- Aṅguttara Nikāya 4.178
- 18. Sañcetaniyavagga
Bản dịch
AN 4.178 — Hồ Nước Ở Làng
Jambālīsutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý có thân diệt, do vị ấy tác ý có thân diệt, tâm không phấn chấn, không có tịnh tín, không an trú, không giải thoát đối với có thân diệt. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy không có chờ đợi được có thân diệt. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người lấy tay có dính nhựa cầm một cành cây, tay của vị ấy sẽ dính vào, nắm lấy, cột vào cành cây ấy. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý có thân diệt, do vị ấy tác ý có thân diệt, tâm không phấn chấn, không có tịnh tín, không an trú, không giải thoát đối với có thân diệt. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy không có chờ đợi được có thân diệt.
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chứng đạt và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý có thân diệt, do vị ấy tác ý có thân diệt, tâm vị ấy phấn chấn, tịnh tín, an trú và giải thoát đối với có thân diệt. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy được chờ đợi là có được có thân diệt. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người lấy tay sạch cầm một cành cây, tay của vị ấy không dính vào, không nắm lấy, không cột vào cành cây ấy. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý có thân diệt, do vị ấy tác ý có thân diệt, tâm vị ấy phấn chấn, tịnh tín, an trú và giải thoát đối với có thân diệt. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy được chờ đợi là có được có thân diệt.
TTC 3Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý phá hoại vô minh, không có phấn chấn, không có tịnh tín, không có an trú, không có giải thoát đối với phá hoại vô minh. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy không có chờ đợi được vô minh phá hoại. Ví như, này các Tỷ-kheo, một hồ nước đã được nhiều năm, có người đến bịt tất cả các lỗ nước chảy vào, mở ra tất cả các lỗ nước chảy ra, và trời lại không mưa đều đặn. Hồ nước như vậy, này các Tỷ-kheo, không có chờ đợi tức nước vỡ bờ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý phá hoại vô minh. Do vị ấy tác ý phá hoại vô minh, tâm không có phấn chấn, không có tịnh tín, không có an trú, không có giải thoát đối với phá hoại vô minh. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy không có chờ đợi được vô minh phá hoại .
TTC 4Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý phá hoại vô minh. Do vị ấy tác ý phá hoại vô minh, tâm có phấn chấn, có tịnh tín, có an trú, có giải thoát đối với phá hoại vô minh. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy có chờ đợi được vô minh phá hoại. Ví như, này các Tỷ-kheo, một hồ nước đã được nhiều năm, có người đến bịt tất cả các lỗ nước chảy ra, mở ra tất cả các lỗ nước chảy vào, và trời lại mưa đều đặn. Hồ nước như vậy, này các Tỷ-kheo, có chờ đợi tức nước vỡ bờ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được và an trú một loại an tịnh tâm giải thoát. Vị ấy tác ý phá hoại vô minh. Do vị ấy tác ý phá hoại vô minh, tâm có phấn chấn, có tịnh tín, có an trú, có giải thoát đối với phá hoại vô minh. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy có chờ đợi được phá hoại vô minh. Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 4.178
- 18. Intention
Billabong
8. Kinh Jambālī
“Cattārome, bhikkhave, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ. Katame cattāro?
Idha, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ santaṁ cetovimuttiṁ upasampajja viharati. So sakkāyanirodhaṁ manasi karoti. Tassa sakkāyanirodhaṁ manasi karoto sakkāyanirodhe cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati nādhimuccati. Tassa kho evaṁ, bhikkhave, bhikkhuno na sakkāyanirodho pāṭikaṅkho. Seyyathāpi, bhikkhave, puriso lepagatena hatthena sākhaṁ gaṇheyya, tassa so hattho sajjeyyapi gaṇheyyapi bajjheyyapi; evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ santaṁ cetovimuttiṁ upasampajja viharati. So sakkāyanirodhaṁ manasi karoti. Tassa sakkāyanirodhaṁ manasi karoto sakkāyanirodhe cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati nādhimuccati. Tassa kho evaṁ, bhikkhave, bhikkhuno na sakkāyanirodho pāṭikaṅkho.
“Mendicants, these four individuals are found in the world. What four?
Take a mendicant who enters and remains in a peaceful release of the heart. They focus on the cessation of substantial reality, but on that their mind does not leap forth, gain confidence, settle down, and become decided. You wouldn’t expect that mendicant to realize the cessation of substantial reality. Suppose a person were to grab a branch with a glue-smeared hand. Their hand would stick, hold, and bind to it. In the same way, take a mendicant who enters and remains in a peaceful release of the heart. They focus on the cessation of substantial reality, but on that their mind does not leap forth, gain confidence, settle down, and become decided. You wouldn’t expect that mendicant to realize the cessation of substantial reality.
