- Aṅguttara Nikāya 4.244
- 25. Āpattibhayavagga
Bản dịch
AN 4.244 — Phạm Tội (2)
Āpattibhayasutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có bốn sợ hãi phạm tội này. Thế nào là bốn?
TTC 2Ví như, này các Tỷ-kheo, người ta bắt được một người ăn trộm, một người phạm tội, dắt đến cho nhà vua và thưa: “Thưa Ðại vương, đây là người ăn trộm, đây là người phạm tội. Ðại vương hãy gia phạt người ấy theo hình phạt nào Ðại vương muốn”. Vua ấy nói như sau: “Các ông hãy đem người này, lấy dây thật chắc trói cánh tay người này thật chặt lại về phía sau. Cạo đầu người ấy đi, dắt người ấy đi xung quanh với một cái trống, có tiếng chát tai, đi từ đường này đến đường khác, từ ngã ba này đến ngã ba khác, dắt người ấy ra khỏi cửa thành phía Nam, và hãy chặt đầu người ấy tại thành phía Nam”. Những người của vua, lấy dây thật chắc trói cánh tay nó thật chặt lại về phía sau, cạo trọc đầu, dắt nó đi xung quanh với một cái trống, có tiếng chát tai, đi từ đường này đến đường khác, từ ngã ba này đến ngã ba khác, dắt người ấy ra khỏi cửa thành phía Nam, và hãy chặt đầu người ấy tại thành phía Nam. Tại đấy, có một người đứng một bên suy nghĩ như sau: “Thật sự người này đã làm một điều ác đáng bị quở trách, đáng bị chém đầu. Vì rằng những người của vua lấy dây thật chắc trói cánh tay nó thật chặt lại về phía sau, cạo trọc đầu, dắt nó đi xung quanh với một cái trống, có tiếng chát tai, đi từ đường này đến đường khác, từ ngã ba này đến ngã ba khác, dắt người ấy ra khỏi cửa thành phía Nam, và hãy chặt đầu người ấy tại thành phía Nam. Chắc chắn ta chớ có làm nghiệp ác như vậy, đáng bị quở trách, đáng bị chém đầu”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với các Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào, các tưởng sợ hãi sắc bén như vậy, được an trú, thời trong những pháp, tội ba-la-di được chờ đợi như sau về vị ấy: Nếu không phạm tội, thời không rơi vào tội ba-la-di; nếu đã phạm tội, thời sẽ như pháp sám hối pháp ba-la-di.
TTC 3Ví như, này các Tỷ-kheo, có người mang áo vải đen, xả bối tóc xuống, mang trên vai một cái hèo và đi đến trước đại chúng và nói như sau: “Thưa quý vị, tôi đã làm một nghiệp ác đáng bị quở trách, đáng bị đánh hèo. Do vậy tôi xin đặt mình theo sở thích của quý vị”. Rồi một người đứng một bên suy nghĩ như sau: “Thật sự, người này đã làm một điều ác đáng bị quở trách, đáng bị đánh hèo. Vì rằng, người ấy đã mang áo vải đen, xả bối tóc xuống, mang trên vai một cái hèo và đi đến trước đại chúng và nói như sau: “Thưa quý vị, tôi đã làm một nghiệp ác đáng bị quở trách, đáng bị đánh hèo. Do vậy tôi xin đặt mình theo sở thích của quý vị”. Vậy chắc chắn ta chớ có làm nghiệp ác như vậy, đáng bị quở trách, đáng bị đánh hèo”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với các Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào, các tưởng sợ hãi sắc bén như vậy, được an trú, thời trong những pháp tăng tàn, được chờ đợi như sau về vị ấy: “Nếu không phạm tội thời sẽ không rơi vào tội tăng tàn. Nếu đã phạm tội thời sẽ như pháp phát lộ tội tăng tàn”.
TTC 4Ví như, này các Tỷ-kheo, có người mang áo vải đen, xả bối tóc xuống, mang theo trên vai một bị đồ ăn và đi đến trước đại chúng và nói như sau: “Thưa quý vị, tôi đã làm một nghiệp ác đáng bị quở trách, đáng bị hình phạt. Do vậy tôi xin đặt mình theo sở thích của quý vị”. Rồi một người đứng một bên suy nghĩ như sau: “Thật sự, người này đã làm một điều ác đáng bị quở trách, đáng bị hình phạt. Vì rằng người ấy đã mang áo vải đen, xả bối tóc xuống, mang theo trên vai một bị đồ ăn và đi đến trước đại chúng và nói như sau: “Thưa quý vị, tôi đã làm một nghiệp ác đáng bị quở trách, đáng bị hình phạt. Do vậy tôi xin đặt mình theo sở thích của quý vị”. Vậy chắc chắn ta chớ có làm nghiệp ác như vậy, đáng bị quở trách, đáng bị hình phạt”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với các Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào, các tưởng sợ hãi sắc bén như vậy, được an trú, thời trong những pháp pàcittiyà ba-dật-đề, được chờ đợi như sau về vị ấy: “Nếu không phạm tội thời sẽ không rơi vào tội pàcittiyà. Nếu phạm tội thời sẽ như pháp phát lộ tội pàcittiyà”.
