- Aṅguttara Nikāya 4.198
- 20. Mahāvagga
Bản dịch
AN 4.198 — Tự Hành Hạ Mình
Attantapasutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người tự hành khổ mình, chuyên tâm hành khổ mình. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người hành khổ mình, chuyên tâm hành khổ mình, và hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không hành khổ mình, không chuyên tâm hành khổ mình, không hành khổ người, không chuyên tâm hành khổ người. Hạng người ấy không hành khổ mình, không hành khổ người, hiện tại sống không tham ái, tịch tịnh, cảm thấy mát lạnh, cảm giác lạc thọ, tự ngã trú vào phạm thể.
TTC 2Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người sống lõa thể, sống phóng túng không theo lễ nghi, liếm tay cho sạch, đi khất thực không chịu bước tới, đi khất thực không chịu đứng một chỗ, không nhận đồ ăn mang đến, không nhận đồ ăn dành riêng, không nhận mời đi ăn, không nhận từ nơi miệng nồi, không nhận từ nơi miệng chảo, không nhận tại ngưỡng cửa, không nhận giữa những cây gậy, không nhận giữa những cối giã gạo, không nhận từ hai người đang ăn, không nhận từ người đàn bà có thai, không nhận từ người đàn bà đang cho con bú, không nhận từ người đàn bà đang đi đến giữa người đàn ông, không nhận đồ ăn đi quyên, không nhận tại chỗ có chó đứng, không nhận tại chỗ có ruồi bu, không ăn cá, không ăn thịt, không uống rượu nấu, rượu men, không uống nước cháo. Vị ấy chỉ nhận ăn tại một nhà hay chỉ nhận ăn một miếng, hay vị ấy chỉ nhận ăn tại hai nhà hay chỉ nhận ăn hai miếng, … hay vị ấy chỉ nhận ăn tại bảy nhà hay chỉ nhận ăn bảy miếng. Vị ấy nuôi sống chỉ với một bát, nuôi sống chỉ với hai bát … nuôi sống chỉ với bảy bát. Vị ấy chỉ ăn một ngày một bữa, hai ngày một bữa, bảy ngày một bữa. Như vậy, vị ấy sống theo hạnh tiết chế ăn uống, cho đến nửa tháng mới ăn một lần. Vị ấy chỉ ăn cỏ hoang, ăn lúa tắc, ăn lúa hoang, ăn da vụn, ăn rong nước, ăn bọt tấm, ăn váng gạo, ăn bột vừng, ăn cỏ hay ăn phân bò. Vị ấy ăn trái cây, ăn rễ cây trong rừng, ăn trái cây rụng để sống. Vị ấy mặc vải gai thô, vải gai thô lẫn các vải khác, mặc vải tẩn liệm, rồi quăng đi, mặc vải phấn tảo y, mặc vải vỏ cây tirita làm áo, mặc áo da con sơn dương đen, mặc áo bện từ từng mảnh da con sơn dương đen, mặc áo bằng vỏ cát tường, mặc áo bằng vỏ cây, mặc áo bằng tấm gỗ nhỏ, mặc áo bằng tóc bện lại thành mền, mặc áo bằng đuôi ngựa bện lại, mặc áo bằng lông cú. Vị ấy là người sống nhổ râu tóc, là người chuyên sống theo hạnh nhổ râu tóc, là người theo hạnh thường đứng, từ bỏ chỗ ngồi, là người ngồi chò hỏ, chuyên sống theo hạnh ngồi chò hỏ một cách tinh tấn, là người dùng gai làm giường, thường nằm ngủ trên giường gai, sống một đêm tắm ba lần, theo hạnh xuống nước tắm (để gột sạch tội lỗi). Như vậy, dưới nhiều hình thức, vị ấy sống tự hành khổ mình. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình.
TTC 3Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người là người giết trâu, bò, là người giết heo, là người giết vịt, săn thú, là thợ săn, người đánh cá, ăn trộm, người xử tử các người ăn trộm, cai ngục và các người làm các nghề ác độc khác. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người.
TTC 4Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người vừa hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người làm vua, thuộc giai cấp Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, hay một vị Bà-la-môn triệu phú. Vị này cho xây một giảng đường mới về phía đông thành phố, cạo bỏ râu tóc, đắp áo da khô, toàn thân bôi thục tô và dầu, gãi lưng với một sừng nai, đi vào giảng đường với người vợ chính và một Bà-la-môn tế tự. Rồi vị ấy nằm xuống dưới đất trống trơn chỉ có lá cỏ. Vị vua sống với sữa từ vú một con bò cái, có con bò con cùng một màu sắc. Bà vợ chính sống với sữa từ vú thứ hai; và Bà-la-môn tế tự sống với sữa từ vú thứ ba, sữa từ vú thứ tư thường dùng để tế lửa. Còn con nghé con sống với đồ còn lại. Vua nói như sau: “Hãy giết một số bò đực để tế lễ, hãy giết một số nghé đực để tế lễ, hãy giết một số nghé cái để tế lễ, hãy giết một số dê để tế lễ, hãy giết một số cừu để tế lễ, hãy giết một số ngựa để tế lễ, hãy chặt một số thân cây để làm cột tế lễ, hãy thâu lượm một số cỏ dabbhà để làm chỗ tế lễ. Và những người nô tỳ, những người phục vụ, những người làm công, những người này vì sợ đòn gậy, vì sợ nguy hiểm, với mặt tràn đầy nước mắt, khóc lóc làm các công việc. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người vừa hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người.
TTC 5Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người vừa không hành khổ mình, không chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa không hành khổ người, không chuyên tâm hành khổ người? Hạng người này không tự hành khổ mình, không hành khổ người, hiện tại sống không tham ái, tịch tịnh, cảm thấy mát lạnh, cảm thấy lạc thọ, tự ngã trú vào Phạm thể.
TTC 6Ở đây, Như Lai xuất hiện ở đời là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều ngự Trượng phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi tự mình chứng ngộ với thắng trí, thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, gồm cả thế giới này với Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhơn, lại tuyên bố bốn điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện đầy đủ văn, đầy đủ nghĩa. Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh. Người gia trưởng hay con của người gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp hạ tiện nghe pháp ấy. Sau khi nghe pháp, người ấy sanh lòng tin ở Như Lai.
