn pháp cú này, thời ngay trong hiện tại, bốn sự phản kháng chỉ trích xứ đúng pháp được khởi lên cho vị ấy. Thế nào là bốn?
Nếu Tôn giả chỉ trích, bài xích pháp cú không tham, thời các Sa-môn hay Bà-la-môn nào có lòng tham, có lòng tham sắc bén đối với các dục, các vị ấy cần phải được Tôn giả đảnh lễ, các vị ấy cần phải được Tôn giả tán thán. Nếu Tôn giả chỉ trích pháp cú không sân.. chỉ trích pháp cú chánh niệm… chỉ trích pháp cú chánh định, thời các Sa-môn hay Bà-la-môn nào không định tâm, tâm bị dao động, các vị ấy cần phải được Tôn giả đảnh lễ, các vị ấy cần phải được Tôn giả tán thán.
TTC 5—Này các Du sĩ, ai nghĩ rằng cần phải chỉ trích, cần phải bài xích bốn pháp cú này, thời ngay trong hiện tại, bốn sự phản kháng chỉ trích xứ đúng pháp này, được khởi lên cho vị ấy. Này các Du sĩ, cho đến các dân chúng ở Ukkala và dân chúng Vassà, dân chúng Bhannà theo vô nhân luận, theo vô tác luận, theo hư vô luận, những vị ấy cũng đã không nghĩ rằng bốn pháp cú này cần phải chỉ trích, cần phải bài xích. Vì cớ sao? Vì sợ bị quở trách, phẫn nộ, công kích.
Thường không sân, chánh niệm,
Nội tâm khéo định tĩnh,
Tham nhiếp phục, học tập,
Ðược gọi không phóng dật.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 4.30
- 3. At Uruvelā
Wanderers
10. Kinh Du Sĩ (Paribbājaka)
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate.
Tena kho pana samayena sambahulā abhiññātā abhiññātā paribbājakā sippinikātīre paribbājakārāme paṭivasanti, seyyathidaṁ annabhāro varadharo sakuludāyī ca paribbājako aññe ca abhiññātā abhiññātā paribbājakā. Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yena sippinikātīraṁ paribbājakārāmo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Nisajja kho bhagavā te paribbājake etadavoca:
At one time the Buddha was staying near Rājagaha, on the Vulture’s Peak Mountain.
Now at that time several very well-known wanderers were residing in their monastery on the bank of the Serpentine River. They included Annabhāra, Varadhara, Sakuludāyī, and other very well-known wanderers. Then in the late afternoon, the Buddha came out of retreat and went to the wanderer’s monastery on the bank of the Serpentine River. He sat down on the seat spread out and said to the wanderers:
30. Một thời, đức Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), tại núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu). Lúc bấy giờ, có nhiều du sĩ nổi tiếng, rất danh tiếng đang cư ngụ tại tu viện của các du sĩ bên bờ sông Sippinikā, đó là du sĩ Annabhāra, du sĩ Varadhara, du sĩ Sakuludāyī, và các du sĩ nổi tiếng, rất danh tiếng khác. Rồi, vào buổi chiều, đức Thế Tôn xuất khỏi nơi độc cư, đi đến tu viện của các du sĩ bên bờ sông Sippinikā; sau khi đến, ngài ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi xuống, đức Thế Tôn đã nói điều này với các du sĩ ấy:
“Cattārimāni, paribbājakā, dhammapadāni aggaññāni rattaññāni vaṁsaññāni porāṇāni asaṅkiṇṇāni asaṅkiṇṇapubbāni, na saṅkīyanti na saṅkīyissanti, appaṭikuṭṭhāni samaṇehi brāhmaṇehi viññūhi. Katamāni cattāri? Anabhijjhā, paribbājakā, dhammapadaṁ aggaññaṁ rattaññaṁ vaṁsaññaṁ porāṇaṁ asaṅkiṇṇaṁ asaṅkiṇṇapubbaṁ, na saṅkīyati na saṅkīyissati, appaṭikuṭṭhaṁ samaṇehi brāhmaṇehi viññūhi. Abyāpādo, paribbājakā, dhammapadaṁ …pe… sammāsati, paribbājakā, dhammapadaṁ …pe… sammāsamādhi, paribbājakā, dhammapadaṁ aggaññaṁ rattaññaṁ vaṁsaññaṁ porāṇaṁ asaṅkiṇṇaṁ asaṅkiṇṇapubbaṁ, na saṅkīyati na saṅkīyissati, appaṭikuṭṭhaṁ samaṇehi brāhmaṇehi viññūhi. Imāni kho, paribbājakā, cattāri dhammapadāni aggaññāni rattaññāni vaṁsaññāni porāṇāni asaṅkiṇṇāni asaṅkiṇṇapubbāni, na saṅkīyanti na saṅkīyissanti, appaṭikuṭṭhāni samaṇehi brāhmaṇehi viññūhi.
