- Aṅguttara Nikāya 3.70
- 7. Mahāvagga
Uposathasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Uposathasutta
Như vầy tôi nghe.
TTC 1Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), Pubbarama (Ðông viên), lâu đài của mẹ Migara. Rồi Visakha, mẹ của Migara, trong ngày Uposatha (Bố-tát trai giới) đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Visakha, mẹ của Migara đang ngồi xuống một bên:
—Này Visàkhà, từ đâu bà đến sáng sớm như thế này?
—Bạch Thế Tôn, hôm nay con thọ trai giới.
—Có ba loại trai giới này, này Visàkhà. Thế nào là ba?
Trai giới người chăn bò, trai giới Niganthà, và trai giới bậc Thánh.
Như thế nào, này Visàkhà, là trai giới người chăn bò?
Ví như, này Visàkhà, người chăn bò vào buổi chiều lùa các con bò về cho chủ của chúng. Người ấy suy nghĩ: “Hôm nay, các con bò đã ăn cỏ tại chỗ này và chỗ này, đã uống nước tại chỗ này và chỗ này. Ngày mai, các con bò sẽ ăn cỏ tại chỗ này và chỗ này, sẽ uống nước tại chỗ này và chỗ này”. Cũng vậy, này Visàkhà, ở đây có người giữ trai giới suy nghĩ: “Hôm nay, ta đã ăn loại đồ ăn cứng này, loại đồ ăn cứng này ta đã ăn; ta đã ăn loại đồ ăn mềm này, loại đồ ăn mềm này ta đã ăn. Ngày mai, ta sẽ ăn loại đồ ăn cứng này, loại đồ ăn cứng này ta sẽ ăn; ta sẽ ăn loại đồ ăn mềm này, loại đồ ăn mềm này ta sẽ ăn”. Như vậy, người ấy sống cả ngày với tâm đồng hành với tham dục. Như vậy, này Visàkhà, là trai giới người chăn bò.
Này Visàkhà, thế nào là trai giới các Niganthà?
Ở đây, này Visàkhà, có hạng Sa-môn tên là Niganthà, họ khích lệ đệ tử như sau: “Ông hãy quăng bỏ trượng đối với các sinh loại sống ở phương Ðông, ngoài một trăm do tuần. Hãy quăng bỏ trượng đối với các sinh loại sống ở phương Tây, ngoài một trăm do tuần. Hãy quăng bỏ trượng đối với các sinh loại sống ở phương Bắc, ngoài một trăm do tuần. Hãy quăng bỏ trượng đối với các sinh loại sống ở phương Nam, ngoài một trăm do tuần.” Như vậy, họ khích lệ vì lòng thương, vì lòng từ mẫn đối với một số sinh loại mà thôi, họ không khích lệ vì lòng thương, vì lòng từ mẫn, đối với một số sinh loại khác. Trong ngày Uposatha, họ khích lệ đệ tử như sau: “Này các Ông, hãy quăng bỏ tất cả áo quần và nói như sau: “Ta không có bất cứ vật gì, bất cứ ở đâu, bất cứ chỗ nào. Bất cứ vật gì, bất cứ ở đâu, bất cứ chỗ nào, không có cái gì là của ta. “Nhưng cha và mẹ của người ấy biết người ấy là con của mình. Và người ấy biết họ là cha mẹ của mình. Vợ và con người ấy biết người ấy là chồng, là cha của mình, và người ấy biết họ là vợ, là con của mình. Các người nô tỳ làm công biết người ấy là chủ của họ. Và người ấy biết họ là nô tỳ, là nhân viên của mình. Như vậy, trong thời gian đáng phải khích lệ đúng với sự thật, trong thời gian ấy, lại được khích lệ bằng điều nói láo. Ðây ta tuyên bố là một sự nói láo. Sau khi đêm ấy đã qua, người ấy thọ hưởng tất cả tài sản chưa đem cho. Ðây ta tuyên bố là lấy của không cho. Như vậy, này Visàkhà, là lễ Uposathà của các Niganthà . Ðược sống thực hành như vậy, này Visàkhà, Uposatha của các Niganthà không quả lớn, không lợi ích lớn, không chói sáng, không ánh sáng lớn.
TTC 4—Và này Visàkhà, thế nào là trai giới các bậc Thánh? Chính là làm thanh tịnh một tâm uế nhiễm với phương pháp thích nghi.
Và này Visàkhà, thế nào là làm thanh tịnh một tâm uế nhiễm với phương pháp thích nghi?
Ở đây, này Visàkhà, Thánh đệ tử niệm Phật: “Ðây là Thế Tôn, bậc Ứng Cúng A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.” Do vị ấy niệm Như Lai, tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận. Ví như, này Visàkhà, đầu uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi.
Và này Visàkhà, thế nào là đầu uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi?
Do duyên bột nhồi, do duyên đất sét, do duyên nước và do duyên nỗ lực thích nghi của con người. Như vậy, này Visàkhà, là đầu uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi. Cũng vậy, này Visàkhà, là tâm uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi.
Và này Visàkhà, thế nào là tâm uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi?
Ở đây, này Visàkhà, Thánh đệ tử niệm Như Lai: “Ðây là Thế Tôn, bậc Ứng Cúng A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.” Do vị ấy niệm Như Lai, tâm được tịnh tín, hân hoan khởi lên, các phiền não của tâm được đoạn tận. Này Visàkhà, đây gọi là Thánh đệ tử để thực hành trai giới Phạm Thiên, vị ấy cùng sống với Phạm Thiên. Do duyên Phạm Thiên, tâm vị ấy được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận. Như vậy, này Visàkhà, là tâm uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi.
TTC 5—Này Visàkhà, tâm uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi. Và này Visàkhà, thế nào là tâm uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi?
Ở đây, này Visàkhà, vị Thánh đệ tử niệm pháp: “Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu”. Do vị ấy niệm Pháp, tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận. Ví như, này Visàkhà, thân uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi.
Và này Visàkhà, thế nào là thân uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi? Do duyên sottim (một thứ đá bọt dùng để chà lưng), do duyên bột tắm, do duyên nước và do duyên nỗ lực thích nghi của con người. Như vậy, này Visàkhà, là thân uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi. Cũng vậy, này Visàkhà, là tâm uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi.
Và như thế nào, này Visàkhà, là tâm uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi?
Ở đây, này Visàkhà, Thánh đệ tử niệm pháp: “Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu”. Do người ấy niệm Pháp, tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận. Này Visàkhà, đây gọi là Thánh đệ tử thực hành pháp trai giới, vị ấy sống với pháp. Chính nhờ pháp, tâm vị ấy tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận. Như vậy, này Visàkhà, là tâm uế nhiễm được gột sạch nhờ phương pháp thích nghi.
TTC 6—Này Visàkhà, tâm uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi. Và này Visàkhà, thế nào là tâm uế nhiễm được gột sạch nhớ phương pháp thích nghi?
Ở đây, này Visàkhà, Thánh đệ tử niệm Tăng: “Diệu hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Trực hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Ứng lý hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn, tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng tôn trọng, đáng cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời”. Do vị ấy niệm Tăng, tâm vị ấy tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận. Ví như, này Visàkhà, một tấm vải bị uế được gột sạch nhờ phương pháp thích nghi.
Và này Visàkhà, thế nào là một tấm vải bị uế nhiễm được gột sạch nhờ phương pháp thích nghi?
Do duyên usam (đất mặn) do duyên khàram (nước tro), do duyên phân bò, do duyên nước, và do duyên nỗ lực thích nghi của con người. Như vậy, này Visàkhà, một tấm vải bị uế nhiễm được gột sạch nhờ phương pháp thích nghi. Cũng vậy, này Visàkhà, là tâm uế nhiễm được gột sạch nhờ phương pháp thích nghi.
Và này Visàkhà, thế nào là tâm uế nhiễm được gột sạch nhờ phương pháp thích nghi?
Ở đây, này Visàkhà, Thánh đệ tử niệm Tăng: “Diệu hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Trực hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Ứng lý hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn, tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng tôn trọng, đáng cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời”. Nhờ vị ấy niệm Tăng, tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận. Này Visàkhà, đây gọi là Thánh đệ tử thực hành chúng Tăng trai giới, sống với chúng tăng. Chính nhờ chúng tăng, tâm vị ấy tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận. Như vậy, này Visàkhà, là tâm uế nhiễm được gột sạch nhờ phương pháp thích nghi.
TTC 7—Này Visàkhà, tâm uế nhiễm được gột sạch nhờ phương pháp thích nghi. Và này Visàkhà, thế nào là tâm uế nhiễm được gột sạch nhờ phương pháp thích nghi?
Ở đây, này Visàkhà, Thánh đệ tử niệm Giới: “Không bị phá hoại, không bị đâm cắt, không bị nhiễm ô, không bị uế nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến Thiền định”. Vị ấy nhờ niệm Giới, tâm vị ấy được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận. Ví như, này Visàkhà, một tấm gương uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi?
Và này Visàkhà, thế nào là một tấm gương uế nhiễm được rửa sạch nhờ phương pháp thích nghi?
Do duyên dầu, do duyên tro, do duyên bàn chải lông và do duyên nỗ lực thích nghi của con người. Như vậy, này Visàkhà, là tấm gương uế nhiễm được rửa sạch với phương pháp thích nghi.
Và này Visàkhà, thế nào là một tấm gương uế nhiễm được rửa sạch nhờ phương pháp thích nghi?
Ở đây, này Visàkhà, Thánh đệ tử niệm Giới: “Không bị phá hoại, không bị đâm cắt, không bị nhiễm ô, không bị uế nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến Thiền định”. Vị ấy nhờ niệm Giới, tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận. Này Visàkhà, đây gọi là thánh đệ tử thực hành giới Uposatha, sống chung với giới. Nhờ giới, tâm được tịnh tín, hân hoàn sanh khởi, các phiền não của tâm được đoạn tận. Như vậy, này Visàkhà, là tâm uế nhiễm được rửa sạch nhờ phương pháp thích nghi?
TTC 8Này Visàkhà, tâm uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi. Và này Visàkhà, thế nào là tâm uế nhiễm được gột sạch với phương pháp thích nghi?
Ở đây, này Visàkhà, Thánh đệ tử niệm Thiên: “Có Chư Thiên bốn Thiên Vương; có Chư Thiên cõi trời Ba mươi ba; có chư Thiên Yàmà; có chư Thiên Tusita (Ðâu suất); có chư Thiên Hóa lạc; có chư Thiên Tha hóa tự tại; có chư Thiên Phạm chúng; có chư Thiên cao hơn nữa. Ðầy đủ với lòng tin như vậy, chư Thiên ấy, sau khi chết ở chỗ này, được sanh tại chỗ kia. Lòng tin như vậy cũng có đầy đủ nơi ta. Ðầy đủ với giới như vậy, chư Thiên ấy, sau khi chết ở chỗ này, được sanh tại chỗ kia. Giới như vậy cũng có đầy đủ nơi ta. Ðầy đủ với nghe pháp như vậy, chư Thiên ấy, sau khi chết ở chỗ này, được sanh tại chỗ kia. Nghe pháp như vậy cũng có đầy đủ nơi ta. Ðầy đủ với thí như vậy, chư Thiên ấy, sau khi chết ở chỗ này, được sanh tại chỗ kia. Thí như vậy cũng có đầy đủ nơi ta. Ðầy đủ tuệ như vậy, chư Thiên ấy, sau khi chết ở chỗ này, được sanh tại chỗ kia. Tuệ như vậy cũng có đầy đủ nơi ta”. Khi người ấy niệm tín, giới, nghe pháp, thí và tuệ của tự mình và chư Thiên ấy, tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi. Các phiền não của tâm được đoạn tận. Ví như, này Visàkhà, là vàng bị uế nhiễm được làm cho thanh tịnh nhờ phương pháp thích nghi.