TTC 7Khi có được lòng tin ấy, người ấy suy nghĩ: “Gò bó là đời sống gia đình, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật không dễ gì cho một người sống ở gia đình có thể sống theo Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Một thời gian sau, người ấy từ bỏ tài sản nhỏ hay từ bỏ tài sản lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ hay bỏ bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, và xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
TTC 8Vị ấy xuất gia như vậy, hành trì các học giới và hạnh sống của các vị Tỷ-kheo, đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Vị ấy đoạn tận lấy của không cho, từ bỏ lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Vị ấy đoạn tận đời sống không Phạm hạnh, sống theo Phạm hạnh, sống đời sống viễn ly, tránh xa dâm dục hạ liệt. Vị ấy đoạn tận nói láo, từ bỏ nói láo, nói những lời chân thật, liên hệ đến sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường gạt đời. Vị ấy đoạn tận nói hai lưỡi, từ bỏ nói hai lưỡi., nghe điều gì ở chỗ này, không đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở nhũng người kia. Như vậy, vị này sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hoà hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thích thú trong hòa hợp hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Vị ấy đoạn tận lời nói độc ác, từ bỏ lời nói độc ác, nói những lời nói dịu hiền, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vị ấy nói những lời nói như vậy. Vị ấy từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng thời, nói chân thật, nói liên hệ đến nghĩa, nói Pháp, nói Luật, nói những lời đáng giữ gìn, những lời hợp thời, thuận lý, có mạch lạc hệ thống, có ích lợi.
TTC 9Vị ấy từ bỏ không làm hại đến các loại hạt giống và các kloài cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm, từ bỏ các món ăn phi thời; từ bỏ không đi xem múa, hát, nhạc, các cuộc trình diễn; từ bỏ không dùng giường cao và giường lớn; từ bỏ không nhận vàng và bạc; từ bỏ không nhận các hạt sống; từ bỏ không nhận thịt sống; từ bỏ không nhận đàn bà con gái; từ bỏ không nhận nô tỳ gái và trai; từ bỏ không nhận cừu và dê; từ bỏ không nhận gia cầm và heo; từ bỏ không nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái;; từ bỏ không nhận ruộng nương đất đai;; từ bỏ không dùng người làm môi giới, hoặc tự mình làm người đưa tin; từ bỏ không buôn bán; từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường; từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo, gạt lường; từ bỏ không làm thương tổn, sát hại, câu thúc, cướp đường, cướp giật, cưỡng đoạt.
TTC 10Vị ấy sống biết đủ, bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y và bình bát), như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh. Cũng vậy, Tỷ-kheo bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo. Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, nội tâm hưởng lạc không có lỗi lầm.
TTC 11Khi mắt thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Do nguyên nhân gì khiến nhãn căn này không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành sự hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng…, mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc.. ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Do nguyên nhân gì không được chế ngự khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy thành tựu Thánh hộ trì các căn này, nội tâm hưởng vô uế lạc.
TTC 12Vị ấy khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y dép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nếm đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác.
TTC 13Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, thành tựu Thánh hộ trì các căn này, thành tưu Thánh chánh niệm tỉnh giác này (thành tựu Thánh biết đủ này), lựa một trú xứ thanh vắng như khu rừng, gốc cây, đồi, núi, khe nước, hang đá, bãi tha ma, rừng rậm, ngoài trời, đống rơm. Sau khi ăn xong và đi khất thực trở về, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy đoạn tận tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Ðoạn tận sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Ðoạn tận hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Ðoạn tận trạo cử hối quá, vị ấy sống không trạo cử hối quá, nội tâm trầm lặng, gột rửa hết tâm trạo cử, hối quá. Ðoạn tận nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với pháp thiện.
TTC 14Vị ấy, sau khi đoạn tận năm triền cái này, các pháp làm tâm cấu uế, làm trí tuệ trở thành yếu ớt, vị ấy ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm với tứ. Vị ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú Thiền thứ ba. Vị ấy xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và an trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
TTC 15Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, tinh khiết, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy biết như thật: “Ðây là khổ”; biết như thật: “Ðây là khổ tập”; biết như thật: “Ðây là khổ diệt”; biết như thật: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”; biết như thật: “Ðây là những lậu hoặc”; biết như thật: “Ðây là nguyên nhân của những lậu hoặc”; biết như thật: “Ðây là sự diệt trừ các lậu hoặc”; biết như thật: “Ðây là con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc”. Nhờ biết như vậy, thấy như vậy, tâm vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy quán tri: “Sanh đã diệt, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, sau đời hiện tại, không có trở lui trạng thái này nữa”.
TTC 16Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người vừa không hành khổ mình, không chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa không hành khổ người, không chuyên tâm hành khổ người. Vị ấy không tự hành khổ mình, không hành khổ người, trong hiện tại sống không tham ái, tịch tịnh, cảm thấy mát lạnh, cảm thấy lạc thọ, tự ngã trú vào Phạm thể.
Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 4.198
- 20. The Great Chapter
Fervent Mortification of Oneself
8. Kinh Tự Hành Khổ
“Cattārome, bhikkhave, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ. Katame cattāro?
- Idha, bhikkhave, ekacco puggalo attantapo hoti attaparitāpanānuyogamanuyutto.
- Idha pana, bhikkhave, ekacco puggalo parantapo hoti paraparitāpanānuyogamanuyutto.
- Idha pana, bhikkhave, ekacco puggalo attantapo ca hoti attaparitāpanānuyogamanuyutto, parantapo ca paraparitāpanānuyogamanuyutto.
- Idha pana, bhikkhave, ekacco puggalo nevattantapo hoti nāttaparitāpanānuyogamanuyutto na parantapo na paraparitāpanānuyogamanuyutto. So neva attantapo na parantapo diṭṭheva dhamme nicchāto nibbuto sītībhūto sukhappaṭisaṁvedī brahmabhūtena attanā viharati.
“Mendicants, these four individuals are found in the world. What four?
- One individual mortifies themselves, pursuing the practice of mortifying themselves.
- One individual mortifies others, pursuing the practice of mortifying others.
- One individual mortifies themselves and others, pursuing the practice of mortifying themselves and others.
- One individual neither mortifies themselves nor others, pursuing the practice of not mortifying themselves or others. They live without wishes in this very life, quenched, cooled, experiencing bliss, with self become divine.