178. Này các tỳ khưu, có bốn hạng người này hiện hữu, có mặt ở trên đời. Bốn hạng nào? Ở đây, này các tỳ khưu, có vị tỳ khưu chứng và trú một tâm giải thoát an tịnh nào đó. Vị ấy tác ý đến sự đoạn diệt của thân kiến. Khi vị ấy tác ý đến sự đoạn diệt của thân kiến, tâm không hướng vào, không tịnh tín, không an trú, không chuyên nhất vào sự đoạn diệt của thân kiến. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu như vậy, sự đoạn diệt của thân kiến không thể được mong đợi. Ví như, này các tỳ khưu, một người có bàn tay dính nhựa cây nắm lấy một cành cây, bàn tay của người ấy sẽ bị dính vào, bám vào, và trói buộc vào đó; cũng vậy, này các tỳ khưu, có vị tỳ khưu chứng và trú một tâm giải thoát an tịnh nào đó. Vị ấy tác ý đến sự đoạn diệt của thân kiến. Khi vị ấy tác ý đến sự đoạn diệt của thân kiến, tâm không hướng vào, không tịnh tín, không an trú, không chuyên nhất vào sự đoạn diệt của thân kiến. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu như vậy, sự đoạn diệt của thân kiến không thể được mong đợi.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ santaṁ cetovimuttiṁ upasampajja viharati. So sakkāyanirodhaṁ manasi karoti. Tassa sakkāyanirodhaṁ manasi karoto sakkāyanirodhe cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati adhimuccati. Tassa kho evaṁ, bhikkhave, bhikkhuno sakkāyanirodho pāṭikaṅkho. Seyyathāpi, bhikkhave, puriso suddhena hatthena sākhaṁ gaṇheyya, tassa so hattho neva sajjeyya na gaṇheyya na bajjheyya; evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ santaṁ cetovimuttiṁ upasampajja viharati. So sakkāyanirodhaṁ manasi karoti. Tassa sakkāyanirodhaṁ manasi karoto sakkāyanirodhe cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati adhimuccati. Tassa kho evaṁ, bhikkhave, bhikkhuno sakkāyanirodho pāṭikaṅkho.
Next, take a mendicant who enters and remains in a peaceful release of the heart. They focus on the cessation of substantial reality, and on that their mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided. You would expect that mendicant to realize the cessation of substantial reality. Suppose a person were to grab a branch with a clean hand. Their hand wouldn’t stick, hold, or bind to it. In the same way, take a mendicant who enters and remains in a peaceful release of the heart. They focus on the cessation of substantial reality, and on that their mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided. You would expect that mendicant to realize the cessation of substantial reality.
Lại nữa, này các tỳ khưu, ở đây có vị tỳ khưu chứng và trú một tâm giải thoát an tịnh nào đó. Vị ấy tác ý đến sự đoạn diệt của thân kiến. Khi vị ấy tác ý đến sự đoạn diệt của thân kiến, tâm hướng vào, tịnh tín, an trú, chuyên nhất vào sự đoạn diệt của thân kiến. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu như vậy, sự đoạn diệt của thân kiến có thể được mong đợi. Ví như, này các tỳ khưu, một người có bàn tay sạch sẽ nắm lấy một cành cây, bàn tay của người ấy sẽ không bị dính vào, không bám vào, không bị trói buộc vào đó; cũng vậy, này các tỳ khưu, có vị tỳ khưu chứng và trú một tâm giải thoát an tịnh nào đó. Vị ấy tác ý đến sự đoạn diệt của thân kiến. Khi vị ấy tác ý đến sự đoạn diệt của thân kiến, tâm hướng vào, tịnh tín, an trú, chuyên nhất vào sự đoạn diệt của thân kiến. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu như vậy, sự đoạn diệt của thân kiến có thể được mong đợi.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ santaṁ cetovimuttiṁ upasampajja viharati. So avijjāppabhedaṁ manasi karoti. Tassa avijjāppabhedaṁ manasi karoto avijjāppabhede cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati nādhimuccati. Tassa kho evaṁ, bhikkhave, bhikkhuno na avijjāppabhedo pāṭikaṅkho. Seyyathāpi, bhikkhave, jambālī anekavassagaṇikā. Tassā puriso yāni ceva āyamukhāni tāni pidaheyya, yāni ca apāyamukhāni tāni vivareyya, devo ca na sammā dhāraṁ anuppaveccheyya. Evañhi tassā, bhikkhave, jambāliyā na āḷippabhedo pāṭikaṅkho. Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ santaṁ cetovimuttiṁ upasampajja viharati. So avijjāppabhedaṁ manasi karoti. Tassa avijjāppabhedaṁ manasi karoto avijjāppabhede cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati nādhimuccati. Tassa kho evaṁ, bhikkhave, bhikkhuno na avijjāppabhedo pāṭikaṅkho.
Next, take a mendicant who enters and remains in a peaceful release of the heart. They focus on smashing ignorance, but on that their mind does not leap forth, gain confidence, settle down, and become decided. You wouldn’t expect that mendicant to smash ignorance. Suppose there was a billabong that had been stagnant for many years. And someone was to close off the inlets and open up the drains, and the heavens didn’t provide enough rain. You wouldn’t expect that billabong to break its banks. In the same way, take a mendicant who enters and remains in a certain peaceful release of the heart. They focus on smashing ignorance, but on that their mind does not leap forth, gain confidence, settle down, and become decided. You wouldn’t expect that mendicant to smash ignorance.
