- Aṅguttara Nikāya 4.173
- 18. Sañcetaniyavagga
Bản dịch
AN 4.173 — Phân Tích
Mahākoṭṭhikasutta
Tại đây, Tôn giả Sàriputta gọi các Tỷ-kheo:
—Thưa các Hiền giả Tỷ-kheo.
—Thưa vâng Hiền giả. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như:
—Thưa các Hiền giả, sau khi tôi thọ đại giới nửa tháng, nghĩa là vô ngại giải được chứng ngộ, vừa đặc biệt, vừa theo văn cú. Vấn đề ấy, với nhiều pháp môn, tôi nói lên, tôi thuyết giảng, tôi nêu rõ, tôi trình bày, tôi an lập, tôi mở rộng, tôi phân tích, tôi phát lộ. Nếu ai có nghi ngờ gì hay phân vân gì, nào có ích gì người ấy hỏi tôi và tôi trả lời người ấy, khi bậc Ðạo sư có mặt trước chúng ta, một bậc rất khéo thiện xảo trong các pháp.
Thưa các Hiền giả, sau khi tôi thọ đại giới nửa tháng, pháp vô ngại giải được chứng ngộ, vừa đặc biệt … tôi phát lộ. Nếu ai có nghi ngờ gì hay phân vân gì, nào có ích gì người ấy hỏi tôi và tôi trả lời người ấy, khi bậc Ðạo sư có mặt trước chúng ta, một bậc rất khéo thiện xảo trong các pháp.
Thưa các Hiền giả, sau khi tôi thọ đại giới trong nửa tháng, từ vô ngại giải được chứng ngộ, vừa đặc biệt … tôi phát lộ. Nếu ai có nghi ngờ gì hay phân vân gì, nào có ích gì người ấy hỏi tôi và tôi trả lời người ấy, khi bậc Ðạo sư có mặt trước chúng ta, một bậc rất khéo thiện xảo trong các pháp.
Thưa các Hiền giả, sau khi tôi thọ đại giới nửa tháng, biện tài vô ngại giải được chứng ngộ, vừa đặc biệt, vừa theo văn cú. Vấn đề ấy, với nhiều pháp môn, tôi nói lên, tôi thuyết giảng, tôi nêu rõ, tôi trình bày, tôi an lập, tôi mở rộng, tôi phân tích, tôi phát lộ. Nếu ai có nghi ngờ gì hay phân vân gì, nào có ích gì người ấy hỏi tôi và tôi trả lời người ấy, khi bậc Ðạo sư có mặt trước chúng ta, một bậc rất khéo thiện xảo trong các pháp.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 4.173
- 18. Intention
With Mahākoṭṭhita
3. Kinh Mahākoṭṭhika
Atha kho āyasmā mahākoṭṭhiko yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā sāriputtena saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā mahākoṭṭhiko āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
Then Venerable Mahākoṭṭhita went up to Venerable Sāriputta, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, Mahākoṭṭhita sat down to one side, and said to Sāriputta:
173. Khi ấy, trưởng lão Mahākoṭṭhika đi đến chỗ trưởng lão Sāriputta; sau khi đến, vị ấy đã cùng với trưởng lão Sāriputta nói chuyện thân mật. Sau khi đã nói chuyện thân mật, đáng ghi nhớ, vị ấy ngồi xuống một bên. Trong khi ngồi một bên, trưởng lão Mahākoṭṭhika đã nói với trưởng lão Sāriputta điều này:
“Channaṁ, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā atthaññaṁ kiñcī”ti?
“Reverend, when the six fields of contact have faded away and ceased with no residue left behind, does something else still exist?”
– Này hiền giả, do sự đoạn tận và chấm dứt không còn dư tàn của sáu xứ của xúc, có điều gì khác hiện hữu không?
“Mā hevaṁ, āvuso”.
“Don’t put it like that, reverend.”
– Này hiền giả, chớ có nói như vậy.
“Channaṁ, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā natthaññaṁ kiñcī”ti?
“Does something else no longer exist?”
– Này hiền giả, do sự đoạn tận và chấm dứt không còn dư tàn của sáu xứ của xúc, không có điều gì khác hiện hữu phải không?
“Mā hevaṁ, āvuso”.
“Don’t put it like that, reverend.”
– Này hiền giả, chớ có nói như vậy.
“Channaṁ, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā atthi ca natthi ca aññaṁ kiñcī”ti?
“Does something else both still exist and no longer exist?”
– Này hiền giả, do sự đoạn tận và chấm dứt không còn dư tàn của sáu xứ của xúc, có điều gì khác vừa hiện hữu vừa không hiện hữu phải không?
“Mā hevaṁ, āvuso”.
“Don’t put it like that, reverend.”
– Này hiền giả, chớ có nói như vậy.
“Channaṁ, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā nevatthi no natthaññaṁ kiñcī”ti?
“Does something else neither still exist nor no longer exist?”
– Này hiền giả, do sự đoạn tận và chấm dứt không còn dư tàn của sáu xứ của xúc, có điều gì khác chẳng phải hiện hữu cũng chẳng phải không hiện hữu phải không?
“Mā hevaṁ, āvuso”.
“Don’t put it like that, reverend.”
– Này hiền giả, chớ có nói như vậy.