“Wanderers, these four footprints of the Dhamma are primordial, long-standing, customary, and traditional. They are uncorrupted, as they have been since the beginning. They’re not being corrupted now nor will they be. Sensible ascetics and brahmins don’t look down on them. What four? Contentment … Good will … Right mindfulness … Right immersion … These four footprints of the Dhamma are primordial, long-standing, customary, and traditional. They are uncorrupted, as they have been since the beginning. They’re not being corrupted now nor will they be. Sensible ascetics and brahmins don’t look down on them.
Này các du sĩ, có bốn pháp môn này nên được biết là tối thượng, nên được biết là đã có từ lâu đời, nên được biết là thuộc dòng dõi (của các bậc Thánh), là cổ xưa, không bị pha tạp, chưa từng bị pha tạp trong quá khứ, không bị pha tạp ở hiện tại, sẽ không bị pha tạp ở tương lai, và không bị các vị sa-môn, bà-la-môn, và những người có trí chê trách. Bốn pháp môn ấy là gì? Này các du sĩ, pháp môn không tham ái (anabhijjhā) nên được biết là tối thượng, nên được biết là đã có từ lâu đời, nên được biết là thuộc dòng dõi (của các bậc Thánh), là cổ xưa, không bị pha tạp, chưa từng bị pha tạp trong quá khứ, không bị pha tạp ở hiện tại, sẽ không bị pha tạp ở tương lai, và không bị các vị sa-môn, bà-la-môn, và những người có trí chê trách. Này các du sĩ, pháp môn vô sân hận (abyāpāda)... (tương tự)... Này các du sĩ, pháp môn chánh niệm (sammāsati)... (tương tự)... Này các du sĩ, pháp môn chánh định (sammāsamādhi) nên được biết là tối thượng, nên được biết là đã có từ lâu đời, nên được biết là thuộc dòng dõi (của các bậc Thánh), là cổ xưa, không bị pha tạp, chưa từng bị pha tạp trong quá khứ, không bị pha tạp ở hiện tại, sẽ không bị pha tạp ở tương lai, và không bị các vị sa-môn, bà-la-môn, và những người có trí chê trách. Này các du sĩ, bốn pháp môn này quả thật nên được biết là tối thượng, nên được biết là đã có từ lâu đời, nên được biết là thuộc dòng dõi (của các bậc Thánh), là cổ xưa, không bị pha tạp, chưa từng bị pha tạp trong quá khứ, không bị pha tạp ở hiện tại, sẽ không bị pha tạp ở tương lai, và không bị các vị sa-môn, bà-la-môn, và những người có trí chê trách.