Và này Visàkhà, thế nào là vàng bị uế nhiễm được làm cho thanh tịnh nhờ phương pháp thích nghi?
Do duyên lò, do duyên đất muối, do duyên phấn đỏ, do duyên ống bệ, do duyên cái kìm, và do duyên nỗ lực thích nghi của con người. Như vậy, này Visàkhà, là vàng bị uế nhiễm được làm cho thanh tịnh nhờ phương pháp thích nghi. Cũng vậy, này Visàkhà, là tâm bị uế nhiễm được làm cho thanh tịnh nhờ phương pháp thích nghi?
Và này vì, thế nào là tâm bị uế nhiễm được làm cho thanh tịnh nhờ phương pháp thích nghi.
Ở đây, này Visàkhà, Thánh đệ tử niệm Thiên: “Có Chư Thiên bốn Thiên Vương; có Chư Thiên cõi trời ba mươi ba; có chư Thiên Yàmà; có chư Thiên Tusita (Ðâu suất); có chư Thiên hóa lạc; có chư Thiên tha hóa tự tại; có chư Thiên Phạm chúng; có chư Thiên cao hơn nữa. Ðầy đủ với lòng tin như vậy, chư Thiên ấy, mạng chung ở chỗ này, được sanh tại chỗ ấy. Ta cũng có lòng tin như vậy. Ðầy đủ với giới như vậy, chư Thiên ấy, sau khi chết ở chỗ này, được sanh tại chỗ kia. Giới như vậy cũng có đầy đủ nơi ta. Ðầy đủ với nghe pháp như vậy, chư Thiên ấy, sau khi chết ở chỗ này, được sanh tại chỗ kia. Nghe pháp như vậy cũng có đầy đủ nơi ta. Ðầy đủ với thí như vậy, chư Thiên ấy, sau khi chết ở chỗ này, được sanh tại chỗ kia. Thí như vậy cũng có đầy đủ nơi ta. Ðầy đủ với trí tuệ như vậy, chư Thiên ấy, sau khi chết ở chỗ này, được sanh tại chỗ kia. Ta cũng có trí tuệ như vậy”. Khi vị ấy niệm tín, giới, nghe pháp, thí, và tuệ của tự mình và của chư Thiên ấy, tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi. Các phiền não của tâm được đoạn tận. Ðây gọi là Thánh đệ tử thực hành Thiên trai giới, sống chung với chư Thiên. Nhờ chư Thiên, tâm vị ấy được tịnh tín, hân hoan sanh khởi. Các phiền não của tâm được đoạn tận. Như vậy, này Visàkhà, là tâm bị uế nhiễm được làm cho thanh tịnh nhờ phương pháp thích nghi.
TTC 9—Thánh đệ tử ấy, này Visàkhà, suy tư như sau: “Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc của tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Cũng vậy đêm nay và ngày nay, ta sống từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quí, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc của tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Về chi phần này, ta theo gương các vị A-la-hán và ta sẽ thực hành trai giới”.
TTC 10—“Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán từ bỏ lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Cũng vậy, đêm nay và ngày nay, ta sống từ bỏ lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Về chi phần này, ta theo gương các vị A-la-hán và ta sẽ thực hành trai giới”.
TTC 11—“Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán từ bỏ tà hạnh, tịnh tu Phạm hạnh, sống giải thoát, từ bỏ dâm dục hèn hạ. Cũng vậy, đêm nay và ngày nay, ta sống từ bỏ tà hạnh, tịnh tu Phạm hạnh, sống giải thoát, từ bỏ dâm dục hèn hạ. Về chi phần này, ta theo gương các vị A-la-hán và ta sẽ thực hành trai giới”.
TTC 12—“Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ nơi sự thật chắc chắn, đáng tin cậy, không lừa gạt, không phản lại lời hứa đối với đời. Cũng vậy, đêm nay và ngày nay, ta sống từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ nơi sự thật chắc chắn, đáng tin cậy, không lừa gạt, không phản lại lời hứa đối với đời. Về chi phần này, ta theo gương các vị A-la-hán và ta sẽ thực hành trai giới”.
TTC 13—“Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán từ bỏ rượu men, rượu nấu làm cho đắm say, tránh xa rượu men, rượu nấu làm cho đắm say. Cũng vậy, đêm nay và ngày nay, ta sống từ bỏ rượu men, rượu nấu làm cho đắm say, tránh xa rượu men, rượu nấu làm cho đắm say. Về chi phần này, ta theo gương các vị A-la-hán và ta sẽ thực hành trai giới”.
TTC 14—“Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán ăn một ngày một bữa, không ăn ban đêm, không ăn phi thời. Cũng vậy, đêm nay và ngày nay, ta sống ăn một ngày một bữa, không ăn ban đêm, không ăn phi thời. Về chi phần này, ta theo gương các vị A-la-hán và ta sẽ thực hành trai giới”.
TTC 15—“Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán tránh xa không xem múa, hát, nhạc, diễn kịch, không trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và các thời trang. Cũng vậy, đêm nay và ngày nay, ta sống tránh xa không xem múa, hát, nhạc, diễn kịch, không trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và các thời trang. Về chi phần này, ta theo gương các vị A-la-hán và ta sẽ thực hành trai giới”.
TTC 16—“Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán từ bỏ giường cao, giường lớn, tránh xa giường cao, giường lớn. Các vị ấy nằm trên giường thấp, trên giường nhỏ hay trên đệm cỏ. Cũng vậy, đêm nay và ngày nay, ta từ bỏ giường cao, giường lớn, tránh xa giường cao, giường lớn. Ta nằm trên giường thấp, trên giường nhỏ hay trên đệm cỏ. Về chi phần này, ta theo gương các vị A-la-hán và ta sẽ thực hành trai giới”.
Như vậy, này Visàkhà, là Thánh trai giới, thực hành Thánh trai giới, này Visàkhà, có quả lớn, có lợi ích lớn, có chói sáng lớn, có ánh sáng lớn.
TTC 17—Quả lớn là như thế nào? Lợi ích lớn như thế nào? Chói sáng lớn như thế nào? Ánh sáng lớn như thế nào?
Ví như, này Visàkhà, có người áp đặt chủ quyền trên 16 quốc độ lớn tràn đầy bảy báu như Anga, Magadha, Kàsi, Kosala, Vajji, Mallà, Ceti, Vangà, Kurù, Pancàlà, Macchà, Surasenà, Assakà, Avanti, Gandhàrà, Kambojà, nhưng chủ quyền ấy không bằng một phần mười sáu của một trai giới thực hành đầy đủ cả tám mặt. Vì cớ sao? Nhỏ nhoi thay, này Visàkhà, là vương quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc Chư Thiên!
TTC 18—Năm mươi năm của một đời người, này Visàkhà, bằng một đêm một ngày của chư Thiên của Bốn Thiên Vương. Ba mươi đêm như vậy, làm thành một tháng. Mười hai tháng như vậy làm thành một năm. Năm mươi năm chư thiên như vậy làm thành thọ mạng của chư Thiên của Bốn Thiên Vương. Sự kiện này có xảy ra, này Visàkhà, ở đây có người đàn bà hay người đàn ông, sau khi thực hiện trai giới đầy đủ cả tám mặt, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên của Bốn Thiên Vương. Chính dựa trên trường hợp này được nói lên rằng: “Nhỏ nhoi thay là vương quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên!”
TTC 19—Một trăm năm của một đời người, này Visàkhà, bằng một ngày một đêm của chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba. Ba mươi đêm như vậy, làm thành một tháng. Mười hai tháng như vậy làm thành một năm. Một ngàn năm chư Thiên như vậy làm thành thọ mạng của chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba. Sự kiện này có xảy ra, này Visàkhà, ở đây có người đàn bà hay người đàn ông, sau khi thực hiện trai giới đầy đủ cả tám mặt, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba. Chính dựa trên trường hợp này được nói lên rằng: “Nhỏ nhoi thay là vương quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên!”
TTC 20—Hai trăm năm của một đời người, này Visàkhà, bằng một ngày một đêm của chư Thiên ở cõi trời Yàmà. Ba mươi đêm như vậy, làm thành một tháng. Mười hai tháng như vậy làm thành một năm. Hai ngàn năm chư Thiên như vậy làm thành thọ mạng của chư Thiên ở cõi trời Yàmà. Sự kiện này có xảy ra, này Visàkhà, ở đây có người đàn bà hay người đàn ông, sau khi thực hiện trai giới đầy đủ cả tám mặt, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên ở cõi trời Yàmà. Chính dựa trên trường hợp này được nói lên rằng: “Nhỏ nhoi thay là vương quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên!”.
TTC 21—Bốn trăm năm của một đời người, này Visàkhà, bằng một ngày một đêm của chư Thiên ở cõi trời Tusita (Ðâu-suất). Ba mươi đêm như vậy, làm thành một tháng. Mười hai tháng như vậy làm thành một năm. Bốn ngàn năm chư Thiên như vậy làm thành thọ mạng của chư Thiên ở cõi trời Tusita. Sự kiện này có xảy ra, này Visàkhà, ở đây có người đàn bà hay người đàn ông, sau khi thực hiện trai giới đầy đủ cả tám mặt, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên ở cõi trời Tusita. Chính dựa trên trường hợp này được nói lên rằng: “Nhỏ nhoi thay là vương quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên!”.
TTC 22—Tám trăm năm của một đời người, này Visàkhà, bằng một ngày một đêm của chư Thiên ở cõi trời Hóa lạc. Ba mươi đêm như vậy, làm thành một tháng. Mười hai tháng như vậy làm thành một năm. Tám ngàn năm chư Thiên như vậy làm thành thọ mạng của chư Thiên ở cõi trời Hóa lạc. Sự kiện này có xảy ra, này Visàkhà, ở đây có người đàn bà hay người đàn ông, sau khi thực hiện trai giới đầy đủ cả tám mặt, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên ở cõi trời Hóa lạc. Chính dựa trên trường hợp này được nói lên rằng: “Nhỏ nhoi thay là vương quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên!”.
TTC 23—Mười sáu trăm năm của một đời người, này Visàkhà, bằng một ngày một đêm của chư Thiên ở cõi trời Tha Hóa Tự Tại. Ba mươi đêm như vậy, làm thành một tháng, mười hai tháng như vậy làm thành một năm. Mười sáu ngàn năm chư Thiên như vậy làm thành thọ mạng của chư Thiên ở cõi trời Tha Hóa Tự Tại. Sự kiện này có xảy ra, này Visàkhà, ở đây có người đàn bà hay người đàn ông, sau khi thực hành Uposatha đầy đủ cả tám mặt, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên ở cõi trời Tha Hóa Tự Tại. Chính dựa trên trường hợp này, được nói lên rằng: “Nhỏ nhoi thay là vương quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư Thiên”.
Chớ giết hại sinh loài
Chớ lấy của không cho
Chớ nói lời nói láo
Chớ uống thứ rượu say
Từ bỏ không phạm hạnh
Từ bỏ, không dâm dục
Không ăn vào ban đêm
Tránh không ăn phi thời
Không mang các vòng hoa
Không dùng các hương liệu
Hãy nằm trên tấm thảm
Ðược trải dài trên đất
Chính hạnh trai giới này
Ðược gọi có tám phần
Do đức Phật nói lên
Ðưa đến đoạn tận khổ
Mặt trăng và mặt trời
Ðược thấy là lành tốt
Chỗ nào chúng đi tới
Chúng chói sáng hào quang
Chúng làm mây sáng chói
Giữa hư không chúng đi
Trên trời chúng chói sáng
Sáng rực mọi phương hướng
Trong khoảng không gian ấy
Tài sản được tìm thấy
Trân châu và ngọc báu
Lưu ly, đá cầu may
Vàng cục trong lòng đất
Hay loại Kancana
Cùng loại vàng sáng chói
Ðược gọi là Hattaka
Tuy vậy chúng giá trị
Chỉ một phần mười sáu
Với hạnh giữ trai giới
Ðầy đủ cả tám mặt
Kể cả ánh sáng trăng
Với cả vòm trời cao.
