- Aṅguttara Nikāya 3.86
- 9. Samaṇavagga
Bản dịch
AN 3.86 — Hữu Học (2)
Paṭhamasikkhāsutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, bản tụng đọc này gồm hơn 150 học giới cần phải đọc nửa tháng một lần, ở đây các người thiện nam tử muốn được lợi ích, học tập bản tụng ấy. Này các Tỷ-kheo, tất cả được thâu nhiếp họp lại thành ba học giới này. Thế nào là ba? Tăng thượng giới học, tăng thượng định học, tăng thượng tuệ học. Chính ba học giới này, này các Tỷ-kheo, thâu nhiếp tất cả.
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ Kheo đối với các giới luật, hành trì toàn phần, đối với định, hành trì một phần, đối với tuệ, hành trì một phần. Vị ấy có vi phạm học pháp nhỏ nhặt nhỏ nhiệm nào, vị ấy được xem là thanh tịnh. Vì cớ sao? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Ta không tuyên bố chúng làm cho vị ấy không có khả năng. Phàm có những học pháp nào là căn bản Phạm hạnh, tương xứng Phạm hạnh, ở đây, vị ấy kiên trì giới ấy, kiên trú giới ấy, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Vị ấy, do đoạn tận ba kiết sử, là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc đạt đến Chánh giác.
TTC 3Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ Kheo đối với các giới luật, hành trì toàn phần, đối với định, hành trì toàn phần, đối với tuệ, hành trì một phần. Vị ấy có vi phạm học pháp nhỏ nhặt nhỏ nhiệm nào, vị ấy được xem là thanh tịnh. Vì cớ sao? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Ta không tuyên bố chúng làm cho vị ấy không có khả năng. Phàm có những học pháp nào là căn bản Phạm hạnh, tương xứng Phạm hạnh, ở đây, vị ấy kiên trì giới ấy, kiên trú giới ấy, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Vị ấy, do đoạn tận ba kiết sử, làm cho muội lược tham, sân, si là bậc Nhất lai, chỉ trở về thế giới này một lần, rồi đoạn tận khổ đau.
TTC 4Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ kheo đối với các giới luật, hành trì toàn phần, đối với định, hành trì toàn phần, đối với tuệ, hành trì một phần. Vị ấy có vi phạm học pháp nhỏ nhặt nhỏ nhiệm nào, vị ấy được xem là thanh tịnh. Vì cớ sao? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Ta không tuyên bố chúng làm cho vị ấy không có khả năng. Phàm có những học pháp nào là căn bản Phạm hạnh, tương xứng Phạm hạnh, ở đây, vị ấy kiên trì giới ấy, kiên trú giới ấy, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Vị ấy, do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, tại đấy nhập Niết-bàn, không còn phải trở lui đời này nữa.
TTC 5Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ kheo đối với các giới luật, hành trì toàn phần, đối với định, hành trì toàn phần, đối với tuệ, hành trì toàn phần. Vị ấy có vi phạm học pháp nhỏ nhặt nhỏ nhiệm nào, vị ấy được xem là thanh tịnh. Vì cớ sao? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Ta không tuyên bố chúng làm cho vị ấy không có khả năng. Phàm có những học pháp nào là căn bản Phạm hạnh, tương xứng Phạm hạnh, ở đây, vị ấy kiên trì giới ấy, kiên trú giới ấy, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Vị ấy, do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, người hành trì có một phần, thành tựu được một phần; người hành trì toàn phần, thành tựu được toàn phần. Ta tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo, các học giới không phải là rỗng không.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 3.86
- 9. Ascetics
Training (1st)
6. Kinh Học Tập Thứ Nhất
“Sādhikamidaṁ, bhikkhave, diyaḍḍhasikkhāpadasataṁ anvaddhamāsaṁ uddesaṁ āgacchati, yattha attakāmā kulaputtā sikkhanti. Tisso imā, bhikkhave, sikkhā yatthetaṁ sabbaṁ samodhānaṁ gacchati. Katamā tisso? Adhisīlasikkhā, adhicittasikkhā adhipaññāsikkhā—imā kho, bhikkhave, tisso sikkhā, yatthetaṁ sabbaṁ samodhānaṁ gacchati.