TTC 5Ví như, này các Tỷ-kheo, có người mang áo vải đen, xả bối tóc xuống, đi đến trước đại chúng và nói như sau: “Thưa quý vị, tôi đã làm một nghiệp ác đáng bị quở trách, đáng bị phê bình. Do vậy tôi xin đặt mình theo sở thích của quý vị”. Rồi một người đứng một bên suy nghĩ như sau: “Thật sự, người này đã làm một điều ác đáng bị quở trách, đáng bị phê bình. Vì rằng người này mang áo vải đen, xả bối tóc xuống, đi đến trước đại chúng và nói như sau: “Thưa quý vị, tôi đã làm một nghiệp ác đáng bị quở trách, đáng bị phê bình. Do vậy tôi xin đặt mình theo sở thích của quý vị”. Vậy chắc chắn ta chớ có làm nghiệp ác như vậy, đáng bị quở trách, đáng bị phê bình”. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với các Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào, các tưởng sợ hãi sắc bén như vậy, được an trú, thời trong những pháp pàtidesaniya (cần phải phát lộ) được chờ đợi như sau: Nếu không phạm tội thời sẽ không rơi vào phạm tội pàtidesaniya. Nếu phạm tội thời sẽ như pháp sám hối, pháp pàtidesaniya.
Này các Tỷ-kheo, có bốn sợ hãi phạm tội này.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 4.244
- 25. Perils of Offenses
Perils of Offenses
2. Kinh Về Sự Nguy Hiểm Của Tội Lỗi
“Cattārimāni, bhikkhave, āpattibhayāni. Katamāni cattāri?
Seyyathāpi, bhikkhave, coraṁ āgucāriṁ gahetvā rañño dasseyyuṁ: ‘ayaṁ te, deva, coro āgucārī. Imassa devo daṇḍaṁ paṇetū’ti. Tamenaṁ rājā evaṁ vadeyya: ‘gacchatha, bho, imaṁ purisaṁ daḷhāya rajjuyā pacchābāhaṁ gāḷhabandhanaṁ bandhitvā khuramuṇḍaṁ karitvā kharassarena paṇavena rathikāya rathikaṁ siṅghāṭakena siṅghāṭakaṁ parinetvā dakkhiṇena dvārena nikkhāmetvā dakkhiṇato nagarassa sīsaṁ chindathā’ti. Tamenaṁ rañño purisā daḷhāya rajjuyā pacchābāhaṁ gāḷhabandhanaṁ bandhitvā khuramuṇḍaṁ karitvā kharassarena paṇavena rathikāya rathikaṁ siṅghāṭakena siṅghāṭakaṁ parinetvā dakkhiṇena dvārena nikkhāmetvā dakkhiṇato nagarassa sīsaṁ chindeyyuṁ. Tatraññatarassa thalaṭṭhassa purisassa evamassa: ‘pāpakaṁ vata, bho, ayaṁ puriso kammaṁ akāsi gārayhaṁ sīsacchejjaṁ. Yatra hi nāma rañño purisā daḷhāya rajjuyā pacchābāhaṁ gāḷhabandhanaṁ bandhitvā khuramuṇḍaṁ karitvā kharassarena paṇavena rathikāya rathikaṁ siṅghāṭakena siṅghāṭakaṁ parinetvā dakkhiṇena dvārena nikkhāmetvā dakkhiṇato nagarassa sīsaṁ chindissanti. So vatassāhaṁ evarūpaṁ pāpakammaṁ na kareyyaṁ gārayhaṁ sīsacchejjan’ti. Evamevaṁ kho, bhikkhave, yassa kassaci bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā evaṁ tibbā bhayasaññā paccupaṭṭhitā hoti pārājikesu dhammesu.
“Mendicants, there are these four perils of offenses. What four?