Yo kho, paribbājakā, evaṁ vadeyya: ‘ahametaṁ anabhijjhaṁ dhammapadaṁ paccakkhāya abhijjhāluṁ kāmesu tibbasārāgaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā paññāpessāmī’ti, tamahaṁ tattha evaṁ vadeyyaṁ: ‘etu vadatu byāharatu passāmissānubhāvan’ti. So vata, paribbājakā, anabhijjhaṁ dhammapadaṁ paccakkhāya abhijjhāluṁ kāmesu tibbasārāgaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā paññāpessatīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Wanderers, if someone should say: ‘I’ll deny this Dhamma footprint of contentment, and describe a true ascetic or brahmin who covets sensual pleasures with acute lust.’ Then I’d say to them: ‘Let them come, speak, and discuss. We’ll see how powerful they are.’ It is quite impossible to deny this Dhamma footprint of contentment, and point out a true ascetic or brahmin who covets sensual pleasures with acute lust.
Này các du sĩ, nếu có người nào nói rằng: ‘Tôi, sau khi từ bỏ pháp môn không tham ái này, sẽ tuyên bố một người tham ái, có lòng tham mãnh liệt đối với các dục, là một vị sa-môn hay một vị bà-la-môn,’ thì ta sẽ nói với người ấy rằng: ‘Hãy đến, hãy nói, hãy tuyên bố, ta sẽ xem năng lực của ông.’ Này các du sĩ, việc người ấy, sau khi từ bỏ pháp môn không tham ái, lại có thể tuyên bố một người tham ái, có lòng tham mãnh liệt đối với các dục, là một vị sa-môn hay một vị bà-la-môn, điều ấy là không thể xảy ra.
Yo kho, paribbājakā, evaṁ vadeyya: ‘ahametaṁ abyāpādaṁ dhammapadaṁ paccakkhāya byāpannacittaṁ paduṭṭhamanasaṅkappaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā paññāpessāmī’ti, tamahaṁ tattha evaṁ vadeyyaṁ: ‘etu vadatu byāharatu passāmissānubhāvan’ti. So vata, paribbājakā, abyāpādaṁ dhammapadaṁ paccakkhāya byāpannacittaṁ paduṭṭhamanasaṅkappaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā paññāpessatīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
If someone should say: ‘I’ll deny this Dhamma footprint of good will, and describe a true ascetic or brahmin who has ill will and malicious intent.’ Then I’d say to them: ‘Let them come, speak, and discuss. We’ll see how powerful they are.’ It is quite impossible to deny this Dhamma footprint of good will, and point out a true ascetic or brahmin who has ill will and malicious intent.
Này các du sĩ, nếu có người nào nói rằng: ‘Tôi, sau khi từ bỏ pháp môn vô sân hận này, sẽ tuyên bố một người có tâm sân hận, có ý định xấu xa, là một vị sa-môn hay một vị bà-la-môn,’ thì ta sẽ nói với người ấy rằng: ‘Hãy đến, hãy nói, hãy tuyên bố, ta sẽ xem năng lực của ông.’ Này các du sĩ, việc người ấy, sau khi từ bỏ pháp môn vô sân hận, lại có thể tuyên bố một người có tâm sân hận, có ý định xấu xa, là một vị sa-môn hay một vị bà-la-môn, điều ấy là không thể xảy ra.
Yo kho, paribbājakā, evaṁ vadeyya: ‘ahametaṁ sammāsatiṁ dhammapadaṁ paccakkhāya muṭṭhassatiṁ asampajānaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā paññāpessāmī’ti, tamahaṁ tattha evaṁ vadeyyaṁ: ‘etu vadatu byāharatu passāmissānubhāvan’ti. So vata, paribbājakā, sammāsatiṁ dhammapadaṁ paccakkhāya muṭṭhassatiṁ asampajānaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā paññāpessatīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
If someone should say: ‘I’ll deny this Dhamma footprint of right mindfulness, and describe a true ascetic or brahmin who is unmindful, with no situational awareness.’ Then I’d say to them: ‘Let them come, speak, and discuss. We’ll see how powerful they are.’ It is quite impossible to deny this Dhamma footprint of right mindfulness, and point out a true ascetic or brahmin who is unmindful, with no situational awareness.