198. Này các Tỳ khưu, có bốn hạng người này hiện hữu, có mặt ở trên đời. Bốn hạng nào? Này các Tỳ khưu, ở đây, có người tự hành khổ, chuyên tâm vào việc tự hành khổ. Lại nữa, này các Tỳ khưu, ở đây, có người hành khổ người khác, chuyên tâm vào việc hành khổ người khác. Lại nữa, này các Tỳ khưu, ở đây, có người vừa tự hành khổ, chuyên tâm vào việc tự hành khổ, vừa hành khổ người khác, chuyên tâm vào việc hành khổ người khác. Lại nữa, này các Tỳ khưu, ở đây, có người không tự hành khổ, không chuyên tâm vào việc tự hành khổ, không hành khổ người khác, không chuyên tâm vào việc hành khổ người khác. Vị ấy không tự hành khổ, không hành khổ người khác, ngay trong hiện tại, không còn khao khát, đã được dập tắt, trở nên mát lạnh, cảm thọ lạc, sống với tự thân đã trở nên thanh tịnh.
Kathañca, bhikkhave, puggalo attantapo hoti attaparitāpanānuyogamanuyutto? Idha, bhikkhave, ekacco acelako hoti muttācāro hatthāpalekhano naehibhaddantiko natiṭṭhabhaddantiko nābhihaṭaṁ na uddissakataṁ na nimantanaṁ sādiyati. So na kumbhimukhā paṭiggaṇhāti, na kaḷopimukhā paṭiggaṇhāti, na eḷakamantaraṁ na daṇḍamantaraṁ na musalamantaraṁ na dvinnaṁ bhuñjamānānaṁ na gabbhiniyā na pāyamānāya na purisantaragatāya na saṅkittīsu na yattha sā upaṭṭhito hoti na yattha makkhikā saṇḍasaṇḍacārinī na macchaṁ na maṁsaṁ na suraṁ na merayaṁ na thusodakaṁ pivati. So ekāgāriko vā hoti ekālopiko dvāgāriko vā hoti dvālopiko …pe… sattāgāriko vā hoti sattālopiko; ekissāpi dattiyā yāpeti dvīhipi dattīhi yāpeti …pe… sattahipi dattīhi yāpeti; ekāhikampi āhāraṁ āhāreti dvāhikampi āhāraṁ āhāreti …pe… sattāhikampi āhāraṁ āhāreti. Iti evarūpaṁ aḍḍhamāsikampi pariyāyabhattabhojanānuyogamanuyutto viharati.
And how does one individual mortify themselves, pursuing the practice of mortifying themselves? It’s when someone goes naked, ignoring conventions. They lick their hands, and don’t come or wait when called. They don’t consent to food brought to them, or food prepared on their behalf, or an invitation for a meal. They don’t receive anything from a pot or bowl; or from someone who keeps sheep, or who has a weapon or a shovel in their home; or where a couple is eating; or where there is a woman who is pregnant, breastfeeding, or who lives with a man; or where there’s a hound waiting or flies buzzing. They accept no fish or meat or beer or wine, and drink no fermented gruel. They go to just one house for alms, taking just one mouthful, or two houses and two mouthfuls, up to seven houses and seven mouthfuls. They feed on one saucer a day, two saucers a day, up to seven saucers a day. They eat once a day, once every second day, up to once a week, and so on, even up to once a fortnight. They live pursuing the practice of eating food at set intervals.
Này các Tỳ khưu, thế nào là hạng người tự hành khổ, chuyên tâm vào việc tự hành khổ? Này các Tỳ khưu, ở đây, có hạng người không mặc quần áo, hành xử phóng túng, liếm tay sau khi ăn, không đến khi được mời 'Thưa ngài, xin hãy đến', không dừng lại khi được mời 'Thưa ngài, xin hãy dừng lại', không chấp nhận vật thực được mang đến, được làm riêng cho mình, hay được mời thỉnh. Vị ấy không nhận vật thực từ miệng nồi, không nhận từ miệng giỏ, không nhận khi có ngưỡng cửa ở giữa, không nhận khi có cây gậy ở giữa, không nhận khi có cái chày ở giữa, không nhận từ một trong hai người đang ăn, không nhận từ phụ nữ có thai, không nhận từ phụ nữ đang cho con bú, không nhận từ phụ nữ đang giao hợp với người đàn ông, không nhận ở nơi có quy định phân phát, không nhận ở nơi có con chó đứng chờ, không nhận ở nơi ruồi bu thành đàn; không ăn cá, không ăn thịt, không uống rượu nấu, không uống rượu men, không uống nước gạo lên men. Vị ấy chỉ nhận vật thực ở một nhà, chỉ ăn một miếng; hoặc nhận ở hai nhà, ăn hai miếng; ... hoặc nhận ở bảy nhà, ăn bảy miếng. Vị ấy sống chỉ với một muỗng nhỏ, sống với hai muỗng nhỏ, ... sống với bảy muỗng nhỏ. Vị ấy ăn cách một ngày, ăn cách hai ngày, ... ăn cách bảy ngày. Như vậy, vị ấy sống chuyên tâm vào việc ăn uống theo định kỳ, cho đến nửa tháng một lần.
So sākabhakkhopi hoti sāmākabhakkhopi hoti nīvārabhakkhopi hoti daddulabhakkhopi hoti haṭabhakkhopi hoti kaṇabhakkhopi hoti ācāmabhakkhopi hoti piññākabhakkhopi hoti tiṇabhakkhopi hoti gomayabhakkhopi hoti; vanamūlaphalāhāropi yāpeti pavattaphalabhojī.
They eat herbs, millet, wild rice, poor rice, water lettuce, rice bran, scum from boiling rice, sesame flour, grass, or cow dung. They survive on forest roots and fruits, or eating fallen fruit.
Vị ấy ăn rau, ăn lúa lùn, ăn lúa hoang, ăn da vụn, ăn rêu, ăn cám, ăn nước cơm, ăn bã mè, ăn cỏ, ăn phân bò; sống bằng rễ và trái cây rừng, ăn trái cây tự rụng.
