- Aṅguttara Nikāya 4.165
- 17. Paṭipadāvagga
Bản dịch
AN 4.165 — Kham Nhẫn (2)
Dutiyakhamasutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có bốn đạo hành này. Thế nào là bốn?
Ðạo hành không kham nhẫn, đạo hành kham nhẫn, đạo hành nhiếp phục, đạo hành an tịnh.
TTC 2Và này các Tỷ-kheo, thế nào là đạo hành không kham nhẫn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát; không kham nhẫn những hình thức chưởi mắng, phỉ báng, không thể chịu đựng được cảm thọ về thân khởi lên, khổ đau, nhói đau, mãnh liệt, kịch liệt, không khả hỷ, không khả ý, chết điếng người. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành không kham nhẫn.
TTC 3Và này các Tỷ-kheo, thế nào là đạo hành kham nhẫn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người kham nhẫn lạnh, nóng … chết điếng người. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành kham nhẫn.
TTC 4Và này các Tỷ-kheo, thế nào là đạo hành nhiếp phục?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người khi mắt thấy sắc không nắm giữ tướng chung … (như kinh 164.4). Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành nhiếp phục.
TTC 5Và này các Tỷ-kheo, thế nào là đạo hành an tịnh?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không chấp nhận dục tầm khởi lên … (như kinh 164.5) … Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đạo hành an tịnh.
Này các Tỷ-kheo, có bốn đạo hành này.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 4.165
- 17. Practice
Patience (2nd)
5. Kinh Khamā thứ hai
“Catasso imā, bhikkhave, paṭipadā. Katamā catasso? Akkhamā paṭipadā, khamā paṭipadā, damā paṭipadā, samā paṭipadā.
“Mendicants, there are four ways of practice. What four? Impatient practice, patient practice, taming practice, and calming practice.
165. Này các Tỳ khưu, có bốn pháp hành này. Bốn pháp hành nào? Pháp hành không kham nhẫn, pháp hành kham nhẫn, pháp hành điều phục, và pháp hành an tịnh.
Katamā ca, bhikkhave, akkhamā paṭipadā? Idha, bhikkhave, ekacco akkhamo hoti sītassa uṇhassa jighacchāya pipāsāya, ḍaṁsamakasavātātapasarīsapasamphassānaṁ duruttānaṁ durāgatānaṁ vacanapathānaṁ uppannānaṁ sārīrikānaṁ vedanānaṁ dukkhānaṁ tibbānaṁ kharānaṁ kaṭukānaṁ asātānaṁ amanāpānaṁ pāṇaharānaṁ anadhivāsakajātiko hoti. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, akkhamā paṭipadā.
And what’s the impatient practice? It’s when someone cannot endure cold, heat, hunger, and thirst. They cannot endure the touch of flies, mosquitoes, wind, sun, and reptiles. They cannot endure rude and unwelcome criticism. And they cannot put up with physical pain—sharp, severe, acute, unpleasant, disagreeable, and life-threatening. This is called the impatient practice.
Và này các Tỳ khưu, thế nào là pháp hành không kham nhẫn? Này các Tỳ khưu, ở đây, có người không kham nhẫn được lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, các loài bò sát; không chịu đựng được những lời nói ác độc, khó nghe; không có bản chất chịu đựng được các cảm thọ thuộc về thân đã sanh khởi, đau đớn, mãnh liệt, gay gắt, nhói buốt, không vừa ý, không thích ý, có thể đoạt mạng. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là pháp hành không kham nhẫn.
Katamā ca, bhikkhave, khamā paṭipadā? Idha, bhikkhave, ekacco khamo hoti sītassa uṇhassa jighacchāya pipāsāya, ḍaṁsamakasavātātapasarīsapasamphassānaṁ duruttānaṁ durāgatānaṁ vacanapathānaṁ uppannānaṁ sārīrikānaṁ vedanānaṁ dukkhānaṁ tibbānaṁ kharānaṁ kaṭukānaṁ asātānaṁ amanāpānaṁ pāṇaharānaṁ adhivāsakajātiko hoti. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, khamā paṭipadā.
