- Aṅguttara Nikāya 4.245
- 25. Āpattibhayavagga
Bản dịch
AN 4.245 — Lợi ích Học Tập
Sikkhānisaṁsasutta
TTC 1—Phạm hạnh này được sống, được lợi ích trong học tập, được trí tuệ vô thượng, được giải thoát kiên cố, được niệm tăng thượng.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là lợi ích học tập?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, các học pháp thắng hạnh được Ta đặt cho các đệ tử, để những ai ít lòng tin phát khởi lòng tin. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, các học pháp thắng hạnh được Ta chế đặt cho các đệ tử, để những ai ít lòng tin phát khởi lòng tin, để những ai có lòng tin, được tăng trưởng lòng tin. Do vậy, một đệ tử sau khi chấp nhận và học tập trong các học pháp, đối với học pháp ấy là người sở hành không bị bể vụn, sở hành không cắt xén, sở hành không bị vết nhơ, sở hành không bị chấm đen.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các học pháp sở hành Phạm hạnh được Ta đặt cho các đệ tử, để chơn chánh đoạn diệt đau khổ một cách hoàn toàn. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, các học pháp sở hành Phạm hạnh được Ta chế đặt cho các đệ tử, để chơn chánh đoạn diệt đau khổ một cách hoàn toàn. Do vậy, một đệ tử sau khi chấp nhận và học tập trong các học pháp, đối với học pháp ấy là người sở hành không bị bể vụn, sở hành không cắt xén, sở hành không bị vết nhơ, sở hành không bị chấm đen. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là lợi ích của học tập.
TTC 2Và này các Tỷ-kheo, thế nào là trí tuệ vô thượng?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, các pháp Ta thuyết giảng cho các đệ tử để chơn chánh đoạn diệt đau khổ một cách hoàn toàn. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, các pháp Ta thuyết giảng cho các đệ tử để chơn chánh đoạn diệt đau khổ một cách hoàn toàn. Do vậy các pháp ấy được trí tuệ quán sát một cách đồng đẳng.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là trí tuệ vô thượng.
TTC 3Và này các Tỷ-kheo, thế nào là giải thoát kiên cố?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, các pháp được Ta thuyết giảng cho các đệ tử để chơn chánh đoạn diệt đau khổ một cách hoàn toàn. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, các pháp được Ta thuyết giảng cho các đệ tử để chơn chánh đoạn diệt đau khổ một cách hoàn toàn. Do vậy các pháp ấy được khéo cảm xúc với giải thoát. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là giải thoát kiên cố.
TTC 4Và này các Tỷ-kheo, thế nào là niệm tăng thượng?
Với tư tưởng: “Ta sẽ là viên mãn học pháp thắng hạnh chưa được đầy đủ; hay nếu học pháp thắng hạnh chưa được đầy đủ, Ta sẽ bổ sung thêm chỗ này chỗ kia với trí tuệ”. Do vậy, niệm nội tâm được khéo an trú với tư tưởng: “Ta sẽ là viên mãn học pháp sở hành Phạm hạnh chưa được đầy đủ; hay nếu học pháp sở hành Phạm hạnh được đầy đủ, ta sẽ bổ sung thêm chỗ này chỗ kia với trí tuệ”. Do vậy, niệm nội tâm được khéo an trú. Với tư tưởng: “Ta sẽ quán sát đồng đẳng với trí tuệ pháp chưa được đồng đẳng quán sát; hay nếu pháp đã được đồng đẳng quán sát, ta sẽ bổ sung thêm chỗ này chỗ kia với trí tuệ”. Do vậy, niệm nội tâm được khéo an trú. Với tư tưởng: “Ta sẽ cảm xúc với giải thoát, pháp chưa được cảm xúc; hay nếu pháp đã được cảm xúc, ta sẽ bổ sung thêm chỗ này chỗ kia với trí tuệ. Do vậy, niệm nội tâm được khéo an trú”. Như vậy này các Tỷ-kheo, là niệm tăng thượng.
Phạm hạnh này được sống, này các Tỷ-kheo, để được lợi ích trong học tập, được trí tuệ vô thượng, được giải thoát kiên cố, được niệm tăng thượng. Như vậy được nói đến, do duyên này được nói đến như vậy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 4.245
- 25. Perils of Offenses
The Benefits of Training
3. Kinh Lợi Ích Của Học Giới
“Sikkhānisaṁsamidaṁ, bhikkhave, brahmacariyaṁ vussati paññuttaraṁ vimuttisāraṁ satādhipateyyaṁ.
Kathañca, bhikkhave, sikkhānisaṁsaṁ hoti? Idha, bhikkhave, mayā sāvakānaṁ ābhisamācārikā sikkhā paññattā appasannānaṁ pasādāya pasannānaṁ bhiyyobhāvāya. Yathā yathā, bhikkhave, mayā sāvakānaṁ ābhisamācārikā sikkhā paññattā appasannānaṁ pasādāya pasannānaṁ bhiyyobhāvāya tathā tathā so tassā sikkhāya akhaṇḍakārī hoti acchiddakārī asabalakārī akammāsakārī, samādāya sikkhati sikkhāpadesu.
