- Aṅguttara Nikāya 4.175
- 18. Sañcetaniyavagga
Bản dịch
AN 4.175 — Upavàna
Upavāṇasutta
TTC 1Rồi Tôn giả Upavàna đi đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, nói với Tôn giả Sàriputta … ngồi xuống một bên.
—Thưa Hiền giả Sàriputta, có thể có người chấm dứt (đau khổ) nhờ minh hay không?
—Thưa không, này Hiền giả.
—Thưa Hiền giả Sàriputta, có thể có người chấm dứt (đau khổ) nhờ hạnh hay không?
—Thưa không, này Hiền giả.
—Thưa Hiền giả Sàriputta, có thể có người chấm dứt (đau khổ) nhờ minh và hạnh hay không?
—Thưa không, này Hiền giả.
—Thưa Hiền giả Sàriputta, có thể có người chấm dứt (đau khổ) ngoài minh và hạnh hay không?
—Thưa không, này Hiền giả.
TTC 2—Khi được hỏi: “Thưa Tôn giả Sàriputta, có thể có người chấm dứt (đau khổ) nhờ minh hay không?”, Tôn giả nói: “Thưa không, này Hiền giả”. Khi được hỏi: “Thưa Tôn giả Sàriputta, có thể có người chấm dứt (đau khổ) nhờ hạnh hay không?”, Tôn giả nói: “Thưa không, này Hiền giả”. Khi được hỏi: “Thưa Tôn giả Sàriputta, có thể có người chấm dứt (đau khổ) nhờ minh và hạnh hay không?”, Tôn giả nói: “Thưa không, này Hiền giả”. Khi được hỏi: “Thưa Tôn giả Sàriputta, có thể có người chấm dứt (đau khổ) ngoài minh và hạnh hay không?”, Tôn giả nói: “Thưa không, này Hiền giả”. … Như thế nào, thưa Tôn giả, (cần phải hiểu) có người chấm dứt (đau khổ)?
TTC 3—Này Hiền giả, nếu có người chấm dứt (đau khổ) nhờ minh, thời người ấy vẫn là người chấm dứt (đau khổ) với chấp thủ. Này Hiền giả, nếu có người chấm dứt (đau khổ) nhờ hạnh, thời người ấy vẫn là người chấm dứt (đau khổ) với chấp thủ. Này Hiền giả, nếu có người chấm dứt (đau khổ) nhờ minh và hạnh, thời người ấy vẫn là người chấm dứt (đau khổ) với chấp thủ. Này Hiền giả, nếu có người chấm dứt (đau khổ) ngoài minh và hạnh, thời một người phàm phu có thể là người chấm dứt (đau khổ). Thưa Hiền giả, người phàm phu không có minh và hạnh nên không như thật thấy và biết, nhưng nếu có minh và hạnh đầy đủ như thật thấy và biết, là người chấm dứt (đau khổ).
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 4.175
- 18. Intention
With Upavāṇa
5. Kinh Upavāṇa
Atha kho āyasmā upavāṇo yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā sāriputtena saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā upavāṇo āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
Then Venerable Upavāṇa went up to Venerable Sāriputta, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, Upavāṇa sat down to one side, and said to Sāriputta:
175. Rồi tôn giả Upavāṇa đi đến chỗ tôn giả Sāriputta; sau khi đến, đã cùng tôn giả Sāriputta chào hỏi thân mật. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân mật và đáng ghi nhớ, ngài ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, tôn giả Upavāṇa nói với tôn giả Sāriputta điều này:
“Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, vijjāyantakaro hotī”ti?
“Reverend Sāriputta, do you become a terminator because of knowledge?”
“Thưa hiền giả Sāriputta, có phải người ta chấm dứt (khổ đau) bằng minh không?”
“No hidaṁ, āvuso”.
“That’s not it, reverend.”
“Thưa hiền giả, không phải vậy.”
“Kiṁ panāvuso sāriputta, caraṇenantakaro hotī”ti?
“Do you become a terminator because of conduct?”
“Vậy thì, thưa hiền giả Sāriputta, có phải người ta chấm dứt (khổ đau) bằng hạnh không?”
“No hidaṁ, āvuso”.
“That’s not it, reverend.”
“Thưa hiền giả, không phải vậy.”
“Kiṁ panāvuso sāriputta, vijjācaraṇenantakaro hotī”ti?
“Do you become a terminator because of both knowledge and conduct?”
“Vậy thì, thưa hiền giả Sāriputta, có phải người ta chấm dứt (khổ đau) bằng minh và hạnh không?”
“No hidaṁ, āvuso”.
“That’s not it, reverend.”
“Thưa hiền giả, không phải vậy.”