Vậy người nữ người nam
Hãy giữ theo định giới
Hành bố-tát trai giới
Ðầy đủ cả tám mặt
Làm thiện các công đức
Ðem lại nhiều an lạc
Ðược sanh lên cõi trời
Không bị người cười chê.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
10. Kinh Bố-tát
Atha kho visākhā migāramātā tadahuposathe yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho visākhaṁ migāramātaraṁ bhagavā etadavoca: “handa kuto nu tvaṁ, visākhe, āgacchasi divā divassā”ti?
“Uposathāhaṁ, bhante, ajja upavasāmī”ti.
Then Visākhā, Migāra’s mother, went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to her, “So, Visākhā, where are you coming from in the middle of the day?”
“Today, sir, I’m observing the sabbath.”
71. Tôi nghe như vầy – một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Pubbārāma, trong lâu đài của mẹ Migāra. Bấy giờ, vào ngày Bố-tát, bà Visākhā, mẹ của Migāra, đi đến nơi Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với bà Visākhā, mẹ của Migāra, đang ngồi một bên: 'Này Visākhā, sao bà lại đến đây vào lúc ban ngày thế này?' 'Bạch Thế Tôn, hôm nay con đang thực hành Bố-tát.'
“Tayo khome, visākhe, uposathā. Katame tayo? Gopālakuposatho, nigaṇṭhuposatho, ariyuposatho.
Kathañca, visākhe, gopālakuposatho hoti? Seyyathāpi, visākhe, gopālako sāyanhasamaye sāmikānaṁ gāvo niyyātetvā iti paṭisañcikkhati: ‘ajja kho gāvo amukasmiñca amukasmiñca padese cariṁsu, amukasmiñca amukasmiñca padese pānīyāni piviṁsu; sve dāni gāvo amukasmiñca amukasmiñca padese carissanti, amukasmiñca amukasmiñca padese pānīyāni pivissantī’ti; evamevaṁ kho, visākhe, idhekacco uposathiko iti paṭisañcikkhati: ‘ahaṁ khvajja idañcidañca khādanīyaṁ khādiṁ, idañcidañca bhojanīyaṁ bhuñjiṁ; sve dānāhaṁ idañcidañca khādanīyaṁ khādissāmi, idañcidañca bhojanīyaṁ bhuñjissāmī’ti. So tena abhijjhāsahagatena cetasā divasaṁ atināmeti. Evaṁ kho, visākhe, gopālakuposatho hoti. Evaṁ upavuttho kho, visākhe, gopālakuposatho na mahapphalo hoti na mahānisaṁso na mahājutiko na mahāvipphāro.
“There are, Visākhā, these three sabbaths. What three? The sabbath of the cowherds, the sabbath of the Jains, and the sabbath of the noble ones.
And what is the sabbath of the cowherds? It’s just like a cowherd who, in the late afternoon, takes the cows back to their owners. They reflect: ‘Today the cows grazed in this spot and that, and they drank in this spot and that. Tomorrow the cows will graze in this spot and that, and drink in this spot and that.’ In the same way, someone keeping the sabbath reflects: ‘Today I ate this and that, and had a meal of this and that. Tomorrow I’ll eat this and that, and have a meal of this and that.’ And so they spend their day with a mind full of covetousness. That’s the sabbath of the cowherds. When the cowherd’s sabbath is observed like this it’s not very fruitful or beneficial or dazzling or bountiful.
Này Visākhā, có ba loại Bố-tát này. Ba loại nào? Bố-tát của người chăn bò, Bố-tát của Nigaṇṭha, và Bố-tát của bậc Thánh. Và này Visākhā, thế nào là Bố-tát của người chăn bò? Ví như, này Visākhā, người chăn bò vào buổi chiều, sau khi giao lại đàn bò cho chủ, suy xét rằng: 'Hôm nay đàn bò đã ăn cỏ ở chỗ này, chỗ này, đã uống nước ở chỗ này, chỗ này; ngày mai đàn bò sẽ ăn cỏ ở chỗ này, chỗ này, sẽ uống nước ở chỗ này, chỗ này'. Cũng vậy, này Visākhā, ở đây có người thực hành Bố-tát suy xét rằng: 'Hôm nay ta đã ăn vật thực cứng loại này, loại này, đã ăn vật thực mềm loại này, loại này; ngày mai ta sẽ ăn vật thực cứng loại này, loại này, sẽ ăn vật thực mềm loại này, loại này'. Người ấy trải qua ngày với tâm tham ái như vậy. Này Visākhā, như vậy là Bố-tát của người chăn bò. Này Visākhā, Bố-tát của người chăn bò được thực hành như vậy không có quả lớn, không có lợi ích lớn, không có ánh sáng lớn, không có sự lan tỏa lớn.
Kathañca, visākhe, nigaṇṭhuposatho hoti? Atthi, visākhe, nigaṇṭhā nāma samaṇajātikā. Te sāvakaṁ evaṁ samādapenti: ‘ehi tvaṁ, ambho purisa, ye puratthimāya disāya pāṇā paraṁ yojanasataṁ tesu daṇḍaṁ nikkhipāhi; ye pacchimāya disāya pāṇā paraṁ yojanasataṁ tesu daṇḍaṁ nikkhipāhi; ye uttarāya disāya pāṇā paraṁ yojanasataṁ tesu daṇḍaṁ nikkhipāhi; ye dakkhiṇāya disāya pāṇā paraṁ yojanasataṁ tesu daṇḍaṁ nikkhipāhī’ti. Iti ekaccānaṁ pāṇānaṁ anuddayāya anukampāya samādapenti, ekaccānaṁ pāṇānaṁ nānuddayāya nānukampāya samādapenti. Te tadahuposathe sāvakaṁ evaṁ samādapenti: ‘ehi tvaṁ, ambho purisa, sabbacelāni nikkhipitvā evaṁ vadehi—nāhaṁ kvacani kassaci kiñcanatasmiṁ, na ca mama kvacani katthaci kiñcanatatthī’ti. Jānanti kho panassa mātāpitaro: ‘ayaṁ amhākaṁ putto’ti; sopi jānāti: ‘ime mayhaṁ mātāpitaro’ti. Jānāti kho panassa puttadāro: ‘ayaṁ mayhaṁ bhattā’ti; sopi jānāti: ‘ayaṁ mayhaṁ puttadāro’ti. Jānanti kho panassa dāsakammakaraporisā: ‘ayaṁ amhākaṁ ayyo’ti; sopi jānāti: ‘ime mayhaṁ dāsakammakaraporisā’ti. Iti yasmiṁ samaye sacce samādapetabbā musāvāde tasmiṁ samaye samādapenti. Idaṁ tassa musāvādasmiṁ vadāmi. So tassā rattiyā accayena bhoge adinnaṁyeva paribhuñjati. Idaṁ tassa adinnādānasmiṁ vadāmi. Evaṁ kho, visākhe, nigaṇṭhuposatho hoti. Evaṁ upavuttho kho, visākhe, nigaṇṭhuposatho na mahapphalo hoti na mahānisaṁso na mahājutiko na mahāvipphāro.
And what is the sabbath of the Jains? There’s a kind of ascetic belonging to a group called the Jains. They encourage their disciple: ‘Please, my man, don’t hurt any living creatures more than a hundred leagues away to the east. Don’t hurt any living creatures more than a hundred leagues away to the west. Don’t hurt any living creatures more than a hundred leagues away to the north. Don’t hurt any living creatures more than a hundred leagues away to the south.’ So they encourage kindness and sympathy for some creatures and not others. On the sabbath, they encourage their disciple: ‘Please, my man, take off all your clothes and say: “I don’t belong to anyone anywhere! And nothing belongs to me anywhere!”’ But their mother and father still know, ‘This is our child.’ And they know, ‘This is my mother and father.’ Partner and child still know, ‘This is our supporter.’ And they know, ‘This is my partner and child.’ Bondservants, workers, and staff still know: ‘This is our master.’ And they know, ‘These are my bondservants, workers, and staff.’ So, at a time when they should be encouraged to speak the truth, the Jains encourage them to lie. This, I say, is lying. When the night has passed they use their possessions once more, though they’ve not been given back to them. This, I say, is stealing. That’s the sabbath of the Jains. When the Jain’s sabbath is observed like this it’s not very fruitful or beneficial or dazzling or bountiful.
Và này Visākhā, thế nào là Bố-tát của Nigaṇṭha? Này Visākhā, có một loại sa-môn tên là Nigaṇṭha. Họ khuyên dạy đệ tử như vầy: 'Này ông, hãy đến đây. Hãy từ bỏ gậy trượng đối với các chúng sanh ở phương đông, xa hơn một trăm do-tuần; hãy từ bỏ gậy trượng đối với các chúng sanh ở phương tây, xa hơn một trăm do-tuần; hãy từ bỏ gậy trượng đối với các chúng sanh ở phương bắc, xa hơn một trăm do-tuần; hãy từ bỏ gậy trượng đối với các chúng sanh ở phương nam, xa hơn một trăm do-tuần.' Như vậy, họ khuyên dạy lòng từ ái và bi mẫn đối với một số chúng sanh, nhưng không khuyên dạy lòng từ ái và bi mẫn đối với một số chúng sanh khác. Vào ngày Bố-tát, họ khuyên dạy đệ tử như vầy: 'Này ông, hãy đến đây. Hãy cởi bỏ tất cả y phục và nói như vầy: "Tôi không có gì dính mắc với bất cứ ai ở bất cứ đâu, và cũng không có gì của tôi dính mắc với bất cứ ai ở bất cứ đâu".' Nhưng cha mẹ của người ấy biết: 'Đây là con của chúng ta'; và người ấy cũng biết: 'Đây là cha mẹ của ta'. Vợ con của người ấy biết: 'Đây là chồng của chúng ta'; và người ấy cũng biết: 'Đây là vợ con của ta'. Tôi tớ và người làm công của người ấy biết: 'Đây là chủ của chúng ta'; và người ấy cũng biết: 'Đây là tôi tớ và người làm công của ta'. Như vậy, vào lúc cần phải khuyên dạy sự thật, họ lại khuyên dạy lời nói dối. Ta nói rằng điều này là lời nói dối của người ấy. Sau khi đêm đó trôi qua, người ấy hưởng thụ những tài sản không được cho. Ta nói rằng điều này là sự lấy của không cho của người ấy. Này Visākhā, như vậy là Bố-tát của Nigaṇṭha. Này Visākhā, Bố-tát của Nigaṇṭha được thực hành như vậy không có quả lớn, không có lợi ích lớn, không có ánh sáng lớn, không có sự lan tỏa lớn.
Kathañca, visākhe, ariyuposatho hoti? Upakkiliṭṭhassa, visākhe, cittassa upakkamena pariyodapanā hoti. Kathañca, visākhe, upakkiliṭṭhassa cittassa upakkamena pariyodapanā hoti? Idha, visākhe, ariyasāvako tathāgataṁ anussarati: ‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti. Tassa tathāgataṁ anussarato cittaṁ pasīdati, pāmojjaṁ uppajjati, ye cittassa upakkilesā te pahīyanti, seyyathāpi, visākhe, upakkiliṭṭhassa sīsassa upakkamena pariyodapanā hoti.