“Mendicants, this spiritual life is lived with training as its benefit, with wisdom as its overseer, with freedom as its core, and with mindfulness as its ruler.
And how is training its benefit? Firstly, I laid down for my disciples the training that deals with supplementary regulations in order to inspire confidence in those without it and to increase confidence in those who have it. They undertake whatever supplementary regulations I have laid down, keeping them intact, impeccable, spotless, and unmarred.
245. “Này các Tỳ khưu, phạm hạnh này được sống với lợi ích là học giới, với trí tuệ là vượt trội, với giải thoát là cốt lõi, với niệm là chủ đạo. Và này các Tỳ khưu, thế nào là có lợi ích là học giới? Này các Tỳ khưu, ở đây, Ta đã chế định học giới thuộc về oai nghi cao thượng cho các đệ tử, để làm cho những người chưa có đức tin được có đức tin, để làm cho những người đã có đức tin được tăng trưởng hơn nữa. Này các Tỳ khưu, tùy theo cách mà Ta đã chế định học giới thuộc về oai nghi cao thượng cho các đệ tử, để làm cho những người chưa có đức tin được có đức tin, để làm cho những người đã có đức tin được tăng trưởng hơn nữa, thì theo cách đó, vị ấy là người thực hành học giới ấy một cách không bị sứt mẻ, không bị thủng, không bị lốm đốm, không bị vằn vện; vị ấy thọ trì và thực hành trong các điều học.
Puna caparaṁ, bhikkhave, mayā sāvakānaṁ ādibrahmacariyikā sikkhā paññattā sabbaso sammā dukkhakkhayāya. Yathā yathā, bhikkhave, mayā sāvakānaṁ ādibrahmacariyikā sikkhā paññattā sabbaso sammā dukkhakkhayāya tathā tathā so tassā sikkhāya akhaṇḍakārī hoti acchiddakārī asabalakārī akammāsakārī, samādāya sikkhati sikkhāpadesu. Evaṁ kho, bhikkhave, sikkhānisaṁsaṁ hoti.
Furthermore, I laid down for my disciples the training that deals with the fundamentals of the spiritual life in order to rightly end suffering in every way. They undertake whatever training that deals with the fundamentals of the spiritual life I have laid down, keeping it intact, impeccable, spotless, and unmarred. That’s how training is its benefit.
“Lại nữa, này các Tỳ khưu, Ta đã chế định học giới thuộc về khởi đầu của phạm hạnh cho các đệ tử, để hoàn toàn và chân chánh đoạn tận khổ đau. Này các Tỳ khưu, tùy theo cách mà Ta đã chế định học giới thuộc về khởi đầu của phạm hạnh cho các đệ tử, để hoàn toàn và chân chánh đoạn tận khổ đau, thì theo cách đó, vị ấy là người thực hành học giới ấy một cách không bị sứt mẻ, không bị thủng, không bị lốm đốm, không bị vằn vện; vị ấy thọ trì và thực hành trong các điều học. Này các Tỳ khưu, như vậy là có lợi ích là học giới.
Kathañca, bhikkhave, paññuttaraṁ hoti? Idha, bhikkhave, mayā sāvakānaṁ dhammā desitā sabbaso sammā dukkhakkhayāya. Yathā yathā, bhikkhave, mayā sāvakānaṁ dhammā desitā sabbaso sammā dukkhakkhayāya tathā tathāssa te dhammā paññāya samavekkhitā honti. Evaṁ kho, bhikkhave, paññuttaraṁ hoti.
And how is wisdom its overseer? I taught the Dhamma to my disciples in order to rightly end suffering in every way. They examine with wisdom any teachings I taught them. That’s how wisdom is its overseer.
“Và này các Tỳ khưu, thế nào là có trí tuệ là vượt trội? Này các Tỳ khưu, ở đây, các pháp đã được Ta thuyết giảng cho các đệ tử, để hoàn toàn và chân chánh đoạn tận khổ đau. Này các Tỳ khưu, tùy theo cách mà các pháp đã được Ta thuyết giảng cho các đệ tử, để hoàn toàn và chân chánh đoạn tận khổ đau, thì theo cách đó, các pháp ấy được vị ấy quán xét kỹ lưỡng bằng trí tuệ. Này các Tỳ khưu, như vậy là có trí tuệ là vượt trội.
Kathañca, bhikkhave, vimuttisāraṁ hoti? Idha, bhikkhave, mayā sāvakānaṁ dhammā desitā sabbaso sammā dukkhakkhayāya. Yathā yathā, bhikkhave, mayā sāvakānaṁ dhammā desitā sabbaso sammā dukkhakkhayāya tathā tathāssa te dhammā vimuttiyā phusitā honti. Evaṁ kho, bhikkhave, vimuttisāraṁ hoti.
And how is freedom its core? I taught the Dhamma to my disciples in order to rightly end suffering in every way. They experience through freedom any teachings I taught them. That’s how freedom is its core.