“‘Channaṁ, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā atthaññaṁ kiñcī’ti, iti puṭṭho samāno ‘mā hevaṁ, āvuso’ti vadesi. ‘Channaṁ, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā natthaññaṁ kiñcī’ti, iti puṭṭho samāno: ‘mā hevaṁ, āvuso’ti vadesi. ‘Channaṁ, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā atthi ca natthi ca aññaṁ kiñcī’ti, iti puṭṭho samāno: ‘mā hevaṁ, āvuso’ti vadesi. ‘Channaṁ, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā nevatthi no natthaññaṁ kiñcī’ti, iti puṭṭho samāno: ‘mā hevaṁ, āvuso’ti vadesi. Yathā kathaṁ pana, āvuso, imassa bhāsitassa attho daṭṭhabbo”ti?
“Reverend, when asked whether—when the six fields of contact have faded away and ceased with no residue left behind—something else still exists, you say ‘don’t put it like that’. When asked whether something else no longer exists, you say ‘don’t put it like that’. When asked whether something else both still exists and no longer exists, you say ‘don’t put it like that’. When asked whether something else neither still exists nor no longer exists, you say ‘don’t put it like that’. How then should we see the meaning of this statement?”
– Này hiền giả, khi được hỏi rằng: ‘Này hiền giả, do sự đoạn tận và chấm dứt không còn dư tàn của sáu xứ của xúc, có điều gì khác hiện hữu không?’ thì ngài nói: ‘Này hiền giả, chớ có nói như vậy.’ Khi được hỏi rằng: ‘Này hiền giả, do sự đoạn tận và chấm dứt không còn dư tàn của sáu xứ của xúc, không có điều gì khác hiện hữu phải không?’ thì ngài nói: ‘Này hiền giả, chớ có nói như vậy.’ Khi được hỏi rằng: ‘Này hiền giả, do sự đoạn tận và chấm dứt không còn dư tàn của sáu xứ của xúc, có điều gì khác vừa hiện hữu vừa không hiện hữu phải không?’ thì ngài nói: ‘Này hiền giả, chớ có nói như vậy.’ Khi được hỏi rằng: ‘Này hiền giả, do sự đoạn tận và chấm dứt không còn dư tàn của sáu xứ của xúc, có điều gì khác chẳng phải hiện hữu cũng chẳng phải không hiện hữu phải không?’ thì ngài nói: ‘Này hiền giả, chớ có nói như vậy.’ Vậy thì, này hiền giả, ý nghĩa của lời nói này cần phải được hiểu như thế nào?
“‘Channaṁ, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā atthaññaṁ kiñcī’ti, iti vadaṁ appapañcaṁ papañceti. ‘Channaṁ, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā natthaññaṁ kiñcī’ti, iti vadaṁ appapañcaṁ papañceti. ‘Channaṁ, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā atthi ca natthi ca aññaṁ kiñcī’ti, iti vadaṁ appapañcaṁ papañceti. ‘Channaṁ, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā nevatthi no natthaññaṁ kiñcī’ti, iti vadaṁ appapañcaṁ papañceti. Yāvatā, āvuso, channaṁ phassāyatanānaṁ gati tāvatā papañcassa gati; yāvatā papañcassa gati tāvatā channaṁ phassāyatanānaṁ gati. Channaṁ, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā papañcanirodho papañcavūpasamo”ti.
Tatiyaṁ.
“In saying that, ‘When the six fields of contact have faded away and ceased with no residue left behind, something else still exists’, you’re proliferating the unproliferated. In saying that, ‘something else no longer exists’, you’re proliferating the unproliferated. In saying that, ‘something else both still exists and no longer exists’, you’re proliferating the unproliferated. In saying that, ‘something else neither still exists nor no longer exists’, you’re proliferating the unproliferated. The scope of proliferation extends as far as the scope of the six fields of contact. The scope of the six fields of contact extends as far as the scope of proliferation. When the six fields of contact fade away and cease with no residue left behind, proliferation stops and is stilled.”
– Này hiền giả, người nào nói rằng: ‘Do sự đoạn tận và chấm dứt không còn dư tàn của sáu xứ của xúc, có điều gì khác hiện hữu,’ người ấy đang hý luận về điều không thể hý luận. Người nào nói rằng: ‘Do sự đoạn tận và chấm dứt không còn dư tàn của sáu xứ của xúc, không có điều gì khác hiện hữu,’ người ấy đang hý luận về điều không thể hý luận. Người nào nói rằng: ‘Do sự đoạn tận và chấm dứt không còn dư tàn của sáu xứ của xúc, có điều gì khác vừa hiện hữu vừa không hiện hữu,’ người ấy đang hý luận về điều không thể hý luận. Người nào nói rằng: ‘Do sự đoạn tận và chấm dứt không còn dư tàn của sáu xứ của xúc, có điều gì khác chẳng phải hiện hữu cũng chẳng phải không hiện hữu,’ người ấy đang hý luận về điều không thể hý luận. Này hiền giả, trong phạm vi nào có sự hiện hành của sáu xứ của xúc thì trong phạm vi ấy có sự hiện hành của hý luận; trong phạm vi nào có sự hiện hành của hý luận thì trong phạm vi ấy có sự hiện hành của sáu xứ của xúc. Này hiền giả, do sự đoạn tận và chấm dứt không còn dư tàn của sáu xứ của xúc, có sự chấm dứt của hý luận, có sự lắng dịu của hý luận. (Kinh thứ ba)