And what is the sabbath of the noble ones? A corrupt mind is cleaned by exertion. And how is a corrupt mind cleaned by exertion? It’s when a noble disciple recollects the Realized One: ‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’ As they recollect the Realized One, their mind becomes clear, joy arises, and mental corruptions are given up. It’s just like cleaning a dirty head by exertion.
Và này Visākhā, thế nào là Bố-tát của bậc Thánh? Này Visākhā, đó là sự gột rửa tâm ô uế bằng phương pháp. Và này Visākhā, thế nào là sự gột rửa tâm ô uế bằng phương pháp? Này Visākhā, ở đây, vị Thánh đệ tử tùy niệm Như Lai: 'Thế Tôn là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn'. Khi vị ấy tùy niệm Như Lai, tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi. Những tùy phiền não của tâm được đoạn trừ. Ví như, này Visākhā, đó là sự gột rửa cái đầu dơ bẩn bằng phương pháp.
Kathañca, visākhe, upakkiliṭṭhassa sīsassa upakkamena pariyodapanā hoti? Kakkañca paṭicca mattikañca paṭicca udakañca paṭicca purisassa ca tajjaṁ vāyāmaṁ paṭicca, evaṁ kho, visākhe, upakkiliṭṭhassa sīsassa upakkamena pariyodapanā hoti. Evamevaṁ kho, visākhe, upakkiliṭṭhassa cittassa upakkamena pariyodapanā hoti.
And how is a dirty head cleaned by exertion? With cleansing paste, clay, and water, and by applying the appropriate effort. In the same way, a corrupt mind is cleaned by exertion.
Và này Visākhā, thế nào là sự gột rửa cái đầu dơ bẩn bằng phương pháp? Duyên vào bột, duyên vào đất sét, duyên vào nước, và duyên vào sự nỗ lực thích đáng của người ấy, này Visākhā, như vậy là sự gột rửa cái đầu dơ bẩn bằng phương pháp. Cũng vậy, này Visākhā, đó là sự gột rửa tâm ô uế bằng phương pháp.
Kathañca, visākhe, upakkiliṭṭhassa cittassa upakkamena pariyodapanā hoti? Idha, visākhe, ariyasāvako tathāgataṁ anussarati: ‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti. Tassa tathāgataṁ anussarato cittaṁ pasīdati, pāmojjaṁ uppajjati, ye cittassa upakkilesā te pahīyanti. Ayaṁ vuccati, visākhe: ‘ariyasāvako brahmuposathaṁ upavasati, brahmunā saddhiṁ saṁvasati, brahmañcassa ārabbha cittaṁ pasīdati, pāmojjaṁ uppajjati, ye cittassa upakkilesā te pahīyanti’. Evaṁ kho, visākhe, upakkiliṭṭhassa cittassa upakkamena pariyodapanā hoti.
And how is a corrupt mind cleaned by exertion? It’s when a noble disciple recollects the Realized One: ‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’ As they recollect the Realized One, their mind becomes clear, joy arises, and mental corruptions are given up. This is called: ‘A noble disciple who observes the sabbath of the divinity, living together with the divinity. And because they think of the divinity their mind becomes clear, joy arises, and mental corruptions are given up.’ That’s how a corrupt mind is cleaned by exertion.
Này Visākhā, thế nào là sự thanh lọc tâm bị ô nhiễm bằng phương pháp? Này Visākhā, ở đây, vị Thánh đệ tử tùy niệm Như Lai rằng: ‘Vì lý do này, vị Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’ Khi vị ấy tùy niệm Như Lai, tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, những phiền não cấu uế của tâm được đoạn trừ. Này Visākhā, điều này được gọi là: ‘Vị Thánh đệ tử thực hành ngày trai giới Phạm Thiên, sống cùng với Phạm Thiên, và do duyên vào Phạm Thiên mà tâm của vị ấy được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, những phiền não cấu uế của tâm được đoạn trừ.’ Này Visākhā, như vậy là sự thanh lọc tâm bị ô nhiễm bằng phương pháp.
Upakkiliṭṭhassa, visākhe, cittassa upakkamena pariyodapanā hoti. Kathañca, visākhe, upakkiliṭṭhassa cittassa upakkamena pariyodapanā hoti? Idha, visākhe, ariyasāvako dhammaṁ anussarati: ‘svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhī’ti. Tassa dhammaṁ anussarato cittaṁ pasīdati, pāmojjaṁ uppajjati, ye cittassa upakkilesā te pahīyanti, seyyathāpi, visākhe, upakkiliṭṭhassa kāyassa upakkamena pariyodapanā hoti.
A corrupt mind is cleaned by exertion. And how is a corrupt mind cleaned by exertion? It’s when a noble disciple recollects the teaching: ‘The teaching is well explained by the Buddha—apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.’ As they recollect the teaching, their mind becomes clear, joy arises, and mental corruptions are given up. It’s just like cleaning a dirty body by exertion.
Này Visākhā, có sự thanh lọc tâm bị ô nhiễm bằng phương pháp. Và này Visākhā, thế nào là sự thanh lọc tâm bị ô nhiễm bằng phương pháp? Này Visākhā, ở đây, vị Thánh đệ tử tùy niệm Pháp rằng: ‘Pháp đã được Thế Tôn khéo thuyết giảng, là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có tính hướng thượng, được người trí tự mình chứng hiểu.’ Khi vị ấy tùy niệm Pháp, tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, những phiền não cấu uế của tâm được đoạn trừ. Này Visākhā, cũng giống như có sự thanh lọc thân thể bị dơ bẩn bằng phương pháp.
Kathañca, visākhe, upakkiliṭṭhassa kāyassa upakkamena pariyodapanā hoti? Sottiñca paṭicca, cuṇṇañca paṭicca, udakañca paṭicca, purisassa ca tajjaṁ vāyāmaṁ paṭicca. Evaṁ kho, visākhe, upakkiliṭṭhassa kāyassa upakkamena pariyodapanā hoti. Evamevaṁ kho, visākhe, upakkiliṭṭhassa cittassa upakkamena pariyodapanā hoti.
And how is a dirty body cleaned by exertion? With cleanser and powder, water, and by applying the appropriate effort. That’s how a dirty body is cleaned by exertion. In the same way, a corrupt mind is cleaned by exertion.
Này Visākhā, thế nào là sự thanh lọc thân thể bị dơ bẩn bằng phương pháp? Là nhờ vào dụng cụ chà rửa, nhờ vào bột thơm, nhờ vào nước, và nhờ vào sự nỗ lực thích hợp của người ấy. Này Visākhā, như vậy là sự thanh lọc thân thể bị dơ bẩn bằng phương pháp. Cũng y như thế, này Visākhā, có sự thanh lọc tâm bị ô nhiễm bằng phương pháp.
Kathañca, visākhe, upakkiliṭṭhassa cittassa upakkamena pariyodapanā hoti? Idha, visākhe, ariyasāvako dhammaṁ anussarati: ‘svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhī’ti. Tassa dhammaṁ anussarato cittaṁ pasīdati, pāmojjaṁ uppajjati, ye cittassa upakkilesā te pahīyanti. Ayaṁ vuccati, visākhe, ‘ariyasāvako dhammuposathaṁ upavasati, dhammena saddhiṁ saṁvasati, dhammañcassa ārabbha cittaṁ pasīdati, pāmojjaṁ uppajjati, ye cittassa upakkilesā te pahīyanti’. Evaṁ kho, visākhe, upakkiliṭṭhassa cittassa upakkamena pariyodapanā hoti.
And how is a corrupt mind cleaned by exertion? It’s when a noble disciple recollects the teaching: ‘The teaching is well explained by the Buddha—apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.’ As they recollect the teaching, their mind becomes clear, joy arises, and mental corruptions are given up. This is called: ‘A noble disciple who observes the sabbath of Dhamma, living together with Dhamma. And because they think of the Dhamma their mind becomes clear, joy arises, and mental corruptions are given up.’ That’s how a corrupt mind is cleaned by exertion.
Này Visākhā, thế nào là sự thanh lọc tâm bị ô nhiễm bằng phương pháp? Này Visākhā, ở đây, vị Thánh đệ tử tùy niệm Pháp rằng: ‘Pháp đã được Thế Tôn khéo thuyết giảng, là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có tính hướng thượng, được người trí tự mình chứng hiểu.’ Khi vị ấy tùy niệm Pháp, tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, những phiền não cấu uế của tâm được đoạn trừ. Này Visākhā, điều này được gọi là: ‘Vị Thánh đệ tử thực hành ngày trai giới Pháp, sống cùng với Pháp, và do duyên vào Pháp mà tâm của vị ấy được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, những phiền não cấu uế của tâm được đoạn trừ.’ Này Visākhā, như vậy là sự thanh lọc tâm bị ô nhiễm bằng phương pháp.
Upakkiliṭṭhassa, visākhe, cittassa upakkamena pariyodapanā hoti. Kathañca, visākhe, upakkiliṭṭhassa cittassa upakkamena pariyodapanā hoti? Idha, visākhe, ariyasāvako saṅghaṁ anussarati: ‘suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ujuppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ñāyappaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, sāmīcippaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, yadidaṁ cattāri purisayugāni aṭṭha purisapuggalā esa bhagavato sāvakasaṅgho āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassā’ti. Tassa saṅghaṁ anussarato cittaṁ pasīdati, pāmojjaṁ uppajjati, ye cittassa upakkilesā te pahīyanti, seyyathāpi, visākhe, upakkiliṭṭhassa vatthassa upakkamena pariyodapanā hoti.
A corrupt mind is cleaned by exertion. And how is a corrupt mind cleaned by exertion? It’s when a noble disciple recollects the Saṅgha: ‘The Saṅgha of the Buddha’s disciples is practicing the way that’s good, direct, systematic, and proper. It consists of the four pairs, the eight individual persons. This is the Saṅgha of the Buddha’s disciples that is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of greeting with cupped palms, and is the supreme field of merit for the world.’ As they recollect the Saṅgha, their mind becomes clear, joy arises, and mental corruptions are given up. It’s just like cleaning a dirty cloth by exertion.
Này Visākhā, có sự thanh lọc tâm bị ô nhiễm bằng phương pháp. Và này Visākhā, thế nào là sự thanh lọc tâm bị ô nhiễm bằng phương pháp? Này Visākhā, ở đây, vị Thánh đệ tử tùy niệm Tăng rằng: ‘Chúng Thánh đệ tử của Thế Tôn là bậc diệu hạnh, chúng Thánh đệ tử của Thế Tôn là bậc trực hạnh, chúng Thánh đệ tử của Thế Tôn là bậc như lý hạnh, chúng Thánh đệ tử của Thế Tôn là bậc chánh hạnh; tức là bốn đôi tám vị. Chúng Thánh đệ tử của Thế Tôn ấy là đáng được cúng dường, đáng được nghênh tiếp, đáng được bố thí, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời.’ Khi vị ấy tùy niệm Tăng, tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, những phiền não cấu uế của tâm được đoạn trừ. Này Visākhā, cũng giống như có sự giặt sạch tấm vải bị dơ bẩn bằng phương pháp.
Kathañca, visākhe, upakkiliṭṭhassa vatthassa upakkamena pariyodapanā hoti? Usmañca paṭicca, khārañca paṭicca, gomayañca paṭicca, udakañca paṭicca, purisassa ca tajjaṁ vāyāmaṁ paṭicca. Evaṁ kho, visākhe, upakkiliṭṭhassa vatthassa upakkamena pariyodapanā hoti. Evamevaṁ kho, visākhe, upakkiliṭṭhassa cittassa upakkamena pariyodapanā hoti.