So sāṇānipi dhāreti masāṇānipi dhāreti chavadussānipi dhāreti paṁsukūlānipi dhāreti tirīṭānipi dhāreti ajinampi dhāreti ajinakkhipampi dhāreti kusacīrampi dhāreti vākacīrampi dhāreti phalakacīrampi dhāreti kesakambalampi dhāreti vāḷakambalampi dhāreti ulūkapakkhampi dhāreti; kesamassulocakopi hoti kesamassulocanānuyogamanuyutto; ubbhaṭṭhakopi hoti āsanappaṭikkhitto; ukkuṭikopi hoti ukkuṭikappadhānamanuyutto; kaṇṭakāpassayikopi hoti kaṇṭakāpassaye seyyaṁ kappeti; sāyatatiyakampi udakorohanānuyogamanuyutto viharati. Iti evarūpaṁ anekavihitaṁ kāyassa ātāpanaparitāpanānuyogamanuyutto viharati. Evaṁ kho, bhikkhave, puggalo attantapo hoti attaparitāpanānuyogamanuyutto.
They wear robes of sunn hemp, mixed hemp, corpse-wrapping cloth, rags, lodh tree bark, antelope hide (whole or in strips), kusa grass, bark, wood-chips, human hair, horse-tail hair, or owls’ wings. They tear out hair and beard, pursuing this practice. They constantly stand, turning down seats. They squat, committed to the endeavor of squatting. They lie on a mat of thorns, making a mat of thorns their bed. They’re devoted to ritual bathing three times a day, including at dusk. And so they live pursuing these various ways of mortifying and tormenting the body. That’s how one individual mortifies themselves, pursuing the practice of mortifying themselves.
Vị ấy mặc y bằng vải gai, mặc y bằng vải gai pha trộn, mặc y lấy từ xác chết, mặc y lượm từ đống rác, mặc y bằng vỏ cây, mặc da sơn dương, mặc y bằng mảnh da sơn dương, mặc y bằng cỏ kusa, mặc y bằng vỏ cây mềm, mặc y bằng mảnh gỗ, mặc y dệt bằng tóc người, mặc y dệt bằng lông đuôi ngựa, mặc y làm bằng lông cánh cú. Vị ấy là người nhổ râu tóc, chuyên tâm vào việc nhổ râu tóc; là người luôn đứng, từ bỏ chỗ ngồi; là người ngồi xổm, chuyên tâm vào việc ngồi xổm; là người nằm trên giường gai, thực hành việc nằm trên giường gai; sống chuyên tâm vào việc xuống nước ba lần mỗi ngày. Như vậy, vị ấy sống chuyên tâm vào nhiều cách hành hạ, làm khổ thân xác. Này các Tỳ khưu, như vậy là hạng người tự hành khổ, chuyên tâm vào việc tự hành khổ.
Kathañca, bhikkhave, puggalo parantapo hoti paraparitāpanānuyogamanuyutto? Idha, bhikkhave, ekacco puggalo orabbhiko hoti sūkariko sākuṇiko māgaviko luddo macchaghātako coro coraghātako goghātako bandhanāgāriko, ye vā panaññepi keci kurūrakammantā. Evaṁ kho, bhikkhave, puggalo parantapo hoti paraparitāpanānuyogamanuyutto.
And how does one individual mortify others, pursuing the practice of mortifying others? It’s when an individual is a slaughterer of sheep, pigs, poultry, or deer, a hunter or fisher, a bandit, an executioner, a butcher of cattle, a jailer, or has some other cruel livelihood. That’s how one individual mortifies others, pursuing the practice of mortifying others.
Này các Tỳ khưu, thế nào là hạng người làm khổ người khác, chuyên tâm vào việc làm khổ người khác? Này các Tỳ khưu, ở đây, có hạng người là người giết cừu, người giết heo, người bẫy chim, thợ săn thú, người tàn bạo, người giết cá, kẻ trộm, đao phủ, cai ngục, hay bất kỳ ai khác làm những nghề tàn bạo. Này các Tỳ khưu, như vậy là hạng người làm khổ người khác, chuyên tâm vào việc làm khổ người khác.
Kathañca, bhikkhave, puggalo attantapo ca hoti attaparitāpanānuyogamanuyutto parantapo ca paraparitāpanānuyogamanuyutto? Idha, bhikkhave, ekacco puggalo rājā vā hoti khattiyo muddhāvasitto, brāhmaṇo vā hoti mahāsālo. So puratthimena nagarassa navaṁ santhāgāraṁ kārāpetvā kesamassuṁ ohāretvā kharājinaṁ nivāsetvā sappitelena kāyaṁ abbhañjitvā magavisāṇena piṭṭhiṁ kaṇḍuvamāno navaṁ santhāgāraṁ pavisati, saddhiṁ mahesiyā brāhmaṇena ca purohitena. So tattha anantarahitāya bhūmiyā haritupalittāya seyyaṁ kappeti. Ekissāya gāviyā sarūpavacchāya yaṁ ekasmiṁ thane khīraṁ hoti tena rājā yāpeti; yaṁ dutiyasmiṁ thane khīraṁ hoti tena mahesī yāpeti; yaṁ tatiyasmiṁ thane khīraṁ hoti tena brāhmaṇo purohito yāpeti; yaṁ catutthasmiṁ thane khīraṁ hoti tena aggiṁ juhati; avasesena vacchako yāpeti. So evamāha: ‘ettakā usabhā haññantu yaññatthāya, ettakā vacchatarā haññantu yaññatthāya, ettakā vacchatariyo haññantu yaññatthāya, ettakā ajā haññantu yaññatthāya, ettakā urabbhā haññantu yaññatthāya, ettakā assā haññantu yaññatthāya, ettakā rukkhā chijjantu yūpatthāya, ettakā dabbhā lūyantu barihisatthāyā’ti. Yepissa te honti dāsāti vā pessāti vā kammakarāti vā tepi daṇḍatajjitā bhayatajjitā assumukhā rudamānā parikammāni karonti. Evaṁ kho, bhikkhave, puggalo attantapo ca hoti attaparitāpanānuyogamanuyutto parantapo ca paraparitāpanānuyogamanuyutto.
And how does one individual mortify themselves and others, pursuing the practice of mortifying themselves and others? It’s when an individual is an anointed aristocratic king or a well-to-do brahmin. He has a new ceremonial hall built to the east of the citadel. He shaves off his hair and beard, dresses in a rough antelope hide, and smears his body with ghee and oil. Scratching his back with antlers, he enters the hall with his chief queen and the brahmin high priest. There he lies on the bare ground strewn with grass. The king feeds on the milk from one teat of a cow that has a calf of the same color. The chief queen feeds on the milk from the second teat. The brahmin high priest feeds on the milk from the third teat. The milk from the fourth teat is served to the sacred flame. The calf feeds on the leftovers. He says: ‘Slaughter this many bulls, bullocks, heifers, goats, rams, and horses for the sacrifice! Fell this many trees and reap this much grass for the sacrificial equipment!’ His bondservants, servants, and workers do their jobs under threat of punishment and danger, weeping, with tearful faces. That’s how one individual mortifies themselves and others, pursuing the practice of mortifying themselves and others.