Suppose they were to arrest a bandit, a criminal and present him to the king, saying: ‘Your Majesty, this is a bandit, a criminal. May Your Majesty punish them!’ The king would say: ‘Go, my men, and tie this man’s arms tightly behind his back with a strong rope. Shave his head and march him from street to street and square to square to the beating of a harsh drum. Then take him out the south gate and there, to the south of the city, chop off his head.’ The king’s men would do as they were told. Then a bystander might think: ‘This man must have done a truly bad and reprehensible deed, a capital offense. There’s no way I’d ever do such a bad and reprehensible deed, a capital offense.’ In the same way, take any monk or nun who has set up such an acute perception of peril regarding expulsion offenses.
244. Này các tỳ khưu, có bốn sự nguy hiểm của tội lỗi này. Bốn điều ấy là gì? Này các tỳ khưu, ví như khi bắt được tên trộm phạm tội, người ta dẫn đến trình vua rằng: ‘Tâu đại vương, đây là tên trộm phạm tội của ngài. Xin đại vương hãy trừng phạt kẻ này.’ Vị vua ấy có thể nói như sau: ‘Này các khanh, hãy đi, trói giật cánh khuỷu người này bằng dây thừng chắc chắn, cạo trọc đầu, rồi vừa đánh trống tiếng khàn đục vừa dẫn đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này sang ngã tư khác, sau đó đưa ra khỏi cổng phía nam rồi chặt đầu ở phía nam thành phố.’ Người của vua liền trói giật cánh khuỷu kẻ ấy bằng dây thừng chắc chắn, cạo trọc đầu, rồi vừa đánh trống tiếng khàn đục vừa dẫn đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này sang ngã tư khác, sau đó đưa ra khỏi cổng phía nam rồi chặt đầu ở phía nam thành phố. Bấy giờ, một người đàn ông đang đứng trên đất bằng có thể suy nghĩ như sau: ‘Ôi, người này đã làm một việc ác đáng bị chê trách, đáng bị chặt đầu. Vì thế mà người của vua đã trói giật cánh khuỷu kẻ ấy bằng dây thừng chắc chắn, cạo trọc đầu, rồi vừa đánh trống tiếng khàn đục vừa dẫn đi từ đường này sang đường khác, từ ngã tư này sang ngã tư khác, sau đó đưa ra khỏi cổng phía nam rồi chặt đầu ở phía nam thành phố! Mong rằng ta sẽ không làm một việc ác như vậy, đáng bị chê trách, đáng bị chặt đầu.’ Này các tỳ khưu, cũng tương tự như thế, đối với bất kỳ tỳ khưu hay tỳ khưu ni nào mà tưởng về sự nguy hiểm đối với các pháp pārājika được thiết lập một cách mãnh liệt, điều này có thể được trông đợi nơi vị ấy: Nếu chưa phạm vào pháp pārājika thì sẽ không phạm phải; hoặc nếu đã phạm vào pháp pārājika thì sẽ sửa trị đúng theo Pháp.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso kāḷavatthaṁ paridhāya kese pakiritvā musalaṁ khandhe āropetvā mahājanakāyaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadeyya: ‘ahaṁ, bhante, pāpakammaṁ akāsiṁ gārayhaṁ mosallaṁ, yena me āyasmanto attamanā honti taṁ karomī’ti. Tatraññatarassa thalaṭṭhassa purisassa evamassa: ‘pāpakaṁ vata, bho, ayaṁ puriso kammaṁ akāsi gārayhaṁ mosallaṁ. Yatra hi nāma kāḷavatthaṁ paridhāya kese pakiritvā musalaṁ khandhe āropetvā mahājanakāyaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vakkhati: “ahaṁ, bhante, pāpakammaṁ akāsiṁ gārayhaṁ mosallaṁ, yena me āyasmanto attamanā honti taṁ karomī”ti. So vatassāhaṁ evarūpaṁ pāpakammaṁ na kareyyaṁ gārayhaṁ mosallan’ti. Evamevaṁ kho, bhikkhave, yassa kassaci bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā evaṁ tibbā bhayasaññā paccupaṭṭhitā hoti saṅghādisesesu dhammesu, tassetaṁ pāṭikaṅkhaṁ—anāpanno vā saṅghādisesaṁ dhammaṁ na āpajjissati, āpanno vā saṅghādisesaṁ dhammaṁ yathādhammaṁ paṭikarissati.
Suppose a man was to put on a black cloth, mess up his hair, and put a club on his shoulder. Then he approaches a large crowd and says: ‘Sirs, I’ve done a bad and reprehensible deed, deserving of clubbing. I submit to your pleasure.’ Then a bystander might think: ‘This man must have done a truly bad and reprehensible deed, deserving of clubbing. … There’s no way I’d ever do such a bad and reprehensible deed, deserving of clubbing.’ In the same way, take any monk or nun who has set up such an acute perception of peril regarding suspension offenses. It can be expected that if they haven’t committed a suspension offense they won’t, and if they committed one they will deal with it properly.
