- Aṅguttara Nikāya 4.172
- 18. Sañcetaniyavagga
Bản dịch
AN 4.172 — Ðược Ngã Tánh
Vibhattisutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có bốn cách này để được ngã tánh. Thế nào là bốn?
Có cách được ngã tánh, này các Tỷ-kheo, trong cách được ngã tánh ấy, ngã tư tâm sở hoạt động, không phải do tư tâm sở của người khác. Có cách được ngã tánh, này các Tỷ-kheo, trong cách được ngã tánh ấy, tư tâm sở của người khác hoạt động, không phải tư tâm sở của mình. Có cách được ngã tánh, này các Tỷ-kheo, trong cách được ngã tánh ấy, ngã tư tâm sở và tư tâm sở của người khác cùng hoạt động. Có cách được ngã tánh, này các Tỷ-kheo, trong cách được ngã tánh ấy, ngã tư tâm sở và tư tâm sở của người khác không hoạt động.
Này các Tỷ-kheo, có bốn cách này để được ngã tánh.
TTC 2Khi được nói vậy, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, lời dạy tóm tắt này của Thế Tôn con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như sau: Tại đấy, bạch Thế Tôn, có cách được ngã tánh này, do cách được ngã tánh ấy, ngã tư tâm sở hoạt động, không phải do tư tâm sở của người khác. Do nhân ngã tư tâm sở, có sự mệnh chung từ bỏ thân ấy của các chúng sanh ấy. Tại đấy, bạch Thế Tôn, có các được ngã tánh này, do cách được ngã tánh ấy, tư tâm sở của người khác hoạt động, không phải ngã tư tâm sở. Do nhân tư tâm sở của người khác, có sự mệnh chung từ bỏ thân ấy của các chúng sanh ấy. Tại đấy, bạch Thế Tôn, có cách được ngã tánh này, do cách được ngã tánh ấy, ngã tư tâm sở và tư tâm sở của người khác cùng hoạt động. Do nhân ngã tư tâm sở và tư tâm sở của người khác, có sự mệnh chung, từ bỏ thân ấy của các chúng sanh ấy. Tại đấy, bạch Thế Tôn, có cách được ngã tánh này, do cách được ngã tánh ấy, ngã tư tâm sở và tư tâm sở của người khác không có hoạt động.
TTC 3Trong trường hợp ngã tư tâm sở và tư tâm sở của người khác không có hoạt động, thời hạng chư Thiên nào cần được xem là trong trường hợp này?
—Này Sàriputta, hạng chư Thiên đi đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ cần được xem là trong trường hợp ấy.
—Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây có hạng chúng sanh, sau khi mạng chung từ bỏ thân ấy, đã trở lui lại, đã trở lui lại trong trạng thái này? Do nhân gì, do duyên gì, ở đây có hạng chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung từ bỏ thân ấy, đã trở không trở lui lại, không trở lui lại trong trạng thái này?
TTC 4—Ở đây, này Sàriputta, đối với hạng người năm hạ phần kiết sử chưa đoạn tận, vị ấy ngay trong hiện tại, chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Vị ấy hưởng thọ vị ngọt ấy, có tâm ái luyến, tìm được hạnh phúc trong ấy. An trú ở đây hướng mạnh về đấy, sống nhiều với trạng thái ấy, không có thối đọa, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cộng trú với chư Thiên ở Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Vị ấy mệnh chung, từ bỏ (thân ái), đã trở lui lại, đã trở lui lại trạng thái này.
TTC 5Ở đây, này Sàriputta, đối với hạng người năm hạ phần kiết sử đã được đoạn tận, vị ấy ngay trong hiện tại, chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Vị ấy hưởng thọ vị ngọt ấy, có tâm ái luyến, tìm được hạnh phúc trong ấy. An trú ở đây hướng mạnh về đấy, sống nhiều với trạng thái ấy, không có thối đọa, khi thân hoại mạng chung được sanh cộng trú với chư Thiên ở Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Vị ấy mệnh chung, từ bỏ (thân ái) ấy, nhưng không trở lui lại, không trở lui lại trạng thái này.
Này Sàriputta, đây là nhân, đây là duyên, ở đây có hạng chúng sanh, sau khi mạng chung, từ bỏ thân ấy … đã không trở lui lại, không trở lui lại trạng thái này.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 4.172
- 18. Intention
Sāriputta’s Attainment of Textual Analysis
2. Kinh Phân Tích
Tatra kho āyasmā sāriputto bhikkhū āmantesi: “āvuso bhikkhave”ti.
“Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato sāriputtassa paccassosuṁ. Āyasmā sāriputto etadavoca:
There Sāriputta addressed the mendicants: “Reverends, mendicants!”
“Reverend,” they replied. Sāriputta said this:
172. Khi ấy, trưởng lão Sāriputta gọi các tỳ khưu: – Này chư hiền tỳ khưu. – Thưa hiền giả. Các vị tỳ khưu ấy đã vâng đáp trưởng lão Sāriputta. Trưởng lão Sāriputta đã nói điều này:
“Addhamāsūpasampannena me, āvuso, atthapaṭisambhidā sacchikatā odhiso byañjanaso. Tamahaṁ anekapariyāyena ācikkhāmi desemi paññāpemi paṭṭhapemi vivarāmi vibhajāmi uttānīkaromi. Yassa kho panassa kaṅkhā vā vimati vā, so maṁ pañhena. Ahaṁ veyyākaraṇena sammukhībhūto no satthā yo no dhammānaṁ sukusalo.