And what’s the patient practice? It’s when someone endures cold, heat, hunger, and thirst. They endure the touch of flies, mosquitoes, wind, sun, and reptiles. They endure rude and unwelcome criticism. And they put up with physical pain—sharp, severe, acute, unpleasant, disagreeable, and life-threatening. This is called the patient practice.
Và này các Tỳ khưu, thế nào là pháp hành kham nhẫn? Này các Tỳ khưu, ở đây, có người kham nhẫn được lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, các loài bò sát; chịu đựng được những lời nói ác độc, khó nghe; có bản chất chịu đựng được các cảm thọ thuộc về thân đã sanh khởi, đau đớn, mãnh liệt, gay gắt, nhói buốt, không vừa ý, không thích ý, có thể đoạt mạng. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là pháp hành kham nhẫn.
Katamā ca, bhikkhave, damā paṭipadā? Idha, bhikkhave, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā na nimittaggāhī hoti …pe… sotena saddaṁ sutvā … ghānena gandhaṁ ghāyitvā … jivhāya rasaṁ sāyitvā … kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā … manasā dhammaṁ viññāya na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī; yatvādhikaraṇamenaṁ manindriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ, tassa saṁvarāya paṭipajjati; rakkhati manindriyaṁ; manindriye saṁvaraṁ āpajjati. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, damā paṭipadā.
And what’s the taming practice? When a mendicant sees a sight with their eyes, they don’t get caught up in the features and details. … When they hear a sound with their ears … When they smell an odor with their nose … When they taste a flavor with their tongue … When they feel a touch with their body … When they know an idea with their mind, they don’t get caught up in the features and details. If the faculty of mind were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of mind, and achieving its restraint. This is called the taming practice.
Và này các Tỳ khưu, thế nào là pháp hành điều phục? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu khi thấy sắc bằng mắt, không nắm giữ tướng chung... (như trên)... khi nghe tiếng bằng tai... khi ngửi hương bằng mũi... khi nếm vị bằng lưỡi... khi cảm xúc bằng thân... khi biết pháp bằng ý, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Do nhân gì mà nếu ý quyền không được phòng hộ, các pháp ác, bất thiện là tham ái và ưu phiền sẽ xâm nhập, vị ấy thực hành để phòng hộ nhân ấy; vị ấy bảo vệ ý quyền; vị ấy đạt đến sự phòng hộ ý quyền. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là pháp hành điều phục.
Katamā ca, bhikkhave, samā paṭipadā? Idha, bhikkhave, bhikkhu uppannaṁ kāmavitakkaṁ nādhivāseti pajahati vinodeti sameti byantīkaroti anabhāvaṁ gameti, uppannaṁ byāpādavitakkaṁ …pe… uppannaṁ vihiṁsāvitakkaṁ … uppannuppanne pāpake akusale dhamme nādhivāseti pajahati vinodeti sameti byantīkaroti anabhāvaṁ gameti. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, samā paṭipadā.
Imā kho, bhikkhave, catasso paṭipadā”ti.
Pañcamaṁ.
And what’s the calming practice? It’s when a mendicant doesn’t tolerate a sensual, malicious, or cruel thought. They don’t tolerate any bad, unskillful qualities that have arisen, but give them up, dispel them, calm them, eliminate them, and obliterate them. This is called the calming practice.
These are the four ways of practice.”
Và này các Tỳ khưu, thế nào là pháp hành an tịnh? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu không dung chứa tầm về dục đã sanh khởi, mà từ bỏ, loại trừ, làm cho lắng dịu, làm cho chấm dứt, làm cho biến mất; tầm về sân đã sanh khởi... (như trên)... tầm về hại đã sanh khởi... không dung chứa các pháp ác, bất thiện đã sanh khởi, mà từ bỏ, loại trừ, làm cho lắng dịu, làm cho chấm dứt, làm cho biến mất. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là pháp hành an tịnh. Này các Tỳ khưu, có bốn pháp hành này. Kinh thứ năm.