“Kiṁ panāvuso sāriputta, aññatra vijjācaraṇenantakaro hotī”ti?
“Do you become a terminator for some reason other than knowledge and conduct?”
“Vậy thì, thưa hiền giả Sāriputta, có phải người ta chấm dứt (khổ đau) ngoài minh và hạnh không?”
“No hidaṁ, āvuso”.
“That’s not it, reverend.”
“Thưa hiền giả, không phải vậy.”
“‘Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, vijjāyantakaro hotī’ti, iti puṭṭho samāno: ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi. ‘Kiṁ panāvuso sāriputta, caraṇenantakaro hotī’ti, iti puṭṭho samāno: ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi. ‘Kiṁ panāvuso sāriputta, vijjācaraṇenantakaro hotī’ti, iti puṭṭho samāno: ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi. ‘Kiṁ panāvuso sāriputta, aññatra vijjācaraṇenantakaro hotī’ti, iti puṭṭho samāno: ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi. Yathā kathaṁ panāvuso, antakaro hotī”ti?
“Reverend Sāriputta, when asked whether you become a terminator because of knowledge or conduct or knowledge and conduct, or for some other reason, you say ‘that’s not it’. How then do you become a terminator?”
“Khi được hỏi: ‘Thưa hiền giả Sāriputta, có phải người ta chấm dứt (khổ đau) bằng minh không?’, ngài đã trả lời: ‘Thưa hiền giả, không phải vậy.’ Khi được hỏi: ‘Vậy thì, thưa hiền giả Sāriputta, có phải người ta chấm dứt (khổ đau) bằng hạnh không?’, ngài đã trả lời: ‘Thưa hiền giả, không phải vậy.’ Khi được hỏi: ‘Vậy thì, thưa hiền giả Sāriputta, có phải người ta chấm dứt (khổ đau) bằng minh và hạnh không?’, ngài đã trả lời: ‘Thưa hiền giả, không phải vậy.’ Khi được hỏi: ‘Vậy thì, thưa hiền giả Sāriputta, có phải người ta chấm dứt (khổ đau) ngoài minh và hạnh không?’, ngài đã trả lời: ‘Thưa hiền giả, không phải vậy.’ Vậy thì, thưa hiền giả, làm thế nào để chấm dứt (khổ đau)?”
“Vijjāya ce, āvuso, antakaro abhavissa, saupādānova samāno antakaro abhavissa. Caraṇena ce, āvuso, antakaro abhavissa, saupādānova samāno antakaro abhavissa. Vijjācaraṇena ce, āvuso, antakaro abhavissa, saupādānova samāno antakaro abhavissa. Aññatra vijjācaraṇena ce, āvuso, antakaro abhavissa, puthujjano antakaro abhavissa. Puthujjano hi, āvuso, aññatra vijjācaraṇena. Caraṇavipanno kho, āvuso, yathābhūtaṁ na jānāti na passati. Caraṇasampanno yathābhūtaṁ jānāti passati. Yathābhūtaṁ jānaṁ passaṁ antakaro hotī”ti.
Pañcamaṁ.
“Reverend, if you became a terminator because of knowledge, then even someone who still grasps fuel could be a terminator. If you became a terminator because of conduct, then even someone who still grasps fuel could be a terminator. If you became a terminator because of both knowledge and conduct, then even someone who still grasps fuel could be a terminator. If you became a terminator for some reason other than knowledge and conduct, then even an ordinary person could be a terminator. For an ordinary person lacks knowledge and conduct. Reverend, someone lacking good conduct does not know and see things as they are. Someone accomplished in good conduct knows and sees things as they are. Knowing and seeing things as they are, one is a terminator.”
“Này hiền giả, nếu người ta chấm dứt (khổ đau) bằng minh, thì người ấy sẽ chấm dứt (khổ đau) trong khi vẫn còn chấp thủ. Này hiền giả, nếu người ta chấm dứt (khổ đau) bằng hạnh, thì người ấy sẽ chấm dứt (khổ đau) trong khi vẫn còn chấp thủ. Này hiền giả, nếu người ta chấm dứt (khổ đau) bằng minh và hạnh, thì người ấy sẽ chấm dứt (khổ đau) trong khi vẫn còn chấp thủ. Này hiền giả, nếu người ta chấm dứt (khổ đau) ngoài minh và hạnh, thì kẻ phàm phu cũng sẽ chấm dứt (khổ đau). Vì này hiền giả, kẻ phàm phu thì không có minh và hạnh. Này hiền giả, người khiếm khuyết về hạnh thì không biết, không thấy như thật. Người đầy đủ về hạnh thì biết, thấy như thật. Do biết và thấy như thật, người ấy chấm dứt (khổ đau).”