- Aṅguttara Nikāya 4.241
- 24. Kammavagga
Samaṇasutta
“‘Idheva, bhikkhave, paṭhamo samaṇo, idha dutiyo samaṇo, idha tatiyo samaṇo, idha catuttho samaṇo; suññā parappavādā samaṇehi aññehī’ti—evametaṁ, bhikkhave, sammā sīhanādaṁ nadatha.
Bản dịch
Samaṇasutta
TTC 1—Chỉ ở đây, này các Tỷ-kheo, có Sa-môn thứ nhất, có Sa-môn thứ hai, có Sa-môn thứ ba, có Sa-môn thứ tư, còn ngoại đạo khác không có Sa-môn. Như vậy, này các Tỷ kheo, các Thầy chơn chánh rống tiếng rống con sư tử.
TTC 2Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Sa-môn thứ nhất?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo do đoạn diệt ba kiết sử, là bậc Dự lưu, không bị rơi vào đọa xứ, chắc chắn hướng đến giác ngộ. Này các Tỷ-kheo, người này là Sa-môn thứ nhất.
TTC 3Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Sa-môn thứ hai?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Các Tỷ-kheo do đoạn diệt ba kiết sử, do làm cho nhẹ bớt tham và sân, là bậc Nhất Lai, còn đi lại thế giới này một lần nữa, rồi đoạn tận khổ đau. Này các Tỷ-kheo, đây là Sa-môn thứ hai.
TTC 4Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Sa-môn thứ ba?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo do đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh tại đấy, chứng Niết-bàn, không phải trở lui từ thế giới ấy. Này các Tỷ-kheo, đây là Sa-môn thứ ba.
TTC 5Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Sa-môn thứ tư?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo do đoạn diệt các lậu hoặc, tự mình với thắng trí ngay trong hiện tại, chứng ngộ, chứng đạt và an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo, đây là Sa-môn thứ tư.
Chỉ ở đây, này các Tỷ-kheo, có Sa-môn thứ nhất, ở đây có Sa-môn thứ hai, ở đây có Sa-môn thứ ba, ở đây có Sa-môn thứ tư, còn ngoại đạo khác không có Sa-môn. Như vậy, này các Tỷ kheo là chơn chánh rống tiếng rống con sư tử này.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“‘Idheva, bhikkhave, paṭhamo samaṇo, idha dutiyo samaṇo, idha tatiyo samaṇo, idha catuttho samaṇo; suññā parappavādā samaṇehi aññehī’ti—evametaṁ, bhikkhave, sammā sīhanādaṁ nadatha.
“‘Only here is there a first ascetic, here a second ascetic, here a third ascetic, and here a fourth ascetic. Other sects are empty of ascetics.’ This, mendicants, is how you should rightly roar your lion’s roar.
241. Này các Tỳ khưu, ‘Chỉ ở đây có Sa môn (thứ nhất), ở đây có Sa môn thứ hai, ở đây có Sa môn thứ ba, ở đây có Sa môn thứ tư. Các ngoại đạo khác đều trống không các Sa môn.’ Này các Tỳ khưu, các ông hãy chánh đáng rống lên tiếng rống sư tử như vậy.
Katamo ca, bhikkhave, paṭhamo samaṇo? Idha, bhikkhave, bhikkhu tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo. Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo samaṇo.
And who is the first ascetic? It’s a mendicant who—with the ending of three fetters—is a stream-enterer, not liable to be reborn in the underworld, assured, destined for awakening. This is the first ascetic.
Này các Tỳ khưu, và thế nào là Sa môn thứ nhất? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu do đoạn tận ba kiết sử, trở thành bậc Dự lưu, không còn bị đọa lạc, chắc chắn, hướng đến giác ngộ. Này các Tỳ khưu, đây là Sa môn thứ nhất.
Katamo ca, bhikkhave, dutiyo samaṇo? Idha, bhikkhave, bhikkhu tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā rāgadosamohānaṁ tanuttā sakadāgāmī hoti, sakideva imaṁ lokaṁ āgantvā dukkhassantaṁ karoti. Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo samaṇo.
And who is the second ascetic? It’s a mendicant who—with the ending of three fetters, and the weakening of greed, hate, and delusion—is a once-returner. They come back to this world once only, then make an end of suffering. This is the second ascetic.
Này các Tỳ khưu, và thế nào là Sa môn thứ hai? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu do đoạn tận ba kiết sử, do làm muội lược tham, sân, si, trở thành bậc Nhất lai, chỉ một lần nữa trở lại thế gian này rồi chấm dứt khổ đau. Này các Tỳ khưu, đây là Sa môn thứ hai.
Katamo ca, bhikkhave, tatiyo samaṇo? Idha, bhikkhave, bhikkhu pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātiko hoti tattha parinibbāyī anāvattidhammo tasmā lokā. Ayaṁ, bhikkhave, tatiyo samaṇo.
And who is the third ascetic? It’s a mendicant who—with the ending of the five lower fetters—is reborn spontaneously. They’re extinguished there, and are not liable to return from that world. This is the third ascetic.
Này các Tỳ khưu, và thế nào là Sa môn thứ ba? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, là bậc hóa sanh, tại đó sẽ nhập Niết Bàn, không còn trở lại từ thế giới ấy. Này các Tỳ khưu, đây là Sa môn thứ ba.
Katamo ca, bhikkhave, catuttho samaṇo? Idha, bhikkhave, bhikkhu āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati. Ayaṁ, bhikkhave, catuttho samaṇo.
And who is the fourth ascetic? It’s a mendicant who realizes the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom. And they live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements. This is the fourth ascetic.
Này các Tỳ khưu, và thế nào là Sa môn thứ tư? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng tri chứng ngộ, đạt đến và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỳ khưu, đây là Sa môn thứ tư.
‘Idheva, bhikkhave, paṭhamo samaṇo, idha dutiyo samaṇo, idha tatiyo samaṇo, idha catuttho samaṇo; suññā parappavādā samaṇebhi aññehī’ti—evametaṁ, bhikkhave, sammā sīhanādaṁ nadathā”ti.
Dasamaṁ.
‘Only here is there a first ascetic, here a second ascetic, here a third ascetic, and here a fourth ascetic. Other sects are empty of ascetics.’ This, mendicants, is how you should rightly roar your lion’s roar.”
Này các Tỳ khưu, ‘Chỉ ở đây có Sa môn thứ nhất, ở đây có Sa môn thứ hai, ở đây có Sa môn thứ ba, ở đây có Sa môn thứ tư. Các ngoại đạo khác đều trống không các Sa môn.’ Này các Tỳ khưu, các ông hãy chánh đáng rống lên tiếng rống sư tử như vậy. Kinh thứ mười.