Này các Tỳ khưu, thế nào là hạng người vừa tự hành khổ, chuyên tâm vào việc tự hành khổ, vừa làm khổ người khác, chuyên tâm vào việc làm khổ người khác? Này các Tỳ khưu, ở đây, có hạng người là vua thuộc dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, hoặc là Bà-la-môn giàu có. Vị ấy cho xây một nhà tế đàn mới ở phía đông thành phố, cạo râu tóc, mặc một tấm da thú thô ráp, xoa bơ lỏng và dầu lên thân, gãi lưng bằng sừng hươu, rồi đi vào nhà tế đàn mới cùng với hoàng hậu và vị Bà-la-môn tế sư. Ở đó, vị ấy nằm trên nền đất không trải gì, được trét bằng phân bò tươi. Sữa từ một vú của một con bò cái có con bê cùng màu, nhà vua dùng để sống; sữa từ vú thứ hai, hoàng hậu dùng để sống; sữa từ vú thứ ba, vị Bà-la-môn tế sư dùng để sống; sữa từ vú thứ tư, dùng để cúng dường lửa; phần còn lại, con bê dùng để sống. Vị ấy nói như sau: 'Hãy giết chừng này bò đực để tế lễ, chừng này bò tơ đực để tế lễ, chừng này bò tơ cái để tế lễ, chừng này dê để tế lễ, chừng này cừu để tế lễ, (chừng này ngựa để tế lễ,) chừng này cây để đốn làm cột tế, chừng này cỏ dabbā để cắt làm thảm tế'. Và những người là tôi tớ, người đưa tin, hay người làm công của vị ấy, họ bị đe dọa bằng hình phạt, bị đe dọa bằng sự sợ hãi, mặt đẫm lệ, vừa khóc vừa làm các công việc chuẩn bị. Này các Tỳ khưu, như vậy là hạng người vừa tự hành khổ, chuyên tâm vào việc tự hành khổ, vừa làm khổ người khác, chuyên tâm vào việc làm khổ người khác.
Kathañca, bhikkhave, puggalo nevattantapo hoti nāttaparitāpanānuyogamanuyutto na parantapo na paraparitāpanānuyogamanuyutto? So anattantapo aparantapo diṭṭheva dhamme nicchāto nibbuto sītībhūto sukhappaṭisaṁvedī brahmabhūtena attanā viharati. Idha, bhikkhave, tathāgato loke uppajjati arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā. So imaṁ lokaṁ sadevakaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti. So dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti. Taṁ dhammaṁ suṇāti gahapati vā gahapatiputto vā aññatarasmiṁ vā kule paccājāto. So taṁ dhammaṁ sutvā tathāgate saddhaṁ paṭilabhati. So tena saddhāpaṭilābhena samannāgato iti paṭisañcikkhati: ‘sambādho gharāvāso rajāpatho, abbhokāso pabbajjā; nayidaṁ sukaraṁ agāraṁ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṁ ekantaparisuddhaṁ saṅkhalikhitaṁ brahmacariyaṁ carituṁ; yannūnāhaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyan’ti. So aparena samayena appaṁ vā bhogakkhandhaṁ pahāya, mahantaṁ vā bhogakkhandhaṁ pahāya, appaṁ vā ñātiparivaṭṭaṁ pahāya, mahantaṁ vā ñātiparivaṭṭaṁ pahāya, kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajati.
And how does one individual neither mortify themselves nor others, pursuing the practice of not mortifying themselves or others, living without wishes in this very life, quenched, cooled, experiencing bliss, with self become divine? It’s when a Realized One arises in the world, perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed. He has realized with his own insight this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, gods and humans—and he makes it known to others. He teaches Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And he reveals a spiritual practice that’s entirely full and pure. A householder hears that teaching, or a householder’s child, or someone reborn in a good family. They gain faith in the Realized One and reflect: ‘Life at home is cramped and dirty, life gone forth is wide open. It’s not easy for someone living at home to lead the spiritual life utterly full and pure, like a polished shell. Why don’t I shave off my hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness?’ After some time they give up a large or small fortune, and a large or small family circle. They shave off hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness.
“Này các Tỳ khưu, thế nào là người không tự hành khổ mình, không chuyên tâm vào việc tự hành khổ mình, không hành khổ người khác, không chuyên tâm vào việc hành khổ người khác? Vị ấy, không tự hành khổ mình, không hành khổ người khác, ngay trong hiện tại, không còn khao khát, được tịch tịnh, trở nên mát mẻ, cảm nhận được lạc thọ, sống với tự thân đã trở thành Phạm thiên. Này các Tỳ khưu, ở đây, Như Lai xuất hiện ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Vị ấy, sau khi tự mình thắng tri, chứng ngộ thế giới này cùng với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, cùng với loài người và chư Thiên, đã tuyên thuyết lại. Vị ấy thuyết giảng giáo pháp toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn tự; trình bày đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn trong sạch. Giáo pháp ấy được một gia chủ, hoặc con của gia chủ, hoặc người sinh ra trong một gia tộc nào khác nghe được. Vị ấy, sau khi nghe giáo pháp ấy, đã có được niềm tin nơi Như Lai. Vị ấy, được trang bị với niềm tin đã có được ấy, suy xét như sau: ‘Đời sống tại gia thì chật hẹp, là con đường của bụi bặm; đời sống xuất gia thì như hư không. Người sống tại gia không dễ gì thực hành đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn trong sạch, được đánh bóng như vỏ ốc. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp y cà sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.’ Vị ấy, vào một thời gian sau, từ bỏ khối tài sản nhỏ, hoặc từ bỏ khối tài sản lớn, từ bỏ vòng quyến thuộc nhỏ, hoặc từ bỏ vòng quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp y cà sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.”
