- Aṅguttara Nikāya 4.176
- 18. Sañcetaniyavagga
Bản dịch
AN 4.176 — Mong Cầu
Āyācanasutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có lòng tin, nếu chơn chánh mong cầu, hãy mong cầu như sau: “Mong ta sẽ được như Sàriputta, Moggallàna”.
Này các Tỷ-kheo, họ là cán cân, là đồ để đo lường các đệ tử Tỷ-kheo của ta, tức là Sàriputta, Moggallàna.
TTC 2Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni có lòng tin, nếu chơn chánh mong cầu, hãy mong cầu như sau: “Mong ta sẽ được như Khema và Tỷ-kheo-ni Uppalavannà”.
Này các Tỷ-kheo, họ là cán cân, là đồ để đo lường các đệ tử Tỷ-kheo-ni của ta, tức là Khema và Uppalavannà.
TTC 3Này các Tỷ-kheo, nam cư sĩ có lòng tin, nếu chơn chánh mong cầu, hãy mong cầu như sau: “Mong ta sẽ được như gia chủ Citta, và Hatthaka người Alavì”.
Này các Tỷ-kheo, họ là cán cân, là đồ để đo lường các đệ tử nam cư sĩ của ta, tức là gia chủ Citta và Hatthaka người Alavì.
TTC 4Này các Tỷ-kheo, nữ cư sĩ có lòng tin, nếu chơn chánh mong cầu, hãy mong cầu như sau: “Mong ta sẽ được như nữ cư sĩ Khujjuttarà và Velukantaki, mẹ của Nandà”.
Này các Tỷ-kheo, họ là cán cân, là đồ để đo lường các đệ tử nữ cư sĩ của ta, tức là nữ cư sĩ Khujjuttarà và Velukantaki, mẹ của Nandà.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 4.176
- 18. Intention
Aspiration
6. Kinh Ước Nguyện
“Saddho, bhikkhave, bhikkhu evaṁ sammā āyācamāno āyāceyya: ‘tādiso homi yādisā sāriputtamoggallānā’ti. Esā, bhikkhave, tulā etaṁ pamāṇaṁ mama sāvakānaṁ bhikkhūnaṁ, yadidaṁ sāriputtamoggallānā.
“Mendicants, a faithful monk would rightly aspire: ‘May I be like Sāriputta and Moggallāna!’ These are a standard and a measure for my monk disciples, that is, Sāriputta and Moggallāna.
176. “Này các Tỳ khưu, một Tỳ khưu có đức tin, khi ước nguyện một cách chân chánh, nên ước nguyện như sau: ‘Mong sao tôi được như Sāriputta và Moggallāna!’ Này các Tỳ khưu, đây là cán cân, đây là thước đo cho các đệ tử Tỳ khưu của ta, tức là Sāriputta và Moggallāna.
Saddhā, bhikkhave, bhikkhunī evaṁ sammā āyācamānā āyāceyya: ‘tādisā homi yādisā khemā ca bhikkhunī uppalavaṇṇā cā’ti. Esā, bhikkhave, tulā etaṁ pamāṇaṁ mama sāvikānaṁ bhikkhunīnaṁ, yadidaṁ khemā ca bhikkhunī uppalavaṇṇā ca.
A faithful nun would rightly aspire: ‘May I be like the nuns Khemā and Uppalavaṇṇā!’ These are a standard and a measure for my nun disciples, that is, the nuns Khemā and Uppalavaṇṇā.
“Này các Tỳ khưu, một Tỳ khưu ni có đức tin, khi ước nguyện một cách chân chánh, nên ước nguyện như sau: ‘Mong sao tôi được như Tỳ khưu ni Khemā và Tỳ khưu ni Uppalavaṇṇā!’ Này các Tỳ khưu, đây là cán cân, đây là thước đo cho các đệ tử Tỳ khưu ni của ta, tức là Tỳ khưu ni Khemā và Tỳ khưu ni Uppalavaṇṇā.
Saddho, bhikkhave, upāsako evaṁ sammā āyācamāno āyāceyya: ‘tādiso homi yādiso citto ca gahapati hatthako ca āḷavako’ti. Esā, bhikkhave, tulā etaṁ pamāṇaṁ mama sāvakānaṁ upāsakānaṁ, yadidaṁ citto ca gahapati hatthako ca āḷavako.
A faithful layman would rightly aspire: ‘May I be like the householder Citta and Hatthaka of Āḷavī!’ These are a standard and a measure for my male lay disciples, that is, the householder Citta and Hatthaka of Āḷavī.
“Này các Tỳ khưu, một nam cư sĩ có đức tin, khi ước nguyện một cách chân chánh, nên ước nguyện như sau: ‘Mong sao tôi được như gia chủ Citta và Hatthaka người Āḷavī!’ Này các Tỳ khưu, đây là cán cân, đây là thước đo cho các đệ tử nam cư sĩ của ta, tức là gia chủ Citta và Hatthaka người Āḷavī.
Saddhā, bhikkhave, upāsikā evaṁ sammā āyācamānā āyāceyya: ‘tādisā homi yādisā khujjuttarā ca upāsikā veḷukaṇḍakiyā ca nandamātā’ti. Esā, bhikkhave, tulā etaṁ pamāṇaṁ mama sāvikānaṁ upāsikānaṁ, yadidaṁ khujjuttarā ca upāsikā veḷukaṇḍakiyā ca nandamātā”ti.
Chaṭṭhaṁ.
A faithful laywoman would rightly aspire: ‘May I be like the laywomen Khujjuttarā and Veḷukaṇṭakī, Nanda’s mother!’ These are a standard and a measure for my female lay disciples, that is, the laywomen Khujjuttarā and Veḷukaṇṭakī, Nanda’s mother.”
“Này các Tỳ khưu, một nữ cư sĩ có đức tin, khi ước nguyện một cách chân chánh, nên ước nguyện như sau: ‘Mong sao tôi được như nữ cư sĩ Khujjuttarā và Nandamātā người Veḷukaṇḍakī!’ Này các Tỳ khưu, đây là cán cân, đây là thước đo cho các đệ tử nữ cư sĩ của ta, tức là nữ cư sĩ Khujjuttarā và Nandamātā người Veḷukaṇḍakī.”