And how is a dirty cloth cleaned by applying effort? With salt, lye, cow dung, and water, and by applying the appropriate effort. That’s how a dirty cloth is cleaned by exertion. In the same way, a corrupt mind is cleaned by exertion.
Này Visākhā, thế nào là sự giặt sạch tấm vải bị dơ bẩn bằng phương pháp? Là nhờ vào hơi nóng, nhờ vào chất kiềm, nhờ vào phân bò, nhờ vào nước, và nhờ vào sự nỗ lực thích hợp của người ấy. Này Visākhā, như vậy là sự giặt sạch tấm vải bị dơ bẩn bằng phương pháp. Cũng y như thế, này Visākhā, có sự thanh lọc tâm bị ô nhiễm bằng phương pháp.
Kathañca, visākhe, upakkiliṭṭhassa cittassa upakkamena pariyodapanā hoti? Idha, visākhe, ariyasāvako saṅghaṁ anussarati: ‘suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho …pe… anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassā’ti. Tassa saṅghaṁ anussarato cittaṁ pasīdati, pāmojjaṁ uppajjati, ye cittassa upakkilesā te pahīyanti. Ayaṁ vuccati, visākhe, ‘ariyasāvako saṅghuposathaṁ upavasati, saṅghena saddhiṁ saṁvasati, saṅghañcassa ārabbha cittaṁ pasīdati, pāmojjaṁ uppajjati, ye cittassa upakkilesā te pahīyanti’. Evaṁ kho, visākhe, upakkiliṭṭhassa cittassa upakkamena pariyodapanā hoti.
And how is a corrupt mind cleaned by exertion? It’s when a noble disciple recollects the Saṅgha: ‘The Saṅgha of the Buddha’s disciples is practicing the way that’s good, direct, systematic, and proper. It consists of the four pairs, the eight individual persons. This Saṅgha of the Buddha’s disciples is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, and worthy of veneration with cupped palms. It is the supreme field of merit for the world.’ As they recollect the Saṅgha, their mind becomes clear, joy arises, and mental corruptions are given up. This is called: ‘A noble disciple who observes the sabbath of the Saṅgha, living together with the Saṅgha. And because they think of the Saṅgha their mind becomes clear, joy arises, and mental corruptions are given up.’ That’s how a corrupt mind is cleaned by exertion.
Này Visākhā, thế nào là sự thanh lọc tâm bị ô nhiễm bằng phương pháp? Này Visākhā, ở đây, vị Thánh đệ tử tùy niệm Tăng rằng: ‘Chúng Thánh đệ tử của Thế Tôn là bậc diệu hạnh, ... cho đến ... là phước điền vô thượng ở đời.’ Khi vị ấy tùy niệm Tăng, tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, những phiền não cấu uế của tâm được đoạn trừ. Này Visākhā, điều này được gọi là: ‘Vị Thánh đệ tử thực hành ngày trai giới Tăng, sống cùng với Tăng, và do duyên vào Tăng mà tâm của vị ấy được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, những phiền não cấu uế của tâm được đoạn trừ.’ Này Visākhā, như vậy là sự thanh lọc tâm bị ô nhiễm bằng phương pháp.
Upakkiliṭṭhassa, visākhe, cittassa upakkamena pariyodapanā hoti. Kathañca, visākhe, upakkiliṭṭhassa cittassa upakkamena pariyodapanā hoti? Idha, visākhe, ariyasāvako attano sīlāni anussarati akhaṇḍāni acchiddāni asabalāni akammāsāni bhujissāni viññuppasatthāni aparāmaṭṭhāni samādhisaṁvattanikāni. Tassa sīlaṁ anussarato cittaṁ pasīdati, pāmojjaṁ uppajjati, ye cittassa upakkilesā te pahīyanti, seyyathāpi, visākhe, upakkiliṭṭhassa ādāsassa upakkamena pariyodapanā hoti.
A corrupt mind is cleaned by exertion. And how is a corrupt mind cleaned by exertion? It’s when a noble disciple recollects their own ethical precepts, which are intact, impeccable, spotless, and unmarred, liberating, praised by sensible people, not mistaken, and leading to immersion. As they recollect their ethical conduct, their mind becomes clear, joy arises, and mental corruptions are given up. It’s just like cleaning a dirty mirror by exertion.
“Này Visākhā, đối với tâm bị ô nhiễm, có sự thanh lọc bằng nỗ lực. Và này Visākhā, thế nào là đối với tâm bị ô nhiễm, có sự thanh lọc bằng nỗ lực? Này Visākhā, ở đây vị Thánh đệ tử tùy niệm về các giới của mình không bị sứt mẻ, không bị rách thủng, không bị tỳ vết, không bị lốm đốm, có tính giải thoát, được bậc trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến định. Khi vị ấy tùy niệm về giới, tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, những tùy phiền não của tâm được đoạn trừ. Này Visākhā, ví như đối với tấm gương bị dơ bẩn, có sự làm cho trong sạch bằng nỗ lực.”
Kathañca, visākhe, upakkiliṭṭhassa ādāsassa upakkamena pariyodapanā hoti? Telañca paṭicca, chārikañca paṭicca, vālaṇḍupakañca paṭicca, purisassa ca tajjaṁ vāyāmaṁ paṭicca. Evaṁ kho, visākhe, upakkiliṭṭhassa ādāsassa upakkamena pariyodapanā hoti. Evamevaṁ kho, visākhe, upakkiliṭṭhassa cittassa upakkamena pariyodapanā hoti.
And how is a dirty mirror cleaned by exertion? With oil, ash, a rolled-up cloth, and by applying the appropriate effort. That’s how a dirty mirror is cleaned by exertion. In the same way, a corrupt mind is cleaned by exertion.
“Và này Visākhā, thế nào là đối với tấm gương bị dơ bẩn, có sự làm cho trong sạch bằng nỗ lực? Do duyên vào dầu, do duyên vào tro, do duyên vào miếng giẻ lau, và do duyên vào sự cố gắng thích hợp của người ấy. Này Visākhā, chính là như vậy, đối với tấm gương bị dơ bẩn, có sự làm cho trong sạch bằng nỗ lực. Này Visākhā, cũng tương tự như vậy, đối với tâm bị ô nhiễm, có sự thanh lọc bằng nỗ lực.”
Kathañca, visākhe, upakkiliṭṭhassa cittassa upakkamena pariyodapanā hoti? Idha, visākhe, ariyasāvako attano sīlāni anussarati akhaṇḍāni …pe… samādhisaṁvattanikāni. Tassa sīlaṁ anussarato cittaṁ pasīdati, pāmojjaṁ uppajjati, ye cittassa upakkilesā te pahīyanti. Ayaṁ vuccati, visākhe, ‘ariyasāvako sīluposathaṁ upavasati, sīlena saddhiṁ saṁvasati, sīlañcassa ārabbha cittaṁ pasīdati, pāmojjaṁ uppajjati, ye cittassa upakkilesā te pahīyanti’. Evaṁ kho, visākhe, upakkiliṭṭhassa cittassa upakkamena pariyodapanā hoti.
And how is a corrupt mind cleaned by exertion? It’s when a noble disciple recollects their own ethical precepts, which are intact, impeccable, spotless, and unmarred, liberating, praised by sensible people, not mistaken, and leading to immersion. As they recollect their ethical conduct, their mind becomes clear, joy arises, and mental corruptions are given up. This is called: ‘A noble disciple who observes the sabbath of ethical conduct, living together with ethics. And because they think of their ethical conduct their mind becomes clear, joy arises, and mental corruptions are given up.’ That’s how a corrupt mind is cleaned by exertion.
“Và này Visākhā, thế nào là đối với tâm bị ô nhiễm, có sự thanh lọc bằng nỗ lực? Này Visākhā, ở đây vị Thánh đệ tử tùy niệm về các giới của mình không bị sứt mẻ, ... cho đến ... đưa đến định. Khi vị ấy tùy niệm về giới, tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, những tùy phiền não của tâm được đoạn trừ. Này Visākhā, vị Thánh đệ tử này được gọi là: ‘Vị ấy thực hành ngày Bố-tát về giới, vị ấy sống chung với giới, và do nương vào giới tâm của vị ấy được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, những tùy phiền não của tâm được đoạn trừ’. Này Visākhā, chính là như vậy, đối với tâm bị ô nhiễm, có sự thanh lọc bằng nỗ lực.”
Upakkiliṭṭhassa, visākhe, cittassa upakkamena pariyodapanā hoti. Kathañca, visākhe, upakkiliṭṭhassa cittassa upakkamena pariyodapanā hoti? Idha, visākhe, ariyasāvako devatā anussarati: ‘santi devā cātumahārājikā, santi devā tāvatiṁsā, santi devā yāmā, santi devā tusitā, santi devā nimmānaratino, santi devā paranimmitavasavattino, santi devā brahmakāyikā, santi devā tatuttari. Yathārūpāya saddhāya samannāgatā tā devatā ito cutā tatthupapannā, mayhampi tathārūpā saddhā saṁvijjati. Yathārūpena sīlena samannāgatā tā devatā ito cutā tatthupapannā, mayhampi tathārūpaṁ sīlaṁ saṁvijjati. Yathārūpena sutena samannāgatā tā devatā ito cutā tatthupapannā, mayhampi tathārūpaṁ sutaṁ saṁvijjati. Yathārūpena cāgena samannāgatā tā devatā ito cutā tatthupapannā, mayhampi tathārūpo cāgo saṁvijjati. Yathārūpāya paññāya samannāgatā tā devatā ito cutā tatthupapannā, mayhampi tathārūpā paññā saṁvijjatī’ti. Tassa attano ca tāsañca devatānaṁ saddhañca sīlañca sutañca cāgañca paññañca anussarato cittaṁ pasīdati, pāmojjaṁ uppajjati, ye cittassa upakkilesā te pahīyanti, seyyathāpi, visākhe, upakkiliṭṭhassa jātarūpassa upakkamena pariyodapanā hoti.
A corrupt mind is cleaned by exertion. And how is a corrupt mind cleaned by exertion? It’s when a noble disciple recollects the deities: ‘There are the gods of the four great kings, the gods of the thirty-three, the gods of Yama, the joyful gods, the gods who love to create, the gods who control what is created by others, the gods of the Divinity’s host, and gods even higher than these. When those deities passed away from here, they were reborn there because of their faith, ethics, learning, generosity, and wisdom. I, too, have the same kind of faith, ethics, learning, generosity, and wisdom.’ As they recollect the faith, ethics, learning, generosity, and wisdom of both themselves and those deities, their mind becomes clear, joy arises, and mental corruptions are given up. It’s just like cleansing corrupt native gold by exertion.
“Này Visākhā, đối với tâm bị ô nhiễm, có sự thanh lọc bằng nỗ lực. Và này Visākhā, thế nào là đối với tâm bị ô nhiễm, có sự thanh lọc bằng nỗ lực? Này Visākhā, ở đây vị Thánh đệ tử tùy niệm về các vị chư thiên: ‘Có các vị chư thiên cõi Tứ Đại Thiên Vương, có các vị chư thiên cõi Ba Mươi Ba, có các vị chư thiên cõi Dạ Ma, có các vị chư thiên cõi Đâu Suất, có các vị chư thiên cõi Hóa Lạc, có các vị chư thiên cõi Tha Hóa Tự Tại, có các vị chư thiên thuộc thân Phạm thiên, có các vị chư thiên cao hơn nữa. Các vị chư thiên ấy, do thành tựu với loại tín nào, sau khi mệnh chung từ nơi đây đã được sanh lên nơi ấy, loại tín tương tự như vậy cũng có ở nơi ta. Các vị chư thiên ấy, do thành tựu với loại giới nào, sau khi mệnh chung từ nơi đây đã được sanh lên nơi ấy, loại giới tương tự như vậy cũng có ở nơi ta. Các vị chư thiên ấy, do thành tựu với loại văn nào, sau khi mệnh chung từ nơi đây đã được sanh lên nơi ấy, loại văn tương tự như vậy cũng có ở nơi ta. Các vị chư thiên ấy, do thành tựu với loại thí nào, sau khi mệnh chung từ nơi đây đã được sanh lên nơi ấy, loại thí tương tự như vậy cũng có ở nơi ta. Các vị chư thiên ấy, do thành tựu với loại tuệ nào, sau khi mệnh chung từ nơi đây đã được sanh lên nơi ấy, loại tuệ tương tự như vậy cũng có ở nơi ta.’ Khi vị ấy tùy niệm về tín, giới, văn, thí, tuệ của chính mình và của các vị chư thiên ấy, tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, những tùy phiền não của tâm được đoạn trừ. Này Visākhā, ví như đối với vàng chưa gia công bị dơ bẩn, có sự làm cho trong sạch bằng nỗ lực.”