So evaṁ pabbajito samāno bhikkhūnaṁ sikkhāsājīvasamāpanno pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭivirato hoti nihitadaṇḍo nihitasattho lajjī dayāpanno, sabbapāṇabhūtahitānukampī viharati. Adinnādānaṁ pahāya adinnādānā paṭivirato hoti dinnādāyī dinnapāṭikaṅkhī, athenena sucibhūtena attanā viharati. Abrahmacariyaṁ pahāya brahmacārī hoti ārācārī virato asaddhammā gāmadhammā. Musāvādaṁ pahāya musāvādā paṭivirato hoti saccavādī saccasandho theto paccayiko avisaṁvādako lokassa. Pisuṇaṁ vācaṁ pahāya pisuṇāya vācāya paṭivirato hoti, na ito sutvā amutra akkhātā imesaṁ bhedāya, na amutra vā sutvā imesaṁ akkhātā amūsaṁ bhedāya; iti bhinnānaṁ vā sandhātā, sahitānaṁ vā anuppadātā, samaggārāmo samaggarato samagganandī samaggakaraṇiṁ vācaṁ bhāsitā hoti. Pharusaṁ vācaṁ pahāya pharusāya vācāya paṭivirato hoti; yā sā vācā nelā kaṇṇasukhā pemanīyā hadayaṅgamā porī bahujanakantā bahujanamanāpā tathārūpiṁ vācaṁ bhāsitā hoti. Samphappalāpaṁ pahāya samphappalāpā paṭivirato hoti kālavādī bhūtavādī atthavādī dhammavādī vinayavādī; nidhānavatiṁ vācaṁ bhāsitā hoti kālena sāpadesaṁ pariyantavatiṁ atthasaṁhitaṁ.
Once they’ve gone forth, they take up the training and livelihood of the mendicants. They give up killing living creatures, renouncing the rod and the sword. They’re scrupulous and kind, living full of sympathy for all living beings. They give up stealing. They take only what’s given, and expect only what’s given. They keep themselves clean by not thieving. They give up unchastity. They are chaste, set apart, refraining from the vulgar act of sex. They give up lying. They speak the truth and stick to the truth. They’re honest and dependable, and don’t trick the world with their words. They give up backbiting. They don’t repeat in one place what they heard in another so as to divide people against each other. Instead, they reconcile those who are divided and support those who are united, delighting in harmony, loving harmony, speaking words that promote harmony. They give up harsh speech. They speak in a way that’s mellow, pleasing to the ear, endearing, going to the heart, polite, likable, and agreeable to the people. They give up talking nonsense. Their words are timely, true, and meaningful, in line with the teaching and training. They say things at the right time which are valuable, reasonable, succinct, and beneficial.
“Vị ấy, sau khi xuất gia như vậy, đã chấp nhận học giới và đời sống của các Tỳ khưu, từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, đã bỏ trượng, đã bỏ khí giới, có lòng hổ thẹn, có lòng bi mẫn, sống với lòng thương tưởng đến lợi ích của tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, chỉ nhận vật đã cho, chỉ mong đợi vật đã cho, sống với tự thân trong sạch, không trộm cắp. Từ bỏ hành vi không phạm hạnh, sống đời phạm hạnh, sống xa lánh, từ bỏ pháp thấp hèn của dân làng. Từ bỏ nói dối, tránh xa nói dối, nói lời chân thật, kết hợp lời chân thật, vững chắc, đáng tin cậy, không lừa dối thế gian. Từ bỏ lời nói đâm thọc, tránh xa lời nói đâm thọc; không nghe điều gì ở đây rồi đi nói ở nơi kia để gây chia rẽ những người này, cũng không nghe điều gì ở nơi kia rồi đi nói lại với những người này để gây chia rẽ những người kia; như vậy, vị ấy là người hàn gắn những ai đã chia rẽ, hoặc củng cố những ai đã hòa hợp, vui thích trong sự hòa hợp, hoan hỷ trong sự hòa hợp, ưa thích trong sự hòa hợp, nói những lời tạo ra sự hòa hợp. Từ bỏ lời nói thô ác, tránh xa lời nói thô ác; vị ấy nói những lời không lỗi lầm, êm tai, dễ thương, đi vào lòng người, tao nhã, được nhiều người ưa thích, làm vui lòng nhiều người. Từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm; nói đúng thời, nói đúng sự thật, nói lời có ích, nói lời hợp pháp, nói lời hợp luật; nói những lời đáng được ghi nhớ, có dẫn chứng, có giới hạn, hợp với lợi ích vào đúng thời điểm.”
So bījagāmabhūtagāmasamārambhā paṭivirato hoti. Ekabhattiko hoti rattūparato virato vikālabhojanā. Naccagītavāditavisūkadassanā paṭivirato hoti. Mālāgandhavilepanadhāraṇamaṇḍanavibhūsanaṭṭhānā paṭivirato hoti. Uccāsayanamahāsayanā paṭivirato hoti. Jātarūparajatapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Āmakadhaññapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Āmakamaṁsapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Itthikumārikapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Dāsidāsapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Ajeḷakapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Kukkuṭasūkarapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Hatthigavāssavaḷavapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Khettavatthupaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Dūteyyapahiṇagamanānuyogā paṭivirato hoti. Kayavikkayā paṭivirato hoti. Tulākūṭakaṁsakūṭamānakūṭā paṭivirato hoti. Ukkoṭanavañcananikatisāciyogā paṭivirato hoti. Chedanavadhabandhanaviparāmosaālopasahasākārā paṭivirato hoti.
They refrain from injuring plants and seeds. They eat in one part of the day, abstaining from eating at night and food at the wrong time. They refrain from seeing shows of dancing, singing, and music. They refrain from attiring and adorning themselves with garlands, fragrance, and makeup. They refrain from high and luxurious beds. They refrain from receiving gold and currency, raw grains, raw meat, women and girls, male and female bondservants, goats and sheep, chickens and pigs, elephants, cows, horses, and mares, and fields and land. They refrain from running errands and messages; buying and selling; falsifying weights, metals, or measures; bribery, fraud, cheating, and duplicity; mutilation, murder, abduction, banditry, plunder, and violence.