Này các du sĩ, nếu có người nào nói rằng: ‘Tôi, sau khi từ bỏ pháp môn chánh niệm này, sẽ tuyên bố một người thất niệm, không tỉnh giác, là một vị sa-môn hay một vị bà-la-môn,’ thì ta sẽ nói với người ấy rằng: ‘Hãy đến, hãy nói, hãy tuyên bố, ta sẽ xem năng lực của ông.’ Này các du sĩ, việc người ấy, sau khi từ bỏ pháp môn chánh niệm, lại có thể tuyên bố một người thất niệm, không tỉnh giác, là một vị sa-môn hay một vị bà-la-môn, điều ấy là không thể xảy ra.
Yo kho, paribbājakā, evaṁ vadeyya: ‘ahametaṁ sammāsamādhiṁ dhammapadaṁ paccakkhāya asamāhitaṁ vibbhantacittaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā paññāpessāmī’ti, tamahaṁ tattha evaṁ vadeyyaṁ: ‘etu vadatu byāharatu passāmissānubhāvan’ti. So vata, paribbājakā, sammāsamādhiṁ dhammapadaṁ paccakkhāya asamāhitaṁ vibbhantacittaṁ samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā paññāpessatīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
If someone should say: ‘I’ll deny this Dhamma footprint of right immersion, and describe a true ascetic or brahmin who is scattered, with straying mind.’ Then I’d say to them: ‘Let them come, speak, and discuss. We’ll see how powerful they are.’ It is quite impossible to deny this Dhamma footprint of right immersion, and point out a true ascetic or brahmin who is scattered, with straying mind.
Này các du sĩ, nếu có người nào nói rằng: ‘Tôi, sau khi từ bỏ pháp môn chánh định này, sẽ tuyên bố một người không định tĩnh, có tâm tán loạn, là một vị sa-môn hay một vị bà-la-môn,’ thì ta sẽ nói với người ấy rằng: ‘Hãy đến, hãy nói, hãy tuyên bố, ta sẽ xem năng lực của ông.’ Này các du sĩ, việc người ấy, sau khi từ bỏ pháp môn chánh định, lại có thể tuyên bố một người không định tĩnh, có tâm tán loạn, là một vị sa-môn hay một vị bà-la-môn, điều ấy là không thể xảy ra.
Yo kho, paribbājakā, imāni cattāri dhammapadāni garahitabbaṁ paṭikkositabbaṁ maññeyya, tassa diṭṭheva dhamme cattāro sahadhammikā vādānupātā gārayhā ṭhānā āgacchanti. Katame cattāro?
Anabhijjhañce bhavaṁ dhammapadaṁ garahati paṭikkosati, ye ca hi abhijjhālū kāmesu tibbasārāgā samaṇabrāhmaṇā te bhoto pujjā te bhoto pāsaṁsā.
Abyāpādañce bhavaṁ dhammapadaṁ garahati paṭikkosati, ye ca hi byāpannacittā paduṭṭhamanasaṅkappā samaṇabrāhmaṇā te bhoto pujjā te bhoto pāsaṁsā.
Sammāsatiñce bhavaṁ dhammapadaṁ garahati paṭikkosati, ye ca hi muṭṭhassatī asampajānā samaṇabrāhmaṇā te bhoto pujjā te bhoto pāsaṁsā.
Sammāsamādhiñce bhavaṁ dhammapadaṁ garahati paṭikkosati, ye ca hi asamāhitā vibbhantacittā samaṇabrāhmaṇā te bhoto pujjā te bhoto pāsaṁsā.
Yo kho, paribbājakā, imāni cattāri dhammapadāni garahitabbaṁ paṭikkositabbaṁ maññeyya, tassa diṭṭheva dhamme ime cattāro sahadhammikā vādānupātā gārayhā ṭhānā āgacchanti.
If anyone imagines they can criticize and reject these four footprints of the Dhamma, they deserve rebuttal and criticism on four legitimate grounds in this very life. What four?
If you reject the Dhamma footprint of contentment, then you must honor and praise those ascetics and brahmins who covet sensual pleasures with acute lust.