“Này các Tỳ khưu, ví như một người đàn ông mặc y phục đen, xõa tóc, vác chày trên vai, đi đến giữa đám đông và nói như vầy: ‘Thưa các ngài, tôi đã làm ác nghiệp đáng bị quở trách, đáng bị đánh bằng chày. Tôi sẽ làm điều gì khiến các ngài hài lòng.’ Khi ấy, một người đàn ông nào đó đứng tại chỗ có thể nghĩ như vầy: ‘Chư vị ơi, thật vậy, người đàn ông này đã làm ác nghiệp đáng bị quở trách, đáng bị đánh bằng chày. Bởi vì người ấy mặc y phục đen, xõa tóc, vác chày trên vai, đi đến giữa đám đông và sẽ nói như vầy: ‘Thưa các ngài, tôi đã làm ác nghiệp đáng bị quở trách, đáng bị đánh bằng chày. Tôi sẽ làm điều gì khiến các ngài hài lòng.’ Vậy thì, ta chắc chắn sẽ không làm ác nghiệp như thế, đáng bị quở trách, đáng bị đánh bằng chày.’ Này các Tỳ khưu, cũng vậy, đối với bất kỳ Tỳ khưu hay Tỳ khưu ni nào có tưởng về sự nguy hiểm mãnh liệt như vậy hiện khởi đối với các pháp Tăng tàn, điều này có thể được trông đợi nơi vị ấy: nếu chưa phạm tội Tăng tàn thì sẽ không phạm, nếu đã phạm tội Tăng tàn thì sẽ sám hối đúng như pháp.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso kāḷavatthaṁ paridhāya kese pakiritvā bhasmapuṭaṁ khandhe āropetvā mahājanakāyaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadeyya: ‘ahaṁ, bhante, pāpakammaṁ akāsiṁ gārayhaṁ bhasmapuṭaṁ. Yena me āyasmanto attamanā honti taṁ karomī’ti. Tatraññatarassa thalaṭṭhassa purisassa evamassa: ‘pāpakaṁ vata, bho, ayaṁ puriso kammaṁ akāsi gārayhaṁ bhasmapuṭaṁ. Yatra hi nāma kāḷavatthaṁ paridhāya kese pakiritvā bhasmapuṭaṁ khandhe āropetvā mahājanakāyaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vakkhati: “ahaṁ, bhante, pāpakammaṁ akāsiṁ gārayhaṁ bhasmapuṭaṁ; yena me āyasmanto attamanā honti taṁ karomī”ti. So vatassāhaṁ evarūpaṁ pāpakammaṁ na kareyyaṁ gārayhaṁ bhasmapuṭan’ti. Evamevaṁ kho, bhikkhave, yassa kassaci bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā evaṁ tibbā bhayasaññā paccupaṭṭhitā hoti pācittiyesu dhammesu, tassetaṁ pāṭikaṅkhaṁ—anāpanno vā pācittiyaṁ dhammaṁ na āpajjissati, āpanno vā pācittiyaṁ dhammaṁ yathādhammaṁ paṭikarissati.
Suppose a man was to put on a black cloth, mess up his hair, and put a sack of ashes on his shoulder. Then he approaches a large crowd and says: ‘Sirs, I’ve done a bad and reprehensible deed, deserving of a sack of ashes. I submit to your pleasure.’ Then a bystander might think: ‘This man must have done a truly bad and reprehensible deed, deserving of a sack of ashes. … There’s no way I’d ever do such a bad and reprehensible deed, deserving of a sack of ashes.’ In the same way, take any monk or nun who has set up such an acute perception of peril regarding confessable offenses. It can be expected that if they haven’t committed a confessable offense they won’t, and if they committed one they will deal with it properly.
