- Aṅguttara Nikāya 3.88
- 9. Samaṇavagga
Bản dịch
AN 3.88 — Bản Tụng Ðọc (2)
Tatiyasikkhāsutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, bản tụng đọc này … (như kinh trước, đoạn số 1) … này các Tỷ-kheo, thâu nhiếp tất cả.
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với các giới luật, hành trì toàn phần, đối với định, hành trì toàn phần, đối với tuệ, hành trì toàn phần. Vị ấy có vi phạm … chấp nhận và học tập trong các học pháp. Vị ấy do đoạn tận các lậu hoặc ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
TTC 3Hoặc nếu chưa chứng đạt, nếu chưa thể nhập, sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, là bậc Trung gian Bát-Niết-bàn. Hoặc nếu chưa chứng đạt, nêu chưa thể nhập, sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, là bậc Tổn hại Bát-Niết-bàn … là bậc Vô hành Bát-Niết-bàn … là bậc Hữu hành Bát-Niết-bàn … là bậc Thượng lưu, chứng đạt Sắc cứu kính thiên. Hoặc nếu chưa chứng đạt, nếu chưa thể nhập, sau khi đoạn tận ba kiết sử, sau khi làm cho muội lược tham, sân, si, là bậc Nhất lai, chỉ trở lui đời này một lần nữa, rồi đoạn tận khổ đau. Hoặc nếu chưa chứng đạt, nếu chưa thể nhập, sau khi đoạn tận ba kiết sử, là bậc Nhất chủng, sau khi phải sanh hiện hữu làm người một lần, rồi đoạn tận khổ đau. Hoặc nếu chưa chứng đạt, nếu chưa thể nhập, sau khi đoạn tận ba kiết sử, là bậc “Gia gia”, sau khi dong ruỗi, luân chuyển trong hai hay ba gia đình, rồi đoạn tận khổ đau. Hoặc nếu chưa chứng đạt, nếu chưa thể nhập, sau khi đoạn tận ba kiết sử, là bậc Tối đa phải sanh lại bảy lần, sau khi dong ruỗi, luân chuyển tối đa bảy lần giữa chư Thiên và loài người, rồi đoạn tận khổ đau.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, người hành trì có một phần, thành tựu được một phần; người hành trì toàn phần, thành tựu được toàn phần. Ta tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo, các học giới không phải là rỗng không.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 3.88
- 9. Ascetics
Training (3rd)
8. Kinh Học Pháp (Thứ Ba)
“Sādhikamidaṁ, bhikkhave, diyaḍḍhasikkhāpadasataṁ anvaddhamāsaṁ uddesaṁ āgacchati yattha attakāmā kulaputtā sikkhanti. Tisso imā, bhikkhave, sikkhā yatthetaṁ sabbaṁ samodhānaṁ gacchati. Katamā tisso? Adhisīlasikkhā, adhicittasikkhā, adhipaññāsikkhā—imā kho, bhikkhave, tisso sikkhā yatthetaṁ sabbaṁ samodhānaṁ gacchati.
“Mendicants, each fortnight over a hundred and fifty training rules come up for recitation, in which gentlemen who desire self-knowledge train. These are all included in the three trainings. What three? The training in the higher ethics, the higher mind, and the higher wisdom. These are the three trainings that include them all.
89. “Này các Tỳ khưu, hơn một trăm năm mươi học giới này được đem ra đọc mỗi nửa tháng, nơi mà các thiện nam tử mong cầu lợi ích cho bản thân thực hành. Này các Tỳ khưu, có ba pháp học này, nơi mà tất cả (các học giới) ấy được bao gồm. Ba pháp nào? Tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, và tăng thượng tuệ học. Này các Tỳ khưu, chính ba pháp học này là nơi mà tất cả (các học giới) ấy được bao gồm.”
Idha, bhikkhave, bhikkhu sīlesu paripūrakārī hoti samādhismiṁ paripūrakārī paññāya paripūrakārī. So yāni tāni khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni tāni āpajjatipi vuṭṭhātipi. Taṁ kissa hetu? Na hi mettha, bhikkhave, abhabbatā vuttā. Yāni ca kho tāni sikkhāpadāni ādibrahmacariyakāni brahmacariyasāruppāni tattha dhuvasīlo ca hoti ṭhitasīlo ca, samādāya sikkhati sikkhāpadesu.
So āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati.
Taṁ vā pana anabhisambhavaṁ appaṭivijjhaṁ pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā antarāparinibbāyī hoti.
Taṁ vā pana anabhisambhavaṁ appaṭivijjhaṁ pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā upahaccaparinibbāyī hoti.
Taṁ vā pana anabhisambhavaṁ appaṭivijjhaṁ pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā asaṅkhāraparinibbāyī hoti.
Taṁ vā pana anabhisambhavaṁ appaṭivijjhaṁ pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sasaṅkhāraparinibbāyī hoti.
Taṁ vā pana anabhisambhavaṁ appaṭivijjhaṁ pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā uddhaṁsoto hoti akaniṭṭhagāmī.
Taṁ vā pana anabhisambhavaṁ appaṭivijjhaṁ tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā, rāgadosamohānaṁ tanuttā sakadāgāmī hoti, sakideva imaṁ lokaṁ āgantvā dukkhassantaṁ karoti.