Kathañca, visākhe, upakkiliṭṭhassa jātarūpassa upakkamena pariyodapanā hoti? Ukkañca paṭicca, loṇañca paṭicca, gerukañca paṭicca, nāḷikasaṇḍāsañca paṭicca, purisassa ca tajjaṁ vāyāmaṁ paṭicca. Evaṁ kho, visākhe, upakkiliṭṭhassa jātarūpassa upakkamena pariyodapanā hoti. Evamevaṁ kho, visākhe, upakkiliṭṭhassa cittassa upakkamena pariyodapanā hoti.
And how is corrupt native gold cleansed by applying effort? With a furnace, flux, a blowpipe, and tongs, and by applying the appropriate effort. That’s how corrupt native gold is cleansed by exertion. In the same way, a corrupt mind is cleaned by applying effort.
“Và này Visākhā, thế nào là đối với vàng chưa gia công bị dơ bẩn, có sự làm cho trong sạch bằng nỗ lực? Do duyên vào lò luyện, do duyên vào đất mặn, do duyên vào đất son, do duyên vào ống thổi và cái kẹp, và do duyên vào sự cố gắng thích hợp của người ấy. Này Visākhā, chính là như vậy, đối với vàng chưa gia công bị dơ bẩn, có sự làm cho trong sạch bằng nỗ lực. Này Visākhā, cũng tương tự như vậy, đối với tâm bị ô nhiễm, có sự thanh lọc bằng nỗ lực.”
Kathañca, visākhe, upakkiliṭṭhassa cittassa upakkamena pariyodapanā hoti? Idha, visākhe, ariyasāvako devatā anussarati: ‘santi devā cātumahārājikā, santi devā tāvatiṁsā …pe… santi devā tatuttari. Yathārūpāya saddhāya samannāgatā tā devatā ito cutā tatthupapannā, mayhampi tathārūpā saddhā saṁvijjati. Yathārūpena sīlena … sutena … cāgena … paññāya samannāgatā tā devatā ito cutā tatthupapannā, mayhampi tathārūpā paññā saṁvijjatī’ti. Tassa attano ca tāsañca devatānaṁ saddhañca sīlañca sutañca cāgañca paññañca anussarato cittaṁ pasīdati, pāmojjaṁ uppajjati, ye cittassa upakkilesā te pahīyanti. Ayaṁ vuccati, visākhe, ‘ariyasāvako devatuposathaṁ upavasati, devatāhi saddhiṁ saṁvasati, devatā ārabbha cittaṁ pasīdati, pāmojjaṁ uppajjati, ye cittassa upakkilesā te pahīyanti’. Evaṁ kho, visākhe, upakkiliṭṭhassa cittassa upakkamena pariyodapanā hoti.
And how is a corrupt mind cleaned by exertion? It’s when a noble disciple recollects the deities: ‘There are the gods of the four great kings, the gods of the thirty-three, the gods of Yama, the joyful gods, the gods who love to imagine, the gods who control what is imagined by others, the gods of the Divinity’s host, and gods even higher than these. When those deities passed away from here, they were reborn there because of their faith, ethics, learning, generosity, and wisdom. I, too, have the same kind of faith, ethics, learning, generosity, and wisdom.’ As they recollect the faith, ethics, learning, generosity, and wisdom of both themselves and those deities, their mind becomes clear, joy arises, and mental corruptions are given up. This is called: ‘A noble disciple who observes the sabbath of the deities, living together with the deities. And because they think of the deities their mind becomes clear, joy arises, and mental corruptions are given up.’ That’s how a corrupt mind is cleaned by applying effort.
“Và này Visākhā, thế nào là đối với tâm bị ô nhiễm, có sự thanh lọc bằng nỗ lực? Này Visākhā, ở đây vị Thánh đệ tử tùy niệm về các vị chư thiên: ‘Có các vị chư thiên cõi Tứ Đại Thiên Vương, có các vị chư thiên cõi Ba Mươi Ba, ... cho đến ... có các vị chư thiên cao hơn nữa. Các vị chư thiên ấy, do thành tựu với loại tín nào, sau khi mệnh chung từ nơi đây đã được sanh lên nơi ấy, loại tín tương tự như vậy cũng có ở nơi ta. Các vị chư thiên ấy, do thành tựu với loại giới nào, ... văn nào, ... thí nào, ... tuệ nào, sau khi mệnh chung từ nơi đây đã được sanh lên nơi ấy, loại tuệ tương tự như vậy cũng có ở nơi ta.’ Khi vị ấy tùy niệm về tín, giới, văn, thí, tuệ của chính mình và của các vị chư thiên ấy, tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, những tùy phiền não của tâm được đoạn trừ. Này Visākhā, vị Thánh đệ tử này được gọi là: ‘Vị ấy thực hành ngày Bố-tát về chư thiên, vị ấy sống chung với chư thiên, và do nương vào chư thiên tâm được tịnh tín, hân hoan sanh khởi, những tùy phiền não của tâm được đoạn trừ’. Này Visākhā, chính là như vậy, đối với tâm bị ô nhiễm, có sự thanh lọc bằng nỗ lực.”
Sa kho so, visākhe, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati: ‘yāvajīvaṁ arahanto pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭiviratā nihitadaṇḍā nihitasatthā lajjī dayāpannā sabbapāṇabhūtahitānukampī viharanti; ahampajja imañca rattiṁ imañca divasaṁ pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭivirato nihitadaṇḍo nihitasattho lajjī dayāpanno sabbapāṇabhūtahitānukampī viharāmi.
Then that noble disciple reflects: ‘As long as they live, the perfected ones give up killing living creatures, renouncing the rod and the sword. They are scrupulous and kind, and live full of sympathy for all living beings. I, too, for this day and night will give up killing living creatures, renouncing the rod and the sword. I’ll be scrupulous and kind, and live full of sympathy for all living beings.
Này Visākhā, vị Thánh đệ tử ấy suy xét như vầy: ‘Trọn đời, các bậc A-la-hán từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, đã đặt xuống gậy gộc, đã đặt xuống khí giới, có lòng tàm, có lòng bi mẫn, sống với lòng thương tưởng đến lợi ích cho tất cả chúng sanh hữu tình. Hôm nay, ta cũng trong đêm này và ngày này, từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, đặt xuống gậy gộc, đặt xuống khí giới, có lòng tàm, có lòng bi mẫn, sống với lòng thương tưởng đến lợi ích cho tất cả chúng sanh hữu tình. Với chi phần này, ta noi gương các bậc A-la-hán, và ngày Bố-tát của ta sẽ được thực hành.
Yāvajīvaṁ arahanto adinnādānaṁ pahāya adinnādānā paṭiviratā dinnādāyī dinnapāṭikaṅkhī, athenena sucibhūtena attanā viharanti; ahampajja imañca rattiṁ imañca divasaṁ adinnādānaṁ pahāya adinnādānā paṭivirato dinnādāyī dinnapāṭikaṅkhī, athenena sucibhūtena attanā viharāmi. Imināpi aṅgena arahataṁ anukaromi, uposatho ca me upavuttho bhavissati.
As long as they live, the perfected ones give up stealing. They take only what’s given, and expect only what’s given. They keep themselves clean by not thieving. I, too, for this day and night will give up stealing. I’ll take only what’s given, and expect only what’s given. I’ll keep myself clean by not thieving. I will observe the sabbath by doing as the perfected ones do in this respect.
‘Trọn đời, các bậc A-la-hán từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, chỉ nhận vật đã cho, chỉ mong đợi vật đã cho, sống với tự thân trong sạch, không trộm cắp. Hôm nay, ta cũng trong đêm này và ngày này, từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, chỉ nhận vật đã cho, chỉ mong đợi vật đã cho, sống với tự thân trong sạch, không trộm cắp. Với chi phần này, ta noi gương các bậc A-la-hán, và ngày Bố-tát của ta sẽ được thực hành.
Yāvajīvaṁ arahanto abrahmacariyaṁ pahāya brahmacārī ārācārī viratā methunā gāmadhammā; ahampajja imañca rattiṁ imañca divasaṁ abrahmacariyaṁ pahāya brahmacārī ārācārī virato methunā gāmadhammā. Imināpi aṅgena arahataṁ anukaromi, uposatho ca me upavuttho bhavissati.
As long as they live, the perfected ones give up unchastity. They are chaste, set apart, refraining from the vulgar act of sex. I, too, for this day and night will give up unchastity. I will be chaste, set apart, refraining from the vulgar act of sex. I will observe the sabbath by doing as the perfected ones do in this respect.
‘Trọn đời, các bậc A-la-hán từ bỏ hành vi không phạm hạnh, sống phạm hạnh, sống xa lìa, tránh xa sự dâm dục là pháp của dân làng. Hôm nay, ta cũng trong đêm này và ngày này, từ bỏ hành vi không phạm hạnh, sống phạm hạnh, sống xa lìa, tránh xa sự dâm dục là pháp của dân làng. Với chi phần này, ta noi gương các bậc A-la-hán, và ngày Bố-tát của ta sẽ được thực hành.
Yāvajīvaṁ arahanto musāvādaṁ pahāya musāvādā paṭiviratā saccavādī saccasandhā thetā paccayikā avisaṁvādakā lokassa; ahampajja imañca rattiṁ imañca divasaṁ musāvādaṁ pahāya musāvādā paṭivirato saccavādī saccasandho theto paccayiko avisaṁvādako lokassa. Imināpi aṅgena arahataṁ anukaromi, uposatho ca me upavuttho bhavissati.
As long as they live, the perfected ones give up lying. They speak the truth and stick to the truth. They’re honest and dependable, and don’t trick the world with their words. I, too, for this day and night will give up lying. I’ll speak the truth and stick to the truth. I’ll be honest and dependable, and won’t trick the world with my words. I will observe the sabbath by doing as the perfected ones do in this respect.
‘Trọn đời, các bậc A-la-hán từ bỏ nói dối, tránh xa nói dối, nói lời chân thật, kết hợp lời chân thật, có lời nói chắc chắn, có lời nói đáng tin cậy, không lừa dối thế gian. Hôm nay, ta cũng trong đêm này và ngày này, từ bỏ nói dối, tránh xa nói dối, nói lời chân thật, kết hợp lời chân thật, có lời nói chắc chắn, có lời nói đáng tin cậy, không lừa dối thế gian. Với chi phần này, ta noi gương các bậc A-la-hán, và ngày Bố-tát của ta sẽ được thực hành.
Yāvajīvaṁ arahanto surāmerayamajjapamādaṭṭhānaṁ pahāya surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭiviratā; ahampajja imañca rattiṁ imañca divasaṁ surāmerayamajjapamādaṭṭhānaṁ pahāya surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭivirato. Imināpi aṅgena arahataṁ anukaromi, uposatho ca me upavuttho bhavissati.
