- Aṅguttara Nikāya 4.3
- 1. Bhaṇḍagāmavagga
Bản dịch
AN 4.3 — Mất Gốc (1)
Paṭhamakhatasutta
—Tán thán, không tán thán, tín nhiệm, không tín nhiệm.
TTC 1Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu, không thông minh, không phải bậc Chân nhân, tự mình xử sự như môt kẻ mất gốc, bị thương tích, phạm tội, bị kẻ trí quở trách, và tạo nên nhiều điều vô phước. Thế nào là bốn?
Không có suy xét, không có cứu xét, tán thán người không đáng tán thán; Không có suy xét, không có cứu xét, không tán thán người đáng tán thán; Không có suy xét, không có cứu xét, tỏ bày sự tín nhiệm ở những chỗ không đáng tín nhiệm; Không có suy xét, không có cứu xét, bất tín nhiệm tại những chỗ đáng tín nhiệm.
Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu, không thông minh, không phải bậc Chân nhân, tự mình xử sự như môt kẻ mất gốc, bị thương tích, phạm tội, bị kẻ trí quở trách, và tạo nên nhiều điều vô phước.
TTC 2Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, bậc Hiền trí, thông minh, là bậc Chân nhân, tự mình xử sự như môt người không mất gốc, không bị thương tích, không phạm tội, không bị kẻ trí quở trách, và tạo nên nhiều điều phước đức. Thế nào là bốn?
Sau khi suy xét, sau khi cứu xét, không tán thán những người không đáng được tán thán; Sau khi suy xét, sau khi cứu xét, tán thán những người đáng được tán thán; Sau khi suy xét, sau khi cứu xét, tỏ bày sự tín nhiệm ở những chỗ đáng tín nhiệm; sau khi suy xét, sau khi cứu xét, tỏ bày sự tín nhiệm tại những chỗ đáng tín nhiệm. Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, bậc Hiền trí, thông minh, là bậc Chân nhân, tự mình xử sự như một người không mất gốc, không bị thương tích, không phạm tội, không bị kẻ trí quở trách, và tạo nên nhiều phước đức.
Ai khen người đáng chê
Ai chê người đáng khen
Kẻ ấy với miệng lưỡi
Chứa chấp điều bất hạnh
Do vì bất hạnh ấy
Không tìm được an lạc
Nhỏ nhen không đáng kể
Là loại bất hạnh này
Bất hạnh do cờ bạc
Phá hoại các tài sản
Lớn hơn, lớn hơn nhiều
Là loại bất hạnh này
Cho tất cả mọi người
Và cả với riêng mình
Những ai với ác ý
Ðối với bậc Thiện thệ
Trải qua một trăm ngàn
Thời Nirabbudà
Và cộng ba mươi sáu
Với năm Abbudà
Bị sanh vào địa ngục
Trong suốt thời gian ấy
Nếu mắng nhiếc bậc Thánh
Với lời, ý, nguyện ác.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 4.3
- 1. At Wares Village
Broken (1st)
3. Kinh Bị Tổn Hại (1)
“Catūhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bālo abyatto asappuriso khataṁ upahataṁ attānaṁ pariharati, sāvajjo ca hoti sānuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca apuññaṁ pasavati. Katamehi catūhi?
“When a foolish, incompetent untrue person has four qualities they keep themselves broken and damaged. They deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they brim with much wickedness. What four?
Này các Tỳ khưu, người thành tựu bốn pháp được gọi là 'người không sa đọa khỏi Pháp và Luật này'. Bốn pháp nào? Này các Tỳ khưu, người thành tựu Thánh giới được gọi là 'người không sa đọa khỏi Pháp và Luật này'. Này các Tỳ khưu, người thành tựu Thánh định được gọi là 'người không sa đọa khỏi Pháp và Luật này'. Này các Tỳ khưu, người thành tựu Thánh tuệ được gọi là 'người không sa đọa khỏi Pháp và Luật này'. Này các Tỳ khưu, người thành tựu Thánh giải thoát được gọi là 'người không sa đọa khỏi Pháp và Luật này'. Này các Tỳ khưu, chính vì thành tựu bốn pháp này mà một người được gọi là 'người không sa đọa khỏi Pháp và Luật này'.
Catūhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato paṇḍito viyatto sappuriso akkhataṁ anupahataṁ attānaṁ pariharati, anavajjo ca hoti ananuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca puññaṁ pasavati. Katamehi catūhi?
When an astute, competent true person has four qualities they keep themselves intact and unscathed. They don’t deserve to be blamed and criticized by sensible people, and they brim with much merit. What four?
3. Này các Tỳ khưu, người ngu, không khéo léo, không phải bậc chân nhân, khi thành tựu bốn pháp, tự mang theo mình một thân tâm bị tổn hại, bị hủy hoại. Người ấy đáng bị khiển trách, bị người trí chê bai, và tạo ra nhiều điều bất thiện. Bốn pháp nào? Không điều tra, không xem xét, người ấy tán thán người không đáng tán thán. Không điều tra, không xem xét, người ấy chê bai người đáng tán thán. Không điều tra, không xem xét, người ấy thể hiện sự tín nhiệm ở nơi không đáng tín nhiệm. Không điều tra, không xem xét, người ấy thể hiện sự không tín nhiệm ở nơi đáng tín nhiệm. Này các Tỳ khưu, chính vì thành tựu bốn pháp này mà người ngu, không khéo léo, không phải bậc chân nhân, tự mang theo mình một thân tâm bị tổn hại, bị hủy hoại. Người ấy đáng bị khiển trách, bị người trí chê bai, và tạo ra nhiều điều bất thiện.
Này các Tỳ khưu, bậc hiền trí, khéo léo, bậc chân nhân, khi thành tựu bốn pháp, tự mang theo mình một thân tâm không bị tổn hại, không bị hủy hoại. Người ấy không đáng bị khiển trách, không bị người trí chê bai, và tạo ra nhiều điều thiện. Bốn pháp nào? Sau khi điều tra, sau khi xem xét, người ấy chê bai người không đáng tán thán. Sau khi điều tra, sau khi xem xét, người ấy tán thán người đáng tán thán. Sau khi điều tra, sau khi xem xét, người ấy thể hiện sự không tín nhiệm ở nơi không đáng tín nhiệm. Sau khi điều tra, sau khi xem xét, người ấy thể hiện sự tín nhiệm ở nơi đáng tín nhiệm. Này các Tỳ khưu, chính vì thành tựu bốn pháp này mà bậc hiền trí, khéo léo, bậc chân nhân, tự mang theo mình một thân tâm không bị tổn hại, không bị hủy hoại. Người ấy không đáng bị khiển trách, không bị người trí chê bai, và tạo ra nhiều điều thiện.
Yo nindiyaṁ pasaṁsati, Taṁ vā nindati yo pasaṁsiyo; Vicināti mukhena so kaliṁ, Kalinā tena sukhaṁ na vindati.
When you praise someone worthy of criticism, or criticize someone worthy of praise, you choose a losing hand with your own mouth: you’ll never find happiness that way.
Người tán thán kẻ đáng chê, hay chê bai người đáng tán thán, người ấy gieo rắc tai họa bằng miệng, và vì tai họa ấy, người ấy không tìm thấy hạnh phúc.
Appamatto ayaṁ kali, Yo akkhesu dhanaparājayo; Sabbassāpi sahāpi attanā, Ayameva mahantataro kali; Yo sugatesu manaṁ padosaye.
A losing hand at dice is a trivial thing, if all you lose is your money and all you own, even yourself. What’s a really terrible hand is to hate the holy ones.
Sự thua thiệt về tài sản trong trò xúc xắc, cùng với cả bản thân, là một lỗi nhỏ. Chính lỗi này mới lớn hơn nhiều: Khi người nào khởi tâm sân hận đối với các bậc Thiện Thệ.
Sataṁ sahassānaṁ nirabbudānaṁ, Chattiṁsatī pañca ca abbudāni; Yamariyagarahī nirayaṁ upeti, Vācaṁ manañca paṇidhāya pāpakan”ti.
Tatiyaṁ.
For a hundred thousand times a hundred million, times five hundred and thirty-six times <j>a thousand times ten million years a slanderer of noble ones goes to hell, having aimed bad words and thoughts at them.”
Người phỉ báng bậc Thánh, do hướng đến việc ác bằng lời nói và ý nghĩ, sẽ sanh vào địa ngục, (chịu khổ) một trăm ngàn địa ngục Nirabbuda, ba mươi sáu và năm địa ngục Abbuda.