“Này các Tỳ khưu, ví như một người đàn ông mặc y phục đen, xõa tóc, vác gói tro trên vai, đi đến giữa đám đông và nói như vầy: ‘Thưa các ngài, tôi đã làm ác nghiệp đáng bị quở trách, đáng bị (đánh bằng) gói tro. Tôi sẽ làm điều gì khiến các ngài hài lòng.’ Khi ấy, một người đàn ông nào đó đứng tại chỗ có thể nghĩ như vầy: ‘Chư vị ơi, thật vậy, người đàn ông này đã làm ác nghiệp đáng bị quở trách, đáng bị (đánh bằng) gói tro. Bởi vì người ấy mặc y phục đen, xõa tóc, vác gói tro trên vai, đi đến giữa đám đông và sẽ nói như vầy: ‘Thưa các ngài, tôi đã làm ác nghiệp đáng bị quở trách, đáng bị (đánh bằng) gói tro; tôi sẽ làm điều gì khiến các ngài hài lòng.’ Vậy thì, ta chắc chắn sẽ không làm ác nghiệp như thế, đáng bị quở trách, đáng bị (đánh bằng) gói tro.’ Này các Tỳ khưu, cũng vậy, đối với bất kỳ Tỳ khưu hay Tỳ khưu ni nào có tưởng về sự nguy hiểm mãnh liệt như vậy hiện khởi đối với các pháp Ưng đối trị, điều này có thể được trông đợi nơi vị ấy: nếu chưa phạm tội Ưng đối trị thì sẽ không phạm, nếu đã phạm tội Ưng đối trị thì sẽ sám hối đúng như pháp.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso kāḷavatthaṁ paridhāya kese pakiritvā mahājanakāyaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadeyya: ‘ahaṁ, bhante, pāpakammaṁ akāsiṁ gārayhaṁ upavajjaṁ. Yena me āyasmanto attamanā honti taṁ karomī’ti. Tatraññatarassa thalaṭṭhassa purisassa evamassa: ‘pāpakaṁ vata, bho, ayaṁ puriso kammaṁ akāsi gārayhaṁ upavajjaṁ. Yatra hi nāma kāḷavatthaṁ paridhāya kese pakiritvā mahājanakāyaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vakkhati: “ahaṁ, bhante, pāpakammaṁ akāsiṁ gārayhaṁ upavajjaṁ; yena me āyasmanto attamanā honti taṁ karomī”ti. So vatassāhaṁ evarūpaṁ pāpakammaṁ na kareyyaṁ gārayhaṁ upavajjan’ti. Evamevaṁ kho, bhikkhave, yassa kassaci bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā evaṁ tibbā bhayasaññā paccupaṭṭhitā hoti pāṭidesanīyesu dhammesu, tassetaṁ pāṭikaṅkhaṁ—anāpanno vā pāṭidesanīyaṁ dhammaṁ na āpajjissati, āpanno vā pāṭidesanīyaṁ dhammaṁ yathādhammaṁ paṭikarissati.
Imāni kho, bhikkhave, cattāri āpattibhayānī”ti.
Dutiyaṁ.
Suppose a man was to put on a black cloth and mess up his hair. Then he approaches a large crowd and says: ‘Sirs, I’ve done a bad and reprehensible deed, deserving of criticism. I submit to your pleasure.’ Then a bystander might think: ‘This man must have done a truly bad and reprehensible deed, deserving of criticism. … There’s no way I’d ever do such a bad and reprehensible deed, deserving of criticism.’ In the same way, take any monk or nun who has set up such an acute perception of peril regarding confessable offenses. It can be expected that if they haven’t committed a confessable offense they won’t, and if they committed one they will deal with it properly.
These are the four perils of offenses.”
“Này các Tỳ khưu, ví như một người đàn ông mặc y phục đen, xõa tóc, đi đến giữa đám đông và nói như vầy: ‘Thưa các ngài, tôi đã làm ác nghiệp đáng bị quở trách, đáng bị khiển trách. Tôi sẽ làm điều gì khiến các ngài hài lòng.’ Khi ấy, một người đàn ông nào đó đứng tại chỗ có thể nghĩ như vầy: ‘Chư vị ơi, thật vậy, người đàn ông này đã làm ác nghiệp đáng bị quở trách, đáng bị khiển trách. Bởi vì người ấy mặc y phục đen, xõa tóc, đi đến giữa đám đông và sẽ nói như vầy: ‘Thưa các ngài, tôi đã làm ác nghiệp đáng bị quở trách, đáng bị khiển trách; tôi sẽ làm điều gì khiến các ngài hài lòng.’ Vậy thì, ta chắc chắn sẽ không làm ác nghiệp như thế, đáng bị quở trách, đáng bị khiển trách.’ Này các Tỳ khưu, cũng vậy, đối với bất kỳ Tỳ khưu hay Tỳ khưu ni nào có tưởng về sự nguy hiểm mãnh liệt như vậy hiện khởi đối với các pháp Ưng phát lồ, điều này có thể được trông đợi nơi vị ấy: nếu chưa phạm tội Ưng phát lồ thì sẽ không phạm, nếu đã phạm tội Ưng phát lồ thì sẽ sám hối đúng như pháp. Này các Tỳ khưu, đây là bốn sự nguy hiểm về các tội.” Hết kinh thứ hai.