“Vị ấy tránh xa việc phá hoại các loại hạt giống và cây cối. Vị ấy dùng bữa một lần, không ăn ban đêm, từ bỏ việc ăn phi thời. Vị ấy tránh xa việc xem múa, hát, nhạc, kịch. Vị ấy tránh xa việc trang điểm, trang sức bằng cách đeo vòng hoa, thoa hương liệu, dùng phấn sáp. Vị ấy tránh xa giường cao và giường lớn. Vị ấy tránh xa việc nhận vàng và bạc. Vị ấy tránh xa việc nhận ngũ cốc sống. Vị ấy tránh xa việc nhận thịt sống. Vị ấy tránh xa việc nhận phụ nữ và thiếu nữ. Vị ấy tránh xa việc nhận nô tỳ nam và nữ. Vị ấy tránh xa việc nhận dê và cừu. Vị ấy tránh xa việc nhận gà và heo. Vị ấy tránh xa việc nhận voi, bò, ngựa đực và ngựa cái. Vị ấy tránh xa việc nhận ruộng nương và đất đai. Vị ấy tránh xa việc làm sứ giả và người đưa tin. Vị ấy tránh xa việc mua và bán. Vị ấy tránh xa việc gian lận bằng cân, tiền và thước đo. Vị ấy tránh xa việc hối lộ, lừa đảo, gian trá và mánh khóe. Vị ấy tránh xa việc cắt, giết, trói, cướp bóc,掠夺 và bạo hành.”
So santuṭṭho hoti kāyaparihārikena cīvarena kucchiparihārikena piṇḍapātena. So yena yeneva pakkamati samādāyeva pakkamati. Seyyathāpi nāma pakkhī sakuṇo yena yeneva ḍeti, sapattabhārova ḍeti; evamevaṁ bhikkhu santuṭṭho hoti kāyaparihārikena cīvarena kucchiparihārikena piṇḍapātena. So yena yeneva pakkamati, samādāyeva pakkamati. So iminā ariyena sīlakkhandhena samannāgato ajjhattaṁ anavajjasukhaṁ paṭisaṁvedeti.
They’re content with robes to look after the body and almsfood to look after the belly. Wherever they go, they set out taking only these things. They’re like a bird: wherever it flies, wings are its only burden. In the same way, a mendicant is content with robes to look after the body and almsfood to look after the belly. Wherever they go, they set out taking only these things. When they have this spectrum of noble ethics, they experience a blameless happiness inside themselves.
“Vị ấy biết đủ với y phục để che thân và vật thực khất thực để nuôi bụng. Dù đi đến đâu, vị ấy cũng chỉ mang theo (y bát). Giống như con chim có cánh, dù bay đi đâu, nó cũng chỉ bay đi với gánh nặng là đôi cánh của mình; cũng vậy, vị Tỳ khưu biết đủ với y phục để che thân và vật thực khất thực để nuôi bụng. Dù đi đến đâu, vị ấy cũng chỉ mang theo (y bát). Vị ấy, được trang bị với uẩn giới cao thượng này, cảm nhận được niềm hạnh phúc không thể chê trách ở nội tâm.”
So cakkhunā rūpaṁ disvā na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṁ cakkhundriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ, tassa saṁvarāya paṭipajjati; rakkhati cakkhundriyaṁ; cakkhundriye saṁvaraṁ āpajjati. Sotena saddaṁ sutvā … ghānena gandhaṁ ghāyitvā … jivhāya rasaṁ sāyitvā … kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā … manasā dhammaṁ viññāya na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī. Yatvādhikaraṇamenaṁ manindriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ, tassa saṁvarāya paṭipajjati; rakkhati manindriyaṁ; manindriye saṁvaraṁ āpajjati. So iminā ariyena indriyasaṁvarena samannāgato ajjhattaṁ abyāsekasukhaṁ paṭisaṁvedeti.
Seeing a sight with the eyes, they don’t get caught up in the features and details. If the faculty of sight were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of sight, and achieving its restraint. Hearing a sound with their ears … Smelling an odor with their nose … Tasting a flavor with their tongue … Encountering a touch with their body … Knowing an idea with their mind, they don’t get caught up in the features and details. If the faculty of mind were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of mind, and achieving its restraint. When they have this noble sense restraint, they experience an unsullied bliss inside themselves.
“Vị ấy, sau khi dùng mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Do nhân duyên nào, nếu vị ấy sống không phòng hộ nhãn căn thì các pháp ác, bất thiện là tham ái và ưu phiền sẽ xâm nhập, vị ấy thực hành sự phòng hộ nhãn căn, hộ trì nhãn căn, đạt đến sự phòng hộ trong nhãn căn. Sau khi dùng tai nghe tiếng... sau khi dùng mũi ngửi hương... sau khi dùng lưỡi nếm vị... sau khi dùng thân cảm xúc... sau khi dùng ý biết pháp, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Do nhân duyên nào, nếu vị ấy sống không phòng hộ ý căn thì các pháp ác, bất thiện là tham ái và ưu phiền sẽ xâm nhập, vị ấy thực hành sự phòng hộ ý căn, hộ trì ý căn, đạt đến sự phòng hộ trong ý căn. Vị ấy, sau khi được thành tựu phòng hộ các căn cao quý này, nội tâm cảm nhận được lạc thọ không bị phiền não.
So abhikkante paṭikkante sampajānakārī hoti, ālokite vilokite sampajānakārī hoti, samiñjite pasārite sampajānakārī hoti, saṅghāṭipattacīvaradhāraṇe sampajānakārī hoti, asite pīte khāyite sāyite sampajānakārī hoti, uccārapassāvakamme sampajānakārī hoti, gate ṭhite nisinne sutte jāgarite bhāsite tuṇhībhāve sampajānakārī hoti.
They act with situational awareness when going out and coming back; when looking ahead and aside; when bending and extending the limbs; when bearing the outer robe, bowl and robes; when eating, drinking, chewing, and tasting; when urinating and defecating; when walking, standing, sitting, sleeping, waking, speaking, and keeping silent.
“Vị ấy có sự tỉnh giác trong khi đi tới, đi lui; có sự tỉnh giác trong khi nhìn thẳng, nhìn quanh; có sự tỉnh giác trong khi co tay, duỗi tay; có sự tỉnh giác trong khi mang y tăng-già-lê, bát, và y; có sự tỉnh giác trong khi ăn, uống, nhai, nếm; có sự tỉnh giác trong khi đại tiện, tiểu tiện; có sự tỉnh giác trong khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng.