Taṁ vā pana anabhisambhavaṁ appaṭivijjhaṁ tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā ekabījī hoti, ekaṁyeva mānusakaṁ bhavaṁ nibbattetvā dukkhassantaṁ karoti.
Taṁ vā pana anabhisambhavaṁ appaṭivijjhaṁ tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā kolaṅkolo hoti, dve vā tīṇi vā kulāni sandhāvitvā saṁsaritvā dukkhassantaṁ karoti.
Taṁ vā pana anabhisambhavaṁ appaṭivijjhaṁ tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sattakkhattuparamo hoti, sattakkhattuparamaṁ deve ca manusse ca sandhāvitvā saṁsaritvā dukkhassantaṁ karoti.
Take the case of a mendicant who has fulfilled their ethics, immersion, and wisdom. They break some lesser and minor training rules, but are restored. Why is that? Because I don’t say they’re incapable of that. But they’re constant and steady in their precepts regarding the training rules that are fundamental, befitting the spiritual path. They keep the rules they’ve undertaken.
They realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom. And they live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements.
If they don’t penetrate so far, with the ending of the five lower fetters they’re extinguished between one life and the next.
If they don’t penetrate so far, with the ending of the five lower fetters they’re extinguished upon landing.
If they don’t penetrate so far, with the ending of the five lower fetters they’re extinguished without extra effort.
If they don’t penetrate so far, with the ending of the five lower fetters they’re extinguished with extra effort.
If they don’t penetrate so far, with the ending of the five lower fetters they head upstream, going to the Akaniṭṭha realm.
If they don’t penetrate so far, with the ending of three fetters, and the weakening of greed, hate, and delusion, they’re a once-returner. They come back to this world once only, then make an end of suffering.
If they don’t penetrate so far, with the ending of three fetters, they’re a one-seeder. They will be reborn just one time in a human existence, then make an end of suffering.
If they don’t penetrate so far, with the ending of three fetters, they go from family to family. They will transmigrate between two or three families and then make an end of suffering.
If they don’t penetrate so far, with the ending of three fetters, they have at most seven rebirths. They will transmigrate at most seven times among gods and humans and then make an end of suffering.
“Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu là người thực hành viên mãn trong các giới, là người thực hành viên mãn trong định, là người thực hành viên mãn trong tuệ. Vị ấy có khi phạm vào các học giới nhỏ nhặt và vụn vặt, và có khi xuất khỏi (tội ấy). Vì sao vậy? Này các Tỳ khưu, vì ở đây, Như Lai đã không nói rằng đó là sự bất khả năng (đối với Thánh đạo). Và đối với những học giới căn bản cho phạm hạnh, tương xứng với phạm hạnh, ở đó vị ấy có giới vững chắc, có giới bền vững, chấp nhận và tu học trong các học giới. Vị ấy, do đoạn tận các lậu hoặc, tự mình với thắng trí, chứng ngộ và đạt đến tâm giải thoát, tuệ giải thoát không còn lậu hoặc ngay trong hiện tại. Hoặc nếu không thể đạt được, không thể chứng ngộ, do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy là bậc Trung gian Bát-niết-bàn. Hoặc nếu không thể đạt được, không thể chứng ngộ, do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy là bậc Tổn hại Bát-niết-bàn. Hoặc nếu không thể đạt được, không thể chứng ngộ, do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy là bậc Vô hành Bát-niết-bàn. Hoặc nếu không thể đạt được, không thể chứng ngộ, do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy là bậc Hữu hành Bát-niết-bàn. Hoặc nếu không thể đạt được, không thể chứng ngộ, do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy là bậc Thượng lưu, đi đến cõi Sắc Cứu Cánh. Hoặc nếu không thể đạt được, không thể chứng ngộ, do đoạn tận ba kiết sử, và do làm muội lược tham, sân, si, vị ấy là bậc Nhất lai, chỉ một lần trở lại thế gian này rồi chấm dứt khổ đau. Hoặc nếu không thể đạt được, không thể chứng ngộ, do đoạn tận ba kiết sử, vị ấy là bậc Nhất chủng, chỉ sanh lại một lần trong thân người rồi chấm dứt khổ đau. Hoặc nếu không thể đạt được, không thể chứng ngộ, do đoạn tận ba kiết sử, vị ấy là bậc Gia Tộc, sau khi đi qua, luân hồi trong hai hoặc ba gia tộc rồi chấm dứt khổ đau. Hoặc nếu không thể đạt được, không thể chứng ngộ, do đoạn tận ba kiết sử, vị ấy là bậc Thất lai, sau khi đi qua, luân hồi tối đa bảy lần giữa chư Thiên và loài người rồi chấm dứt khổ đau.”
Iti kho, bhikkhave, paripūraṁ paripūrakārī ārādheti padesaṁ padesakārī. Avañjhāni tvevāhaṁ, bhikkhave, sikkhāpadāni vadāmī”ti.
Aṭṭhamaṁ.
So, mendicants, if you practice fully you succeed fully. If you practice partially you succeed partially. But in any case, these training rules are not barren, I say.”
“Này các Tỳ khưu, như vậy, người thực hành viên mãn thành tựu được quả vị viên mãn, người thực hành một phần thành tựu được quả vị một phần. Này các Tỳ khưu, Như Lai tuyên bố rằng các học giới không phải là vô ích.” (Kinh thứ) tám.