“Mendicants, each fortnight over a hundred and fifty training rules come up for recitation, in which gentlemen who desire self-knowledge train. These are all included in the three trainings. What three? The training in the higher ethics, the higher mind, and the higher wisdom. These are the three trainings that include them all.
87. – Này các tỳ khưu, hơn một trăm năm mươi học giới này được tụng đọc mỗi nửa tháng, trong đó các thiện gia nam tử mong cầu lợi ích cho bản thân thực hành học tập. Này các tỳ khưu, có ba học pháp này, nơi mà tất cả các điều ấy được gom lại. Ba học pháp nào? Học pháp về tăng thượng giới, học pháp về tăng thượng tâm, học pháp về tăng thượng tuệ. Này các tỳ khưu, đây là ba học pháp, nơi mà tất cả các điều ấy được gom lại.
Idha, bhikkhave, bhikkhu sīlesu paripūrakārī hoti samādhismiṁ mattaso kārī paññāya mattaso kārī. So yāni tāni khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni tāni āpajjatipi vuṭṭhātipi. Taṁ kissa hetu? Na hi mettha, bhikkhave, abhabbatā vuttā. Yāni ca kho tāni sikkhāpadāni ādibrahmacariyakāni brahmacariyasāruppāni, tattha dhuvasīlo ca hoti ṭhitasīlo ca, samādāya sikkhati sikkhāpadesu. So tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo.
Take the case of a mendicant who has fulfilled their ethics, but has limited immersion and wisdom. They break some lesser and minor training rules, but are restored. Why is that? Because I don’t say they’re incapable of that. But they’re constant and steady in their precepts regarding the training rules that are fundamental, befitting the spiritual path. They keep the rules they’ve undertaken. With the ending of three fetters they’re a stream-enterer, not liable to be reborn in the underworld, assured, destined for awakening.
– Này các tỳ khưu, ở đây, có vị tỳ khưu thực hành viên mãn các giới, thực hành có chừng mực về định, thực hành có chừng mực về tuệ. Vị ấy có vi phạm và cũng có ra khỏi những học giới nhỏ nhặt, vụn vặt. Vì sao vậy? Này các tỳ khưu, vì ở đây Ta không nói là không có khả năng (phạm tội). Và đối với những học giới nào là căn bản của phạm hạnh, tương xứng với phạm hạnh, thì ở đó vị ấy có giới vững chắc, có giới kiên cố, và thọ trì tu học trong các học giới. Vị ấy, do đoạn tận ba kiết sử, trở thành bậc Dự lưu, không còn bị đọa lạc, chắc chắn, hướng đến chánh giác.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sīlesu paripūrakārī hoti samādhismiṁ mattaso kārī paññāya mattaso kārī. So yāni tāni khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni tāni āpajjatipi vuṭṭhātipi. Taṁ kissa hetu? Na hi mettha, bhikkhave, abhabbatā vuttā. Yāni ca kho tāni sikkhāpadāni ādibrahmacariyakāni brahmacariyasāruppāni tattha dhuvasīlo ca hoti ṭhitasīlo ca, samādāya sikkhati sikkhāpadesu. So tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā rāgadosamohānaṁ tanuttā sakadāgāmī hoti, sakideva imaṁ lokaṁ āgantvā dukkhassantaṁ karoti.
Take another case of a mendicant who has fulfilled their ethics, but has limited immersion and wisdom. They break some lesser and minor training rules, but are restored. Why is that? Because I don’t say they’re incapable of that. But they’re constant and steady in their precepts regarding the training rules that are fundamental, befitting the spiritual path. They keep the rules they’ve undertaken. With the ending of three fetters, and the weakening of greed, hate, and delusion, they’re a once-returner. They come back to this world once only, then make an end of suffering.