As long as they live, the perfected ones give up intoxicants of beer, wine, and liquor. I, too, for this day and night will give up intoxicants of beer, wine, and liquor. I will observe the sabbath by doing as the perfected ones do in this respect.
‘Trọn đời, các bậc A-la-hán từ bỏ việc uống rượu men, rượu nấu là cơ sở của sự dể duôi, tránh xa việc uống rượu men, rượu nấu là cơ sở của sự dể duôi. Hôm nay, ta cũng trong đêm này và ngày này, từ bỏ việc uống rượu men, rượu nấu là cơ sở của sự dể duôi, tránh xa việc uống rượu men, rượu nấu là cơ sở của sự dể duôi. Với chi phần này, ta noi gương các bậc A-la-hán, và ngày Bố-tát của ta sẽ được thực hành.
Yāvajīvaṁ arahanto ekabhattikā rattūparatā viratā vikālabhojanā; ahampajja imañca rattiṁ imañca divasaṁ ekabhattiko rattūparato virato vikālabhojanā. Imināpi aṅgena arahataṁ anukaromi, uposatho ca me upavuttho bhavissati.
As long as they live, the perfected ones eat in one part of the day, abstaining from eating at night and from food at the wrong time. I, too, for this day and night will eat in one part of the day, abstaining from eating at night and food at the wrong time. I will observe the sabbath by doing as the perfected ones do in this respect.
‘Trọn đời, các bậc A-la-hán ăn một bữa, từ bỏ ăn ban đêm, tránh xa ăn phi thời. Hôm nay, ta cũng trong đêm này và ngày này, ăn một bữa, từ bỏ ăn ban đêm, tránh xa ăn phi thời. Với chi phần này, ta noi gương các bậc A-la-hán, và ngày Bố-tát của ta sẽ được thực hành.
Yāvajīvaṁ arahanto naccagītavāditavisūkadassanamālāgandhavilepanadhāraṇamaṇḍanavibhūsanaṭṭhānā paṭiviratā; ahampajja imañca rattiṁ imañca divasaṁ naccagītavāditavisūkadassanamālāgandhavilepanadhāraṇamaṇḍanavibhūsanaṭṭhānā paṭivirato. Imināpi aṅgena arahataṁ anukaromi, uposatho ca me upavuttho bhavissati.
As long as they live, the perfected ones refrain from seeing shows of dancing, singing, and music; and attiring and adorning themselves with garlands, fragrance, and makeup. I, too, for this day and night will refrain from seeing shows of dancing, singing, and music; and attiring and adorning myself with garlands, fragrance, and makeup. I will observe the sabbath by doing as the perfected ones do in this respect.
‘Trọn đời, các bậc A-la-hán tránh xa việc múa, hát, chơi nhạc, xem các buổi trình diễn là trở ngại, việc trang điểm, tô điểm bằng cách đeo vòng hoa, thoa hương liệu và dầu thơm. Hôm nay, ta cũng trong đêm này và ngày này, tránh xa việc múa, hát, chơi nhạc, xem các buổi trình diễn là trở ngại, việc trang điểm, tô điểm bằng cách đeo vòng hoa, thoa hương liệu và dầu thơm. Với chi phần này, ta noi gương các bậc A-la-hán, và ngày Bố-tát của ta sẽ được thực hành.
Yāvajīvaṁ arahanto uccāsayanamahāsayanaṁ pahāya uccāsayanamahāsayanā paṭiviratā nīcaseyyaṁ kappenti mañcake vā tiṇasanthārake vā; ahampajja imañca rattiṁ imañca divasaṁ uccāsayanamahāsayanaṁ pahāya uccāsayanamahāsayanā paṭivirato nīcaseyyaṁ kappemi mañcake vā tiṇasanthārake vā. Imināpi aṅgena arahataṁ anukaromi, uposatho ca me upavuttho bhavissatī’ti.
As long as they live, the perfected ones give up high and luxurious beds. They sleep in a low place, either a cot or a grass mat. I, too, for this day and night will give up high and luxurious beds. I’ll sleep in a low place, either a cot or a grass mat. I will observe the sabbath by doing as the perfected ones do in this respect.’
‘Trọn đời, các bậc A-la-hán từ bỏ giường cao, giường lớn, tránh xa giường cao, giường lớn, họ nằm ở chỗ thấp, hoặc trên giường nhỏ hoặc trên thảm cỏ. Hôm nay, ta cũng trong đêm này và ngày này, từ bỏ giường cao, giường lớn, tránh xa giường cao, giường lớn, ta nằm ở chỗ thấp, hoặc trên giường nhỏ hoặc trên thảm cỏ. Với chi phần này, ta noi gương các bậc A-la-hán, và ngày Bố-tát của ta sẽ được thực hành.’
Evaṁ kho, visākhe, ariyuposatho hoti. Evaṁ upavuttho kho, visākhe, ariyuposatho mahapphalo hoti mahānisaṁso mahājutiko mahāvipphāro.
That’s the sabbath of the noble ones. When the sabbath of the noble ones is observed like this it’s very fruitful and beneficial and dazzling and bountiful.
Này Visākhā, ngày Bố-tát của bậc Thánh là như vậy. Này Visākhā, ngày Bố-tát của bậc Thánh được thực hành như vậy có quả lớn, có lợi ích lớn, có ánh sáng lớn, có sự lan tỏa lớn.
Kīvamahapphalo hoti kīvamahānisaṁso kīvamahājutiko kīvamahāvipphāro? Seyyathāpi, visākhe, yo imesaṁ soḷasannaṁ mahājanapadānaṁ pahūtarattaratanānaṁ issariyādhipaccaṁ rajjaṁ kāreyya, seyyathidaṁ—aṅgānaṁ, magadhānaṁ, kāsīnaṁ, kosalānaṁ, vajjīnaṁ, mallānaṁ, cetīnaṁ, vaṅgānaṁ, kurūnaṁ, pañcālānaṁ, macchānaṁ, sūrasenānaṁ, assakānaṁ, avantīnaṁ, gandhārānaṁ, kambojānaṁ, aṭṭhaṅgasamannāgatassa uposathassa etaṁ kalaṁ nāgghati soḷasiṁ. Taṁ kissa hetu? Kapaṇaṁ, visākhe, mānusakaṁ rajjaṁ dibbaṁ sukhaṁ upanidhāya.
How much so? Suppose you were to rule as sovereign lord over these sixteen great countries—Aṅga, Magadha, Kāsi, Kosala, Vajji, Malla, Cetī, Vaccha, Kuru, Pañcāla, Maccha, Sūrasena, Assaka, Avanti, Gandhāra, and Kamboja—full of the seven treasures. This wouldn’t be worth a sixteenth part of the sabbath with its eight factors. Why is that? Because human kingship is a poor thing compared to the happiness of the gods.
Quả lớn như thế nào, lợi ích lớn như thế nào, ánh sáng lớn như thế nào, sự lan tỏa lớn như thế nào? Này Visākhā, ví như người nào thực hiện vương quyền tối thượng trên mười sáu đại quốc này, đầy dẫy châu báu quý giá, tức là: Aṅga, Magadha, Kāsī, Kosala, Vajjī, Mallā, Ceti, Vaṅga, Kuru, Pañcāla, Maccha, Sūrasena, Assaka, Avantī, Gandhāra, Kamboja, (vương quyền ấy) không bằng một phần mười sáu của ngày Bố-tát gồm tám chi phần. Vì cớ sao? Này Visākhā, vương quyền của loài người là nhỏ nhoi khi so với hạnh phúc cõi trời.
Yāni, visākhe, mānusakāni paññāsa vassāni, cātumahārājikānaṁ devānaṁ eso eko rattindivo. Tāya rattiyā tiṁsarattiyo māso. Tena māsena dvādasamāsiyo saṁvaccharo. Tena saṁvaccharena dibbāni pañca vassasatāni cātumahārājikānaṁ devānaṁ āyuppamāṇaṁ. Ṭhānaṁ kho panetaṁ, visākhe, vijjati yaṁ idhekacco itthī vā puriso vā aṭṭhaṅgasamannāgataṁ uposathaṁ upavasitvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā cātumahārājikānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjeyya. Idaṁ kho panetaṁ, visākhe, sandhāya bhāsitaṁ: ‘kapaṇaṁ mānusakaṁ rajjaṁ dibbaṁ sukhaṁ upanidhāya’.
Fifty years in the human realm is one day and night for the gods of the four great kings. Thirty such days make up a month. Twelve such months make up a year. The lifespan of the gods of the four great kings is five hundred of these heavenly years. It’s possible that some woman or man who has observed the eight-factored sabbath will—when their body breaks up, after death—be reborn in the company of the gods of the four great kings. This is what I was referring to when I said: ‘Human kingship is a poor thing compared to the happiness of the gods.’
Này Visākhā, năm mươi năm của loài người là một ngày một đêm của chư thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương. Ba mươi ngày đêm như vậy là một tháng. Mười hai tháng như vậy là một năm. Năm trăm năm trời như vậy là tuổi thọ của chư thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương. Này Visākhā, có trường hợp này: khi một người nữ hay người nam nào đó ở đây, sau khi đã thực hành ngày Bố-tát gồm tám chi phần, sau khi thân hoại mạng chung, có thể sanh làm bạn đồng hành với chư thiên ở cõi Tứ Đại Thiên Vương. Này Visākhā, chính vì nhắm đến điều này mà đã được nói rằng: ‘vương quyền của loài người là nhỏ nhoi khi so với hạnh phúc cõi trời’.
Yaṁ, visākhe, mānusakaṁ vassasataṁ, tāvatiṁsānaṁ devānaṁ eso eko rattindivo. Tāya rattiyā tiṁsarattiyo māso. Tena māsena dvādasamāsiyo saṁvaccharo. Tena saṁvaccharena dibbaṁ vassasahassaṁ tāvatiṁsānaṁ devānaṁ āyuppamāṇaṁ. Ṭhānaṁ kho panetaṁ, visākhe, vijjati yaṁ idhekacco itthī vā puriso vā aṭṭhaṅgasamannāgataṁ uposathaṁ upavasitvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā tāvatiṁsānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjeyya. Idaṁ kho panetaṁ, visākhe, sandhāya bhāsitaṁ: ‘kapaṇaṁ mānusakaṁ rajjaṁ dibbaṁ sukhaṁ upanidhāya’.
A hundred years in the human realm is one day and night for the gods of the thirty-three. Thirty such days make up a month. Twelve such months make up a year. The lifespan of the gods of the thirty-three is a thousand of these heavenly years. It’s possible that some woman or man who has observed the eight-factored sabbath will—when their body breaks up, after death—be reborn in the company of the gods of the thirty-three. This is what I was referring to when I said: ‘Human kingship is a poor thing compared to the happiness of the gods.’
Này Visākhā, một trăm năm của loài người là một ngày đêm của chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba. Ba mươi ngày đêm như vậy là một tháng. Mười hai tháng như vậy là một năm. Một ngàn năm trời như vậy là tuổi thọ của chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba. Này Visākhā, có trường hợp này, ở đây có người nữ hay người nam sau khi đã thọ trì Bát quan trai giới, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh làm bạn đồng hành với chư thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba. Này Visākhā, chính vì nhân duyên này mà Ta đã nói rằng: ‘Vương quyền của loài người thật là khốn cùng khi so sánh với hạnh phúc của chư thiên.’”
