- Aṅguttara Nikāya 4.16
- 2. Caravagga
Bản dịch
AN 4.16 — Trí Tế Nhị
Sokhummasutta
—Này các Tỷ-kheo, có bốn trí tế nhị này. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thành tựu trí tế nhị đối với sắc, không thấy một trí tế nhị đối với sắc nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với sắc nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy thành tựu trí tế nhị đối với thọ, không thấy một trí tế nhị đối với thọ nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với thọ nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy thành tựu trí tế nhị đối với tưởng … thành tựu trí tế nhị đối với các hành, không thấy một trí tế nhị đối với hành nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Vị ấy không có phát nguyện đạt đến một trí tế nhị đối với hành nào khác tối thượng hơn, thù diệu hơn trí tế nhị thù thắng ấy. Này các Tỷ-kheo, đây là bốn trí tế nhị.
Biết trí tế nhị sắc
Biết hiện hữu các thọ
Từ đâu tưởng sanh khởi
Tại đâu tưởng chấm dứt
Biết các hành biến khác
Là không, không là ngã
Nếu Tỷ-kheo thấy chánh
Tịch tịnh, ưa tịch tịnh
Thọ trì thân tối hậu
Thắng Ma và Ma quân.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 4.16
- 2. Walking
Subtlety
6. Kinh Vi Tế
“Cattārimāni, bhikkhave, sokhummāni. Katamāni cattāri?
Idha, bhikkhave, bhikkhu rūpasokhummena samannāgato hoti paramena; tena ca rūpasokhummena aññaṁ rūpasokhummaṁ uttaritaraṁ vā paṇītataraṁ vā na samanupassati; tena ca rūpasokhummena aññaṁ rūpasokhummaṁ uttaritaraṁ vā paṇītataraṁ vā na pattheti.
Vedanāsokhummena samannāgato hoti paramena; tena ca vedanāsokhummena aññaṁ vedanāsokhummaṁ uttaritaraṁ vā paṇītataraṁ vā na samanupassati; tena ca vedanāsokhummena aññaṁ vedanāsokhummaṁ uttaritaraṁ vā paṇītataraṁ vā na pattheti.
Saññāsokhummena samannāgato hoti paramena; tena ca saññāsokhummena aññaṁ saññāsokhummaṁ uttaritaraṁ vā paṇītataraṁ vā na samanupassati; tena ca saññāsokhummena aññaṁ saññāsokhummaṁ uttaritaraṁ vā paṇītataraṁ vā na pattheti.
Saṅkhārasokhummena samannāgato hoti paramena; tena ca saṅkhārasokhummena aññaṁ saṅkhārasokhummaṁ uttaritaraṁ vā paṇītataraṁ vā na samanupassati; tena ca saṅkhārasokhummena aññaṁ saṅkhārasokhummaṁ uttaritaraṁ vā paṇītataraṁ vā na pattheti.
Imāni kho, bhikkhave, cattāri sokhummānīti.
“Mendicants, there are these four kinds of subtlety. What four?
A mendicant has ultimate subtlety of form. They don’t see any other subtlety of form that’s better or finer than that, nor do they aim for it.
A mendicant has ultimate subtlety of feeling. They don’t see any other subtlety of feeling that’s better or finer than that, nor do they aim for it.
A mendicant has ultimate subtlety of perception. They don’t see any other subtlety of perception that’s better or finer than that, nor do they aim for it.
A mendicant has ultimate subtlety of choices. They don’t see any other subtlety of choices that’s better or finer than that, nor do they aim for it.
These are the four kinds of subtlety.
16. “Này các Tỳ khưu, có bốn sự vi tế này. Bốn sự vi tế nào? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu thành tựu sự vi tế về sắc một cách tối thượng; và với sự vi tế về sắc ấy, vị ấy không nhận thấy một sự vi tế về sắc nào khác cao thượng hơn hay thù thắng hơn; và với sự vi tế về sắc ấy, vị ấy không mong cầu một sự vi tế về sắc nào khác cao thượng hơn hay thù thắng hơn. Vị ấy thành tựu sự vi tế về thọ một cách tối thượng; và với sự vi tế về thọ ấy, vị ấy không nhận thấy một sự vi tế về thọ nào khác cao thượng hơn hay thù thắng hơn; và với sự vi tế về thọ ấy, vị ấy không mong cầu một sự vi tế về thọ nào khác cao thượng hơn hay thù thắng hơn. Vị ấy thành tựu sự vi tế về tưởng một cách tối thượng; và với sự vi tế về tưởng ấy, vị ấy không nhận thấy một sự vi tế về tưởng nào khác cao thượng hơn hay thù thắng hơn; và với sự vi tế về tưởng ấy, vị ấy không mong cầu một sự vi tế về tưởng nào khác cao thượng hơn hay thù thắng hơn. Vị ấy thành tựu sự vi tế về hành một cách tối thượng; và với sự vi tế về hành ấy, vị ấy không nhận thấy một sự vi tế về hành nào khác cao thượng hơn hay thù thắng hơn; và với sự vi tế về hành ấy, vị ấy không mong cầu một sự vi tế về hành nào khác cao thượng hơn hay thù thắng hơn. Này các Tỳ khưu, đây là bốn sự vi tế.”
Rūpasokhummataṁ ñatvā, vedanānañca sambhavaṁ; Saññā yato samudeti, atthaṁ gacchati yattha ca; Saṅkhāre parato ñatvā, dukkhato no ca attato.
Knowing the subtlety of form, the cause of feelings, where perception comes from, and where it ends; and knowing choices as alien, as suffering and as not-self,
“Sau khi đã biết được sự vi tế của sắc, và sự sanh khởi của các cảm thọ; nơi nào tưởng sanh khởi, và nơi nào tưởng đi đến đoạn diệt; sau khi đã biết các hành là ngoại vật, là khổ đau, và không phải là tự ngã.”
Sa ve sammaddaso bhikkhu, santo santipade rato; Dhāreti antimaṁ dehaṁ, jetvā māraṁ savāhinin”ti.
Chaṭṭhaṁ.
that mendicant sees rightly, peaceful, in love with the state of peace. They bear their final body, having vanquished Māra with his legions.”
“Vị Tỳ khưu có chánh kiến ấy, được an tịnh, hoan hỷ trong trạng thái an tịnh; sau khi đã chiến thắng Ma vương cùng với quyến thuộc, vị ấy mang thân cuối cùng.” Kinh thứ sáu.