- Aṅguttara Nikāya 4.167
- 17. Paṭipadāvagga
Bản dịch
AN 4.167 — Sàriputta Và Moggallàna
Mahāmoggallānasutta
TTC 1Rồi Tôn giả Sàriputta đi đến Tôn giả Moggallàna, sau khi đến, nói lên với Tôn giả Moggallàna những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Moggallàna:
—Này Hiền giả Moggallàna, có bốn đạo hành này. Thế nào là bốn?
Ðạo hành khổ, thắng trí chậm; Ðạo hành khổ, thắng trí nhanh; Ðạo hành lạc, thắng trí chậm; Ðạo hành lạc, thắng trí nhanh.
Này Hiền giả, có bốn đạo hành này.
TTC 2Trong bốn đạo hành này, này Hiền giả, đạo hành nào do đi đến đạo hành này, tâm của Hiền giả được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ?
—Này Hiền giả Sàriputta, có bốn đạo hành này. Thế nào là bốn?
Ðạo hành khổ, thắng trí chậm; Ðạo hành khổ, thắng trí nhanh; Ðạo hành lạc, thắng trí chậm; Ðạo hành lạc, thắng trí nhanh. Này Hiền giả, có bốn đạo hành này. Trong bốn đạo hành này, này Hiền giả, đạo hành này khổ, thắng trí nhanh. Do đi đến đạo hành này, tâm của tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 4.167
- 17. Practice
Moggallāna’s Practice
7. Kinh Đại Mục-kiền-liên
Atha kho āyasmā sāriputto yenāyasmā mahāmoggallāno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā mahāmoggallānena saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā sāriputto āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ etadavoca:
Then Venerable Sāriputta went up to Venerable Mahāmoggallāna, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, Sāriputta sat down to one side and said to Mahāmoggallāna:
167. Bấy giờ, Tôn giả Sāriputta đi đến chỗ Tôn giả Mahāmoggallāna; sau khi đến, cùng với Tôn giả Mahāmoggallāna nói lời chào hỏi thân hữu. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu, đáng ghi nhớ, ngài ngồi xuống một bên. Tôn giả Sāriputta, sau khi ngồi xuống một bên, nói với Tôn giả Mahāmoggallāna điều này:
“Catasso imā, āvuso moggallāna, paṭipadā. Katamā catasso?
- Dukkhā paṭipadā dandhābhiññā,
- dukkhā paṭipadā khippābhiññā,
- sukhā paṭipadā dandhābhiññā,
- sukhā paṭipadā khippābhiññā.
Imā kho, āvuso, catasso paṭipadā.
“Reverend Moggallāna, there are four ways of practice. What four?
- Painful practice with slow insight,
- painful practice with swift insight,
- pleasant practice with slow insight, and
- pleasant practice with swift insight.
These are the four ways of practice.
“Này hiền giả Moggallāna, có bốn pháp hành này. Bốn pháp nào? Khổ hành và chậm thắng trí, khổ hành và nhanh thắng trí, lạc hành và chậm thắng trí, lạc hành và nhanh thắng trí. Này hiền giả, đó là bốn pháp hành. Này hiền giả, trong bốn pháp hành này, nhờ vào pháp hành nào mà tâm của hiền giả được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ?”
“Catasso imā, āvuso sāriputta, paṭipadā. Katamā catasso? Dukkhā paṭipadā dandhābhiññā, dukkhā paṭipadā khippābhiññā, sukhā paṭipadā dandhābhiññā, sukhā paṭipadā khippābhiññā. Imā kho, āvuso, catasso paṭipadā. Imāsaṁ, āvuso, catunnaṁ paṭipadānaṁ yāyaṁ paṭipadā dukkhā khippābhiññā, imaṁ me paṭipadaṁ āgamma anupādāya āsavehi cittaṁ vimuttan”ti.
Sattamaṁ.
“Reverend Sāriputta … I relied on the painful practice with swift insight to free my mind from defilements by not grasping.”
“Này hiền giả Sāriputta, có bốn pháp hành này. Bốn pháp nào? Khổ hành và chậm thắng trí, khổ hành và nhanh thắng trí, lạc hành và chậm thắng trí, lạc hành và nhanh thắng trí. Này hiền giả, đó là bốn pháp hành. Này hiền giả, trong bốn pháp hành này, nhờ vào pháp hành nào mà tâm của hiền giả được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ?”