Này các Tỳ khưu, thế nào là có giải thoát làm cốt lõi? Này các Tỳ khưu, ở đây, Ta đã thuyết giảng các pháp cho các đệ tử một cách toàn diện, một cách chân chánh để đoạn tận khổ đau. Này các Tỳ khưu, tùy theo cách thức mà Ta đã thuyết giảng các pháp cho các đệ tử một cách toàn diện, một cách chân chánh để đoạn tận khổ đau, thì tùy theo cách thức ấy, các pháp ấy được vị ấy chứng ngộ bằng sự giải thoát. Này các Tỳ khưu, chính là như vậy có giải thoát làm cốt lõi.
Kathañca, bhikkhave, satādhipateyyaṁ hoti? ‘Iti aparipūraṁ vā ābhisamācārikaṁ sikkhaṁ paripūressāmi, paripūraṁ vā ābhisamācārikaṁ sikkhaṁ tattha tattha paññāya anuggahessāmī’ti—ajjhattaṁyeva sati sūpaṭṭhitā hoti. ‘Iti aparipūraṁ vā ādibrahmacariyikaṁ sikkhaṁ paripūressāmi, paripūraṁ vā ādibrahmacariyikaṁ sikkhaṁ tattha tattha paññāya anuggahessāmī’ti—ajjhattaṁyeva sati sūpaṭṭhitā hoti. ‘Iti asamavekkhitaṁ vā dhammaṁ paññāya samavekkhissāmi, samavekkhitaṁ vā dhammaṁ tattha tattha paññāya anuggahessāmī’ti—ajjhattaṁyeva sati sūpaṭṭhitā hoti. ‘Iti aphusitaṁ vā dhammaṁ vimuttiyā phusissāmi, phusitaṁ vā dhammaṁ tattha tattha paññāya anuggahessāmī’ti—ajjhattaṁyeva sati sūpaṭṭhitā hoti. Evaṁ kho, bhikkhave, satādhipateyyaṁ hoti.
‘Sikkhānisaṁsamidaṁ, bhikkhave, brahmacariyaṁ vussati paññuttaraṁ vimuttisāraṁ satādhipateyyan’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttan”ti.
Tatiyaṁ.
And how is mindfulness its ruler? Mindfulness is well established in oneself: ‘In this way I’ll fulfill the training dealing with supplementary regulations, or support with wisdom in every situation the training dealing with supplementary regulations I’ve already fulfilled.’ Mindfulness is well established in oneself: ‘In this way I’ll fulfill the training dealing with the fundamentals of the spiritual life, or support with wisdom in every situation the training dealing with the fundamentals of the spiritual life I’ve already fulfilled.’ Mindfulness is well established in oneself: ‘In this way I’ll examine with wisdom the teaching that I haven’t yet examined, or support with wisdom in every situation the teaching I’ve already examined.’ Mindfulness is well established in oneself: ‘In this way I’ll experience through freedom the teaching that I haven’t yet experienced, or support with wisdom in every situation the teaching I’ve already experienced.’ That’s how mindfulness is its ruler.
‘This spiritual life is lived with training as its benefit, with wisdom as its overseer, with freedom as its core, and with mindfulness as its ruler.’ That’s what I said, and this is why I said it.”
Này các Tỳ khưu, thế nào là có chánh niệm làm chủ? ‘Như vậy, ta sẽ làm cho viên mãn học giới về các oai nghi tốt đẹp chưa được viên mãn, hoặc sẽ hỗ trợ bằng trí tuệ ở chỗ này chỗ kia đối với học giới về các oai nghi tốt đẹp đã được viên mãn’ – chánh niệm được thiết lập vững chắc ở nội tâm. ‘Như vậy, ta sẽ làm cho viên mãn học giới căn bản của phạm hạnh chưa được viên mãn, hoặc sẽ hỗ trợ bằng trí tuệ ở chỗ này chỗ kia đối với học giới căn bản của phạm hạnh đã được viên mãn’ – chánh niệm được thiết lập vững chắc ở nội tâm. ‘Như vậy, ta sẽ thẩm xét bằng trí tuệ đối với pháp chưa được thẩm xét, hoặc sẽ hỗ trợ bằng trí tuệ ở chỗ này chỗ kia đối với pháp đã được thẩm xét’ – chánh niệm được thiết lập vững chắc ở nội tâm. ‘Như vậy, ta sẽ chứng ngộ bằng sự giải thoát đối với pháp chưa được chứng ngộ, hoặc sẽ hỗ trợ bằng trí tuệ ở chỗ này chỗ kia đối với pháp đã được chứng ngộ’ – chánh niệm được thiết lập vững chắc ở nội tâm. Này các Tỳ khưu, chính là như vậy có chánh niệm làm chủ. Này các Tỳ khưu, ‘Phạm hạnh này được sống với lợi ích là học giới, với trí tuệ làm trội hơn, với giải thoát làm cốt lõi, với chánh niệm làm chủ,’ điều đã được nói như vậy là do duyên vào điều này mà được nói. Hết bài kinh thứ ba.