If you reject the Dhamma footprint of good will, you must honor and praise those ascetics and brahmins who have ill will and malicious intent.
If you reject the Dhamma footprint of right mindfulness, then you must honor and praise those ascetics and brahmins who are unmindful, with no situational awareness.
If you reject the Dhamma footprint of right immersion, you must honor and praise those ascetics and brahmins who are scattered, with straying minds.
If anyone imagines they can criticize and reject these four footprints of the Dhamma, they deserve rebuttal and criticism on four legitimate grounds in this very life.
“Này các du sĩ, người nào cho rằng bốn pháp cú này là đáng bị chỉ trích, đáng bị bác bỏ, thì đối với người ấy, ngay trong hiện tại, có bốn luận điểm hợp pháp đưa đến chỗ đáng bị khiển trách sẽ xảy ra. Bốn điều ấy là gì? Nếu ngài chỉ trích pháp cú không tham ái, thì những Sa-môn, Bà-la-môn nào tham lam, có lòng tham mãnh liệt trong các dục, sẽ được ngài tôn kính, sẽ được ngài tán thán. Nếu ngài chỉ trích pháp cú không sân hận, thì những Sa-môn, Bà-la-môn nào có tâm sân hận, có ý định ác độc, sẽ được ngài tôn kính, sẽ được ngài tán thán. Nếu ngài chỉ trích pháp cú chánh niệm, thì những Sa-môn, Bà-la-môn nào thất niệm, không tỉnh giác, sẽ được ngài tôn kính, sẽ được ngài tán thán. Nếu ngài chỉ trích pháp cú chánh định, thì những Sa-môn, Bà-la-môn nào không định tĩnh, tâm tán loạn, sẽ được ngài tôn kính, sẽ được ngài tán thán.”
Yepi te, paribbājakā, ahesuṁ ukkalā vassabhaññā ahetukavādā akiriyavādā natthikavādā, tepi imāni cattāri dhammapadāni na garahitabbaṁ na paṭikkositabbaṁ amaññiṁsu. Taṁ kissa hetu? Nindābyārosanaupārambhabhayāti.
Even those who were loud and bold advocates of the doctrines of no-cause, inaction, and nihilism didn’t imagine that these four footprints of the Dhamma should be criticized or rejected. Why is that? For fear of being blamed, provoked, and faulted.
“Này các du sĩ, người nào cho rằng bốn pháp cú này là đáng bị chỉ trích, đáng bị bác bỏ, thì đối với người ấy, ngay trong hiện tại, có bốn luận điểm hợp pháp đưa đến chỗ đáng bị khiển trách sẽ xảy ra. Này các du sĩ, ngay cả những người thuộc xứ Ukkalā, Vassa và Bhañña, những người theo thuyết vô nhân, thuyết vô tác, thuyết đoạn diệt, họ cũng không cho rằng bốn pháp cú này là đáng bị chỉ trích, đáng bị bác bỏ. Vì lý do gì? Vì sợ bị khiển trách, bị công kích, bị chỉ trích.”
Abyāpanno sadā sato, ajjhattaṁ susamāhito; Abhijjhāvinaye sikkhaṁ, appamattoti vuccatī”ti.
Dasamaṁ.
One who has good will, ever mindful, serene within, training to remove desire, is called ‘a diligent one’.”
“Không sân hận, luôn chánh niệm, nội tâm khéo định tĩnh; thực hành để điều phục tham ái, người như vậy được gọi là không phóng dật.” (Kinh thứ mười).
Uruvelavaggo tatiyo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Uruvelā, thứ ba.
Dve uruvelā loko kāḷako, Brahmacariyena pañcamaṁ; Kuhaṁ santuṭṭhi vaṁso ca, Dhammapadaṁ paribbājakena cāti.
Hai kinh Uruvelā, Loka, Kāḷaka, kinh thứ năm là Brahmacariya; Kuha, Santuṭṭhi, và Vaṃsa, Dhammapada, và Paribbājaka.