Yāni, visākhe, mānusakāni dve vassasatāni, yāmānaṁ devānaṁ eso eko rattindivo. Tāya rattiyā tiṁsarattiyo māso. Tena māsena dvādasamāsiyo saṁvaccharo. Tena saṁvaccharena dibbāni dve vassasahassāni yāmānaṁ devānaṁ āyuppamāṇaṁ. Ṭhānaṁ kho panetaṁ, visākhe, vijjati yaṁ idhekacco itthī vā puriso vā aṭṭhaṅgasamannāgataṁ uposathaṁ upavasitvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā yāmānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjeyya. Idaṁ kho panetaṁ, visākhe, sandhāya bhāsitaṁ: ‘kapaṇaṁ mānusakaṁ rajjaṁ dibbaṁ sukhaṁ upanidhāya’.
Two hundred years in the human realm is one day and night for the gods of Yama. Thirty such days make up a month. Twelve such months make up a year. The lifespan of the gods of Yama is two thousand of these heavenly years. It’s possible that some woman or man who has observed the eight-factored sabbath will—when their body breaks up, after death—be reborn in the company of the gods of Yama. This is what I was referring to when I said: ‘Human kingship is a poor thing compared to the happiness of the gods.’
Này Visākhā, hai trăm năm của loài người là một ngày đêm của chư thiên ở cõi trời Dạ Ma. Ba mươi ngày đêm như vậy là một tháng. Mười hai tháng như vậy là một năm. Hai ngàn năm trời như vậy là tuổi thọ của chư thiên ở cõi trời Dạ Ma. Này Visākhā, có trường hợp này, ở đây có người nữ hay người nam sau khi đã thọ trì Bát quan trai giới, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh làm bạn đồng hành với chư thiên ở cõi trời Dạ Ma. Này Visākhā, chính vì nhân duyên này mà Ta đã nói rằng: ‘Vương quyền của loài người thật là khốn cùng khi so sánh với hạnh phúc của chư thiên.’”
Yāni, visākhe, mānusakāni cattāri vassasatāni, tusitānaṁ devānaṁ eso eko rattindivo. Tāya rattiyā tiṁsarattiyo māso. Tena māsena dvādasamāsiyo saṁvaccharo. Tena saṁvaccharena dibbāni cattāri vassasahassāni tusitānaṁ devānaṁ āyuppamāṇaṁ. Ṭhānaṁ kho panetaṁ, visākhe, vijjati yaṁ idhekacco itthī vā puriso vā aṭṭhaṅgasamannāgataṁ uposathaṁ upavasitvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā tusitānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjeyya. Idaṁ kho panetaṁ, visākhe, sandhāya bhāsitaṁ: ‘kapaṇaṁ mānusakaṁ rajjaṁ dibbaṁ sukhaṁ upanidhāya’.
Four hundred years in the human realm is one day and night for the joyful gods. Thirty such days make up a month. Twelve such months make up a year. The lifespan of the joyful gods is four thousand of these heavenly years. It’s possible that some woman or man who has observed the eight-factored sabbath will—when their body breaks up, after death—be reborn in the company of the joyful gods. This is what I was referring to when I said: ‘Human kingship is a poor thing compared to the happiness of the gods.’
Này Visākhā, bốn trăm năm của loài người là một ngày đêm của chư thiên ở cõi trời Đâu Suất. Ba mươi ngày đêm như vậy là một tháng. Mười hai tháng như vậy là một năm. Bốn ngàn năm trời như vậy là tuổi thọ của chư thiên ở cõi trời Đâu Suất. Này Visākhā, có trường hợp này, ở đây có người nữ hay người nam sau khi đã thọ trì Bát quan trai giới, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh làm bạn đồng hành với chư thiên ở cõi trời Đâu Suất. Này Visākhā, chính vì nhân duyên này mà Ta đã nói rằng: ‘Vương quyền của loài người thật là khốn cùng khi so sánh với hạnh phúc của chư thiên.’”
Yāni, visākhe, mānusakāni aṭṭha vassasatāni, nimmānaratīnaṁ devānaṁ eso eko rattindivo. Tāya rattiyā tiṁsarattiyo māso. Tena māsena dvādasamāsiyo saṁvaccharo. Tena saṁvaccharena dibbāni aṭṭha vassasahassāni nimmānaratīnaṁ devānaṁ āyuppamāṇaṁ. Ṭhānaṁ kho panetaṁ, visākhe, vijjati yaṁ idhekacco itthī vā puriso vā aṭṭhaṅgasamannāgataṁ uposathaṁ upavasitvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā nimmānaratīnaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjeyya. Idaṁ kho panetaṁ, visākhe, sandhāya bhāsitaṁ: ‘kapaṇaṁ mānusakaṁ rajjaṁ dibbaṁ sukhaṁ upanidhāya’.
Eight hundred years in the human realm is one day and night for the gods who love to create. Thirty such days make up a month. Twelve such months make up a year. The lifespan of the gods who love to create is eight thousand of these heavenly years. It’s possible that some woman or man who has observed the eight-factored sabbath will—when their body breaks up, after death—be reborn in the company of the gods who love to create. This is what I was referring to when I said: ‘Human kingship is a poor thing compared to the happiness of the gods.’
Này Visākhā, tám trăm năm của loài người là một ngày đêm của chư thiên ở cõi trời Hóa Lạc. Ba mươi ngày đêm như vậy là một tháng. Mười hai tháng như vậy là một năm. Tám ngàn năm trời như vậy là tuổi thọ của chư thiên ở cõi trời Hóa Lạc. Này Visākhā, có trường hợp này, ở đây có người nữ hay người nam sau khi đã thọ trì Bát quan trai giới, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh làm bạn đồng hành với chư thiên ở cõi trời Hóa Lạc. Này Visākhā, chính vì nhân duyên này mà Ta đã nói rằng: ‘Vương quyền của loài người thật là khốn cùng khi so sánh với hạnh phúc của chư thiên.’”
Yāni, visākhe, mānusakāni soḷasa vassasatāni, paranimmitavasavattīnaṁ devānaṁ eso eko rattindivo. Tāya rattiyā tiṁsarattiyo māso. Tena māsena dvādasamāsiyo saṁvaccharo. Tena saṁvaccharena dibbāni soḷasa vassasahassāni paranimmitavasavattīnaṁ devānaṁ āyuppamāṇaṁ. Ṭhānaṁ kho panetaṁ, visākhe, vijjati yaṁ idhekacco itthī vā puriso vā aṭṭhaṅgasamannāgataṁ uposathaṁ upavasitvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā paranimmitavasavattīnaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjeyya. Idaṁ kho panetaṁ, visākhe, sandhāya bhāsitaṁ: ‘kapaṇaṁ mānusakaṁ rajjaṁ dibbaṁ sukhaṁ upanidhāyā’ti.
Sixteen hundred years in the human realm is one day and night for the gods who control what is created by others. Thirty such days make up a month. Twelve such months make up a year. The lifespan of the gods who control what is created by others is sixteen thousand of these heavenly years. It’s possible that some woman or man who has observed the eight-factored sabbath will—when their body breaks up, after death—be reborn in the company of the gods who control what is created by others. This is what I was referring to when I said: ‘Human kingship is a poor thing compared to the happiness of the gods.’
Này Visākhā, một ngàn sáu trăm năm của loài người là một ngày đêm của chư thiên ở cõi trời Tha Hóa Tự Tại. Ba mươi ngày đêm như vậy là một tháng. Mười hai tháng như vậy là một năm. Mười sáu ngàn năm trời như vậy là tuổi thọ của chư thiên ở cõi trời Tha Hóa Tự Tại. Này Visākhā, có trường hợp này, ở đây có người nữ hay người nam sau khi đã thọ trì Bát quan trai giới, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh làm bạn đồng hành với chư thiên ở cõi trời Tha Hóa Tự Tại. Này Visākhā, chính vì nhân duyên này mà Ta đã nói rằng: ‘Vương quyền của loài người thật là khốn cùng khi so sánh với hạnh phúc của chư thiên.’”
Pāṇaṁ na haññe na cadinnamādiye, Musā na bhāse na ca majjapo siyā; Abrahmacariyā virameyya methunā, Rattiṁ na bhuñjeyya vikālabhojanaṁ.
You shouldn’t kill living creatures, or steal, or lie, or drink liquor. Be chaste, refraining from sex, and don’t eat at night, the wrong time.
Không nên sát sanh, không nên trộm cắp, không nên nói dối, không nên uống rượu; nên từ bỏ việc không phạm hạnh, tức là hành dâm; không nên ăn vào ban đêm, không nên ăn phi thời.
Mālaṁ na dhāre na ca gandhamācare, Mañce chamāyaṁ va sayetha santhate; Etañhi aṭṭhaṅgikamāhuposathaṁ, Buddhena dukkhantagunā pakāsitaṁ.
Not wearing garlands or applying fragrance, you should sleep on a low bed, <j>or a mat on the ground. This is the eight-factored sabbath, they say, revealed by the Buddha, <j>who has gone to suffering’s end.
Không nên đeo tràng hoa, không nên dùng hương liệu; nên nằm trên giường thấp hoặc trên đất, trên tấm trải. Đây được gọi là Bát quan trai giới, đã được đức Phật, bậc đã đạt đến sự chấm dứt khổ đau, tuyên thuyết.
Cando ca suriyo ca ubho sudassanā, Obhāsayaṁ anupariyanti yāvatā; Tamonudā te pana antalikkhagā, Nabhe pabhāsanti disāvirocanā.
The moon and sun are both fair to see, radiating as far as they revolve. Those dispellers of darkness, travelers in midair, shine in the firmament, lighting up the quarters.
Cả mặt trăng và mặt trời, cả hai đều đẹp đẽ, xoay vần chiếu sáng khắp nơi. Chúng xua tan bóng tối, di chuyển trong không trung, tỏa sáng trên bầu trời, làm rực rỡ các phương.
Etasmiṁ yaṁ vijjati antare dhanaṁ, Muttā maṇi veḷuriyañca bhaddakaṁ; Siṅgī suvaṇṇaṁ atha vāpi kañcanaṁ, Yaṁ jātarūpaṁ haṭakanti vuccati.
All of the wealth that’s found in this realm—pearls, gems, fine beryl too, mountain gold or lustrous gold, or the native gold called ‘coruscant’—
Bất cứ tài sản nào có ở trong khoảng không gian này: ngọc trai, ngọc báu, và ngọc lưu ly tốt đẹp; vàng Siṅgī, hoặc vàng Kañcana, loại vàng ròng được gọi là Hāṭaka.
Aṭṭhaṅgupetassa uposathassa, Kalampi te nānubhavanti soḷasiṁ; Candappabhā tāragaṇā ca sabbe.
Tasmā hi nārī ca naro ca sīlavā, Aṭṭhaṅgupetaṁ upavassuposathaṁ; Puññāni katvāna sukhudrayāni, Aninditā saggamupenti ṭhānan”ti.
Dasamaṁ.
they’re not worth a sixteenth part of the sabbath with its eight factors, as starlight cannot rival the moon.
So an ethical woman or man, who has observed the eight-factored sabbath, having made merit whose outcome is happiness, blameless, they go to a heavenly place.”
Tất cả những thứ ấy cũng không bằng một phần mười sáu của ngày trai giới gồm tám chi phần, cũng như tất cả các vì sao không bằng ánh sáng của mặt trăng. Do đó, người nữ hay người nam có giới đức, sau khi đã thọ trì ngày trai giới gồm tám chi phần, làm các phước nghiệp có kết quả an lạc, không bị chê trách, sẽ đi đến cảnh giới chư thiên. Hết phẩm thứ mười.
Mahāvaggo sattamo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Lớn, thứ bảy.
Titthabhayañca venāgo, sarabho kesamuttiyā; Sāḷho cāpi kathāvatthu, titthiyamūluposathoti.
Tittha, Bhaya, và Venāga, Sarabha, Kesamuttiya; Sāḷha, và cả Kathāvatthu, Titthiya, Mūla, và Uposatha.