- Aṅguttara Nikāya 3.96
- 10. Loṇakapallavagga
Bản dịch
AN 3.96 — Con Ngựa Thuần Thục
Paṭhamaājānīyasutta
TTC 1—Ðầy đủ với ba đức tánh, này các Tỷ-kheo, một con ngựa của vua, hiền thiện, thuần thục, xứng đáng để vua dùng, thuộc quyền sở hữu của vua, và được xem như một biểu tượng của vua. Thế nào là ba?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, một con ngựa của vua hiền thiện, thuần thục, đầy đủ với sắc đẹp, đầy đủ với sức mạnh, đầy đủ với tốc lực. Ðầy đủ với ba đức tánh này, này các Tỷ-kheo, một con ngựa của vua, hiền thiện, thuần thục, xứng đáng để vua dùng, thuộc quyền sở hữu của vua, và được xem như một biểu tượng của vua.
TTC 2Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đầy đủ với ba pháp, một Tỷ-kheo đáng được cung kính. Ðáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời. Thế nào là ba? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ sắc đẹp, đầy đủ sức mạnh, đầy đủ tốc lực.
TTC 3Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đầy đủ sắc đẹp?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo giữ gìn giới luật, sống hộ trì với sự hộ trì của giới bổn, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đầy đủ sắc đẹp.
TTC 4Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đầy đủ sức mạnh?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống tinh cần tinh cấn, đoạn tận các pháp bất thiện, thành tựu đầy đủ các pháp thiện, nỗ lức kiên trì, dõng mãnh, không từ bỏ trách nhiệm đối với các pháp thiện. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đầy đủ sức mạnh.
TTC 5Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đầy đủ tốc lực?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thật rõ biết: “Ðây là khổ”, như thật rõ biết: “Ðây là khổ tập”, như thật rõ biết: “Ðây là khổ diệt”, như thật rõ biết: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đầy đủ tốc lực.
Ðầy đủ với ba pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, và ruộng phước vô thượng ở đời.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 3.96
- 10. A Lump of Salt
The Thoroughbred (1st)
5. Kinh Ngựa Nòi (Thứ Nhất)
“Tīhi, bhikkhave, aṅgehi samannāgato rañño bhadro assājānīyo rājāraho hoti rājabhoggo, rañño aṅganteva saṅkhyaṁ gacchati. Katamehi tīhi? Idha, bhikkhave, rañño bhadro assājānīyo vaṇṇasampanno ca hoti balasampanno ca javasampanno ca. Imehi kho, bhikkhave, tīhi aṅgehi samannāgato rañño bhadro assājānīyo rājāraho hoti rājabhoggo, rañño aṅganteva saṅkhyaṁ gacchati.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, tīhi dhammehi samannāgato bhikkhu āhuneyyo hoti pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa. Katamehi tīhi? Idha, bhikkhave, bhikkhu vaṇṇasampanno ca hoti balasampanno ca javasampanno ca.
“Mendicants, a fine royal thoroughbred with three factors is worthy of a king, fit to serve a king, and reckoned as a factor of kingship. What three? It’s when a fine royal thoroughbred is beautiful, strong, and fast. A fine royal thoroughbred with these three factors is worthy of a king. …
In the same way, a mendicant with three qualities is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of veneration with cupped palms, and is the supreme field of merit for the world. What three? It’s when a mendicant is beautiful, strong, and fast.
98. Này các Tỳ khưu, con ngựa nòi tốt của vua, được thành tựu ba yếu tố, thì xứng đáng với vua, là vật dụng của vua, được kể là một bộ phận của vua. Do ba yếu tố nào? Này các Tỳ khưu, ở đây, con ngựa nòi tốt của vua vừa có sắc đẹp, vừa có sức mạnh, vừa có tốc độ. Này các Tỳ khưu, quả thật, con ngựa nòi tốt của vua, được thành tựu ba yếu tố này, thì xứng đáng với vua, là vật dụng của vua, được kể là một bộ phận của vua. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu được thành tựu ba pháp thì đáng được cúng dường... (cho đến)... là ruộng phước vô thượng của thế gian. Do ba pháp nào? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu vừa có sắc đẹp, vừa có sức mạnh, vừa có tốc độ.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu vaṇṇasampanno hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu sīlavā hoti, pātimokkhasaṁvarasaṁvuto viharati ācāragocarasampanno aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya sikkhati sikkhāpadesu. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu vaṇṇasampanno hoti.
And how is a mendicant beautiful? It’s when a mendicant is ethical, restrained in the monastic code, conducting themselves well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, they keep the rules they’ve undertaken. That’s how a mendicant is beautiful.
“Này các tỳ khưu, thế nào là vị tỳ khưu có được sắc đẹp? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu có giới đức, ... cho đến ... thọ trì và tu tập các học giới. Này các tỳ khưu, như vậy là vị tỳ khưu có được sắc đẹp.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu balasampanno hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu āraddhavīriyo viharati akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadāya thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu balasampanno hoti.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu javasampanno hoti?
And how is a mendicant strong? It’s when a mendicant lives with energy roused up for giving up unskillful qualities and embracing skillful qualities. They are strong, staunchly vigorous, not slacking off when it comes to developing skillful qualities. That’s how a mendicant is strong.
And how is a mendicant fast?
“Này các tỳ khưu, thế nào là vị tỳ khưu có được sức mạnh? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu sống tinh cần tinh tấn để đoạn trừ các pháp bất thiện, để thành tựu các pháp thiện, có nghị lực, kiên trì nỗ lực, không từ bỏ trách nhiệm đối với các pháp thiện. Này các tỳ khưu, như vậy là vị tỳ khưu có được sức mạnh.
“Này các tỳ khưu, thế nào là vị tỳ khưu có được sắc đẹp? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu có giới đức, sống phòng hộ với sự phòng hộ của giới bổn Pātimokkha, có đầy đủ oai nghi và nơi hành xứ, thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và tu tập các học giới. Này các tỳ khưu, như vậy là vị tỳ khưu có được sắc đẹp.
Imehi kho, bhikkhave, tīhi dhammehi samannāgato bhikkhu āhuneyyo hoti pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassā”ti.
Pañcamaṁ.
A mendicant with these three qualities is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of veneration with cupped palms, and is the supreme field of merit for the world.”
“Này các tỳ khưu, thế nào là vị tỳ khưu có được tốc độ? Này các tỳ khưu, ở đây, do đoạn tận các lậu hoặc, vị tỳ khưu tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú ngay trong hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các tỳ khưu, như vậy là vị tỳ khưu có được tốc độ. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu có được ba pháp này thì xứng đáng được cúng dường, ... cho đến ... là ruộng phước vô thượng cho thế gian.” Hết kinh thứ bảy.