“Reverends, I realized the textual analysis of the meaning—piece by piece and expression by expression—a fortnight after I ordained. In many ways I explain, teach, assert, establish, clarify, analyze, and reveal it. Whoever has any doubt or uncertainty, let them ask me, I will answer. Our teacher is present, he who is so very skilled in our teachings.
– Này chư hiền, sau nửa tháng thọ cụ túc giới, tôi đã chứng ngộ Nghĩa Vô Ngại Giải về phương diện giới hạn và về phương diện văn tự. Điều ấy, tôi giảng dạy, thuyết giảng, trình bày, xác lập, khai thị, phân tích, làm cho hiển lộ bằng nhiều phương pháp. Về điều ấy, nếu ai có sự nghi ngờ hay do dự thì vị ấy hãy đến hỏi tôi. Bậc Đạo Sư của chúng ta, là người thiện xảo về các pháp của chúng ta, đang hiện diện. Tôi sẽ làm cho tâm của vị ấy được hài lòng qua lời giải đáp.
Addhamāsūpasampannena me, āvuso, dhammapaṭisambhidā sacchikatā odhiso byañjanaso. Tamahaṁ anekapariyāyena ācikkhāmi desemi paññāpemi paṭṭhapemi vivarāmi vibhajāmi uttānīkaromi. Yassa kho panassa kaṅkhā vā vimati vā, so maṁ pañhena. Ahaṁ veyyākaraṇena sammukhībhūto no satthā yo no dhammānaṁ sukusalo.
I realized the textual analysis of the text—piece by piece and expression by expression—a fortnight after I ordained. …
– Này chư hiền, sau nửa tháng thọ cụ túc giới, tôi đã chứng ngộ Pháp Vô Ngại Giải về phương diện giới hạn và về phương diện văn tự. Điều ấy, tôi giảng dạy, thuyết giảng, trình bày, xác lập, khai thị, phân tích, làm cho hiển lộ bằng nhiều phương pháp. Về điều ấy, nếu ai có sự nghi ngờ hay do dự thì vị ấy hãy đến hỏi tôi. Bậc Đạo Sư của chúng ta, là người thiện xảo về các pháp của chúng ta, đang hiện diện. Tôi sẽ làm cho tâm của vị ấy được hài lòng qua lời giải đáp.
Addhamāsūpasampannena me, āvuso, niruttipaṭisambhidā sacchikatā odhiso byañjanaso. Tamahaṁ anekapariyāyena ācikkhāmi desemi paññāpemi paṭṭhapemi vivarāmi vibhajāmi uttānīkaromi. Yassa kho panassa kaṅkhā vā vimati vā, so maṁ pañhena. Ahaṁ veyyākaraṇena sammukhībhūto no satthā yo no dhammānaṁ sukusalo.
I realized the textual analysis of definition—piece by piece and expression by expression—a fortnight after I ordained. …
– Này chư hiền, sau nửa tháng thọ cụ túc giới, tôi đã chứng ngộ Từ Vô Ngại Giải về phương diện giới hạn và về phương diện văn tự. Điều ấy, tôi giảng dạy, thuyết giảng, trình bày, xác lập, khai thị, phân tích, làm cho hiển lộ bằng nhiều phương pháp. Về điều ấy, nếu ai có sự nghi ngờ hay do dự thì vị ấy hãy đến hỏi tôi. Bậc Đạo Sư của chúng ta, là người thiện xảo về các pháp của chúng ta, đang hiện diện. Tôi sẽ làm cho tâm của vị ấy được hài lòng qua lời giải đáp.
Addhamāsūpasampannena me, āvuso, paṭibhānapaṭisambhidā sacchikatā odhiso byañjanaso. Tamahaṁ anekapariyāyena ācikkhāmi desemi paññāpemi paṭṭhapemi vivarāmi vibhajāmi uttānīkaromi. Yassa kho panassa kaṅkhā vā vimati vā, so maṁ pañhena. Ahaṁ veyyākaraṇena sammukhībhūto no satthā yo no dhammānaṁ sukusalo”ti.
Dutiyaṁ.
I realized the textual analysis of eloquence—piece by piece and expression by expression—a fortnight after I ordained. In many ways I explain, teach, assert, establish, clarify, analyze, and reveal it. If anyone has any doubt or uncertainty, let them ask me, I will answer. Our teacher is present, he who is so very skilled in our teachings.”
– Này chư hiền, sau nửa tháng thọ cụ túc giới, tôi đã chứng ngộ Biện Vô Ngại Giải về phương diện giới hạn và về phương diện văn tự. Điều ấy, tôi giảng dạy, thuyết giảng, trình bày, xác lập, khai thị, phân tích, làm cho hiển lộ bằng nhiều phương pháp. Về điều ấy, nếu ai có sự nghi ngờ hay do dự thì vị ấy hãy đến hỏi tôi. Bậc Đạo Sư của chúng ta, là người thiện xảo về các pháp của chúng ta, đang hiện diện. Tôi sẽ làm cho tâm của vị ấy được hài lòng qua lời giải đáp. (Kinh thứ hai)