Lại nữa, này các tỳ khưu, ở đây có vị tỳ khưu chứng và trú một tâm giải thoát an tịnh nào đó. Vị ấy tác ý đến sự phá vỡ vô minh. Khi vị ấy tác ý đến sự phá vỡ vô minh, tâm không hướng vào, không tịnh tín, không an trú, không chuyên nhất vào sự phá vỡ vô minh. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu như vậy, sự phá vỡ vô minh không thể được mong đợi. Ví như, này các tỳ khưu, có một cái ao tù đã nhiều năm. Một người có thể bịt tất cả các miệng cống dẫn nước vào, và mở tất cả các miệng cống dẫn nước ra, và trời cũng không mưa xuống đều đặn. Này các tỳ khưu, trong trường hợp như vậy, sự vỡ bờ của ao tù ấy không thể được mong đợi. Cũng vậy, này các tỳ khưu, có vị tỳ khưu chứng và trú một tâm giải thoát an tịnh nào đó. Vị ấy tác ý đến sự phá vỡ vô minh. Khi vị ấy tác ý đến sự phá vỡ vô minh, tâm không hướng vào, không tịnh tín, không an trú, không chuyên nhất vào sự phá vỡ vô minh. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu như vậy, sự phá vỡ vô minh không thể được mong đợi.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ santaṁ cetovimuttiṁ upasampajja viharati. So avijjāppabhedaṁ manasi karoti. Tassa avijjāppabhedaṁ manasi karoto avijjāppabhede cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati adhimuccati. Tassa kho evaṁ, bhikkhave, bhikkhuno avijjāppabhedo pāṭikaṅkho. Seyyathāpi, bhikkhave, jambālī anekavassagaṇikā. Tassā puriso yāni ceva āyamukhāni tāni vivareyya, yāni ca apāyamukhāni tāni pidaheyya, devo ca sammā dhāraṁ anuppaveccheyya. Evañhi tassā, bhikkhave, jambāliyā āḷippabhedo pāṭikaṅkho. Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ santaṁ cetovimuttiṁ upasampajja viharati. So avijjāppabhedaṁ manasi karoti. Tassa avijjāppabhedaṁ manasi karoto avijjāppabhede cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati adhimuccati. Tassa kho evaṁ, bhikkhave, bhikkhuno avijjāppabhedo pāṭikaṅkho.
Ime kho, bhikkhave, cattāro puggalā santo saṁvijjamānā lokasmin”ti.
Aṭṭhamaṁ.
Next, take a mendicant who enters and remains in a peaceful release of the heart. They focus on smashing ignorance, and on that their mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided. You would expect that mendicant to smash ignorance. Suppose there was a billabong that had been stagnant for many years. And someone was to open up the inlets and close off the drains, and the heavens provided plenty of rain. You would expect that billabong to break its banks. In the same way, take a mendicant who enters and remains in a certain peaceful release of the heart. They focus on smashing ignorance, and on that their mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided. You would expect that mendicant to smash ignorance.
These are the four individuals found in the world.”
Này các Tỳ khưu, lại nữa, ở đây, vị Tỳ khưu sau khi chứng đạt và an trú vào một loại tâm giải thoát nào đó thanh tịnh. Vị ấy tác ý đến sự phá vỡ vô minh. Đối với vị ấy, trong khi tác ý đến sự phá vỡ vô minh, tâm của vị ấy đi vào, trở nên trong sáng, được an lập, và được quyết đoán ở nơi sự phá vỡ vô minh. Này các Tỳ khưu, như vậy, đối với vị Tỳ khưu ấy, sự phá vỡ vô minh là điều có thể được trông đợi. Ví như, này các Tỳ khưu, có một hồ chứa nước tù đọng đã nhiều năm. Có người đàn ông mở ra các miệng cống dẫn nước vào, và đắp lại các miệng cống dẫn nước ra, và trời lại mưa đều đặn. Này các Tỳ khưu, như vậy, sự vỡ bờ của hồ chứa nước tù đọng ấy là điều có thể được trông đợi. Cũng thế ấy, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu sau khi chứng đạt và an trú vào một loại tâm giải thoát nào đó thanh tịnh. Vị ấy tác ý đến sự phá vỡ vô minh. Đối với vị ấy, trong khi tác ý đến sự phá vỡ vô minh, tâm của vị ấy đi vào, trở nên trong sáng, được an lập, và được quyết đoán ở nơi sự phá vỡ vô minh. Này các Tỳ khưu, như vậy, đối với vị Tỳ khưu ấy, sự phá vỡ vô minh là điều có thể được trông đợi. Này các Tỳ khưu, bốn hạng người này đang có mặt, hiện hữu ở trên đời. (Kinh) thứ tám.