So iminā ca ariyena sīlakkhandhena samannāgato, imāya ca ariyāya santuṭṭhiyā samannāgato, iminā ca ariyena indriyasaṁvarena samannāgato, iminā ca ariyena satisampajaññena samannāgato vivittaṁ senāsanaṁ bhajati araññaṁ rukkhamūlaṁ pabbataṁ kandaraṁ giriguhaṁ susānaṁ vanappatthaṁ abbhokāsaṁ palālapuñjaṁ. So pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto nisīdati pallaṅkaṁ ābhujitvā ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvā. So abhijjhaṁ loke pahāya vigatābhijjhena cetasā viharati, abhijjhāya cittaṁ parisodheti. Byāpādapadosaṁ pahāya abyāpannacitto viharati sabbapāṇabhūtahitānukampī, byāpādapadosā cittaṁ parisodheti. Thinamiddhaṁ pahāya vigatathinamiddho viharati ālokasaññī sato sampajāno, thinamiddhā cittaṁ parisodheti. Uddhaccakukkuccaṁ pahāya anuddhato viharati ajjhattaṁ vūpasantacitto, uddhaccakukkuccā cittaṁ parisodheti. Vicikicchaṁ pahāya tiṇṇavicikiccho viharati akathaṅkathī kusalesu dhammesu, vicikicchāya cittaṁ parisodheti. So ime pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe vivicceva kāmehi …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
When they have this spectrum of noble ethics, this noble contentment, this noble sense restraint, and this noble mindfulness and situational awareness, they frequent a secluded lodging—a wilderness, the root of a tree, a hill, a ravine, a mountain cave, a charnel ground, a forest, the open air, a heap of straw. After the meal, they return from almsround, sit down cross-legged, set their body straight, and bring mindfulness to the present. Giving up covetousness for the world, they meditate with a heart rid of covetousness, cleansing the mind of covetousness. Giving up ill will and malevolence, they meditate with a mind rid of ill will, full of sympathy for all living beings, cleansing the mind of ill will. Giving up dullness and drowsiness, they meditate with a mind rid of dullness and drowsiness, perceiving light, mindful and aware, cleansing the mind of dullness and drowsiness. Giving up restlessness and remorse, they meditate without restlessness, their mind settled internally, cleansing the mind of restlessness and remorse. Giving up doubt, they meditate having gone beyond doubt, not undecided about skillful qualities, cleansing the mind of doubt. They give up these five hindrances, corruptions of the heart that weaken wisdom. Then, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, they enter and remain in the first absorption … second absorption … third absorption … fourth absorption.
“Vị ấy, sau khi được thành tựu uẩn giới cao quý này, (sau khi được thành tựu sự tri túc cao quý này,) sau khi được thành tựu phòng hộ các căn cao quý này, sau khi được thành tựu chánh niệm và tỉnh giác cao quý này, tìm đến trú xứ vắng vẻ: khu rừng, gốc cây, ngọn núi, hang động, khe núi, nghĩa địa, lùm cây rậm, ngoài trời, đống rơm. Vị ấy, sau khi đi khất thực trở về, sau bữa ăn, ngồi kiết-già, giữ thân ngay thẳng, an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát khỏi tham ái, gột sạch tâm khỏi tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, có lòng thương tưởng đến lợi ích của tất cả chúng sanh, gột sạch tâm khỏi sân hận. Từ bỏ hôn trầm và thụy miên, vị ấy sống thoát khỏi hôn trầm và thụy miên, với tưởng về ánh sáng, chánh niệm, tỉnh giác, gột sạch tâm khỏi hôn trầm và thụy miên. Từ bỏ trạo cử và hối quá, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm an tịnh, gột sạch tâm khỏi trạo cử và hối quá. Từ bỏ hoài nghi, vị ấy sống vượt qua hoài nghi, không còn phân vân đối với các thiện pháp, gột sạch tâm khỏi hoài nghi. Vị ấy, sau khi từ bỏ năm triền cái này là những cấu uế của tâm, làm trí tuệ suy yếu, ly dục... cho đến... chứng đạt và an trú vào thiền thứ tư.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte pubbenivāsānussatiñāṇāya …pe… sattānaṁ cutūpapātañāṇāya …pe… āsavānaṁ khayañāṇāya cittaṁ abhininnāmeti. So ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti. ‘Ime āsavā’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
When their mind has become immersed in samādhi like this—purified, bright, flawless, rid of corruptions, pliable, workable, steady, and imperturbable—they extend it toward recollection of past lives … knowledge of the death and rebirth of sentient beings … knowledge of the ending of defilements. They truly understand: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’. They truly understand: ‘These are defilements’ … ‘This is the origin of defilements’ … ‘This is the cessation of defilements’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of defilements’.
“Vị ấy, với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, không dao động như vậy, hướng tâm, dẫn tâm đến lậu tận trí. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là khổ’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là khổ tập’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là khổ diệt’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là con đường đưa đến khổ diệt’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là các lậu hoặc’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là nguyên nhân của các lậu hoặc’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là sự diệt tận của các lậu hoặc’. Vị ấy tuệ tri như thật: ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt tận của các lậu hoặc’.
Tassa evaṁ jānato evaṁ passato kāmāsavāpi cittaṁ vimuccati, bhavāsavāpi cittaṁ vimuccati, avijjāsavāpi cittaṁ vimuccati; vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti. Evaṁ kho, bhikkhave, puggalo nevattantapo hoti nāttaparitāpanānuyogamanuyutto na parantapo na paraparitāpanānuyogamanuyutto. So na attantapo na parantapo diṭṭheva dhamme nicchāto nibbuto sītībhūto sukhappaṭisaṁvedī brahmabhūtena attanā viharati.
Ime kho, bhikkhave, cattāro puggalā santo saṁvijjamānā lokasmin”ti.
Aṭṭhamaṁ.
Knowing and seeing like this, their mind is freed from the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’ That’s how one individual neither mortifies themselves nor others, pursuing the practice of not mortifying themselves or others, living without wishes in this very life, quenched, cooled, experiencing bliss, with self become divine.
These are the four individuals found in the world.”
“Đối với vị ấy, khi biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Trong sự giải thoát, khởi lên trí tuệ: ‘Đã được giải thoát’. Vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa’. Này các tỳ khưu, như vậy, cá nhân ấy không tự hành khổ, không chuyên tâm vào việc tự hành khổ, không hành khổ người khác, không chuyên tâm vào việc hành khổ người khác. Vị ấy không tự hành khổ, không hành khổ người khác, ngay trong hiện tại, không còn khao khát, đã được dập tắt, trở nên mát mẻ, cảm nhận lạc thọ, sống với tự thân đã trở nên thanh cao. Này các tỳ khưu, bốn hạng người này đang có mặt, hiện hữu ở trên đời.” Hết bài kinh thứ tám.