– Lại nữa, này các tỳ khưu, ở đây, có vị tỳ khưu thực hành viên mãn các giới, thực hành có chừng mực về định, thực hành có chừng mực về tuệ. Vị ấy có vi phạm và cũng có ra khỏi những học giới nhỏ nhặt, vụn vặt. Vì sao vậy? Này các tỳ khưu, vì ở đây Ta không nói là không có khả năng (phạm tội). Và đối với những học giới nào là căn bản của phạm hạnh, tương xứng với phạm hạnh, thì ở đó vị ấy có giới vững chắc, có giới kiên cố, và thọ trì tu học trong các học giới. Vị ấy, do đoạn tận ba kiết sử, do làm muội lược tham, sân, si, trở thành bậc Nhất lai; chỉ một lần nữa trở lại thế gian này, vị ấy sẽ chấm dứt khổ đau.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sīlesu paripūrakārī hoti samādhismiṁ paripūrakārī paññāya mattaso kārī. So yāni tāni khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni tāni āpajjatipi vuṭṭhātipi. Taṁ kissa hetu? Na hi mettha, bhikkhave, abhabbatā vuttā. Yāni ca kho tāni sikkhāpadāni ādibrahmacariyakāni brahmacariyasāruppāni tattha dhuvasīlo ca hoti ṭhitasīlo ca, samādāya sikkhati sikkhāpadesu. So pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātiko hoti tattha parinibbāyī anāvattidhammo tasmā lokā.
Take another case of a mendicant who has fulfilled their ethics and immersion, but has limited wisdom. They break some lesser and minor training rules, but are restored. Why is that? Because I don’t say they’re incapable of that. But they’re constant and steady in their precepts regarding the training rules that are fundamental, befitting the spiritual path. They keep the rules they’ve undertaken. With the ending of the five lower fetters they’re reborn spontaneously. They are extinguished there, and are not liable to return from that world.
– Lại nữa, này các tỳ khưu, ở đây, có vị tỳ khưu thực hành viên mãn các giới, thực hành viên mãn về định, thực hành có chừng mực về tuệ. Vị ấy có vi phạm và cũng có ra khỏi những học giới nhỏ nhặt, vụn vặt. Vì sao vậy? Này các tỳ khưu, vì ở đây Ta không nói là không có khả năng (phạm tội). Và đối với những học giới nào là căn bản của phạm hạnh, tương xứng với phạm hạnh, thì ở đó vị ấy có giới vững chắc, có giới kiên cố, và thọ trì tu học trong các học giới. Vị ấy, do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, là bậc hóa sanh, sẽ đạt Bát-niết-bàn tại đó, không còn trở lại từ thế giới ấy.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu sīlesu paripūrakārī hoti samādhismiṁ paripūrakārī paññāya paripūrakārī. So yāni tāni khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni tāni āpajjatipi vuṭṭhātipi. Taṁ kissa hetu? Na hi mettha, bhikkhave, abhabbatā vuttā. Yāni ca kho tāni sikkhāpadāni ādibrahmacariyakāni brahmacariyasāruppāni tattha dhuvasīlo ca hoti ṭhitasīlo ca, samādāya sikkhati sikkhāpadesu. So āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati.
Take another case of a mendicant who has fulfilled their ethics, immersion, and wisdom. They break some lesser and minor training rules, but are restored. Why is that? Because I don’t say they’re incapable of that. But they’re constant and steady in their precepts regarding the training rules that are fundamental, befitting the spiritual path. They keep the rules they’ve undertaken. They realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom. And they live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements.
– Lại nữa, này các tỳ khưu, ở đây, có vị tỳ khưu thực hành viên mãn các giới, thực hành viên mãn về định, thực hành viên mãn về tuệ. Vị ấy có vi phạm và cũng có ra khỏi những học giới nhỏ nhặt, vụn vặt. Vì sao vậy? Này các tỳ khưu, vì ở đây Ta không nói là không có khả năng (phạm tội). Và đối với những học giới nào là căn bản của phạm hạnh, tương xứng với phạm hạnh, thì ở đó vị ấy có giới vững chắc, có giới kiên cố, và thọ trì tu học trong các học giới. Vị ấy, do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
Iti kho, bhikkhave, padesaṁ padesakārī ārādheti paripūraṁ paripūrakārī.
So, mendicants, if you practice partially you succeed partially. If you practice fully you succeed fully.
– Như vậy, này các tỳ khưu, người thực hành một phần thì thành tựu một phần; người thực hành viên mãn thì thành tựu viên mãn. Này các tỳ khưu, Ta tuyên bố rằng các học giới không phải là vô ích. (Kinh) thứ sáu.
Chaṭṭhaṁ.
“Này các Tỳ khưu, như vậy, người thực hành từng phần thành tựu được từng phần; người thực hành viên mãn thành tựu được viên mãn. Này các Tỳ khưu, Ta tuyên bố rằng các học giới là không vô ích.” (Kinh thứ bảy.)