- Aṅguttara Nikāya 4.126
- 13. Bhayavagga
Bản dịch
AN 4.126 — Từ (2)
Dutiyamettāsutta
—Có bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người với tâm cùng khởi với từ … (như kinh 125, 1Ẩ) không hận, không sân. … (như kinh 121, 1) là vô ngã. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên ở Tịnh cư Thiên. Này các Tỷ-kheo, sự sanh khởi này, không có chung cùng các hàng phàm phu. Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người có mặt, hiện hữu ở đời.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 4.126
- 13. Fears
Love (2nd)
6. Kinh Từ (thứ hai)
“Cattārome, bhikkhave, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ. Katame cattāro?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ tathā tatiyaṁ tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharati. So yadeva tattha hoti rūpagataṁ vedanāgataṁ saññāgataṁ saṅkhāragataṁ viññāṇagataṁ te dhamme aniccato dukkhato rogato gaṇḍato sallato aghato ābādhato parato palokato suññato anattato samanupassati. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā suddhāvāsānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Ayaṁ, bhikkhave, upapatti asādhāraṇā puthujjanehi.
“Mendicants, these four individuals are found in the world. What four?
Firstly, an individual meditates spreading a heart full of love to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of love to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. They contemplate the phenomena there—included in form, feeling, perception, choices, and consciousness—as impermanent, as suffering, as diseased, as a boil, as a dart, as gloom, as an affliction, as alien, as breaking apart, as empty, as not-self. When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of the gods of the pure abodes. This rebirth is distinct from that of ordinary people.
126. “Này các Tỷ kheo, có bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở trên đời. Thế nào là bốn? Ở đây, này các Tỷ kheo, có người với tâm câu hữu với từ, biến mãn một phương rồi an trú, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, ở trên, ở dưới, bề ngang, ở khắp mọi nơi, xem tất cả như chính mình, vị ấy biến mãn khắp thế gian với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô lượng, không sân, không hận rồi an trú. Vị ấy quán xét các pháp ở đấy, bất cứ là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, là vô thường, khổ, bệnh, ung nhọt, mũi tên, tai họa, tật bệnh, là của người khác, hoại diệt, trống không, vô ngã. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên ở Tịnh Cư Thiên (Suddhāvāsa). Này các Tỷ kheo, sự tái sanh này không chung với hàng phàm phu.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco puggalo karuṇā …pe… muditā …pe… upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ tathā tatiyaṁ tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharati. So yadeva tattha hoti rūpagataṁ vedanāgataṁ saññāgataṁ saṅkhāragataṁ viññāṇagataṁ te dhamme aniccato dukkhato rogato gaṇḍato sallato aghato ābādhato parato palokato suññato anattato samanupassati. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā suddhāvāsānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Ayaṁ, bhikkhave, upapatti asādhāraṇā puthujjanehi.
Ime kho, bhikkhave, cattāro puggalā santo saṁvijjamānā lokasminti.
Chaṭṭhaṁ.
Furthermore, an individual meditates spreading a heart full of compassion … rejoicing … equanimity to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of equanimity to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. They contemplate the phenomena there—included in form, feeling, perception, choices, and consciousness—as impermanent, as suffering, as diseased, as a boil, as a dart, as gloom, as an affliction, as alien, as breaking apart, as empty, as not-self. When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of the gods of the pure abodes. This rebirth is distinct from that of ordinary people.
These are the four individuals found in the world.”
“Lại nữa, này các Tỷ kheo, ở đây có người... với tâm câu hữu với bi... (như trên)... với tâm câu hữu với hỷ... (như trên)... với tâm câu hữu với xả, biến mãn một phương rồi an trú, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, ở trên, ở dưới, bề ngang, ở khắp mọi nơi, xem tất cả như chính mình, vị ấy biến mãn khắp thế gian với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô lượng, không sân, không hận rồi an trú. Vị ấy quán xét các pháp ở đấy, bất cứ là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, là vô thường, khổ, bệnh, ung nhọt, mũi tên, tai họa, tật bệnh, là của người khác, hoại diệt, trống không, vô ngã. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên ở Tịnh Cư Thiên (Suddhāvāsa). Này các Tỷ kheo, sự tái sanh này không chung với hàng phàm phu. Này các Tỷ kheo, bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở trên đời.” Kinh thứ sáu.