- Aṅguttara Nikāya 3.69
- 7. Mahāvagga
Bản dịch
AN 3.69 — Các Căn Bản Bất Thiện
Akusalamūlasutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có ba căn bản bất thiện này. Thế nào là ba? Tham là căn bản bất thiện, sân là căn bản bất thiện, si là căn bản bất thiện.
Cái gì là tham, này các Tỷ-kheo, cái ấy bất thiện. Ai với lòng tham có làm gì về thân, về lời, về ý, cái ấy bất thiện. Với ai có lòng tham, bị lòng tham chinh phục, tâm không được tự chủ, vu cáo làm người khác đau khổ, bằng cách sát hại, trói buộc, tịch thu tài sản, mắng nhiếc hay tẩn xuất, dựa trên: “Ta là sức mạnh, ta có sức mạnh.” Cái ấy là bất thiện. Như vậy, rất nhiều ác bất thiện pháp này sanh từ tham, duyên khởi từ tham, tập khởi từ tham, khởi lên nơi người ấy.
TTC 2—Cái gì là sân, này các Tỷ-kheo, cái ấy bất thiện. Ai với lòng sân có làm gì về thân, về lời, về ý, cái ấy bất thiện. Với ai có lòng sân, bị lòng sân chinh phục, tâm không được tự chủ, vu cáo làm người khác đau khổ, bằng cách sát hại, trói buộc, tịch thu tài sản, mắng nhiếc hay tẩn xuất, dựa trên: “Ta là sức mạnh, ta có sức mạnh.” Cái ấy là bất thiện. Như vậy, rất nhiều ác bất thiện pháp này sanh từ sân, duyên khởi từ sân, tập khởi từ sân, khởi lên nơi người ấy.
TTC 3—Cái gì là si, này các Tỷ-kheo, cái ấy bất thiện. Ai với lòng si có làm gì về thân, về lời, về ý, cái ấy bất thiện. Với ai có lòng si, bị lòng si chinh phục, tâm không được tự chủ, vu cáo làm người khác đau khổ, bằng cách sát hại, trói buộc, tịch thu tài sản, mắng nhiếc hay tẩn xuất, dựa trên: “Ta là sức mạnh, ta có sức mạnh.” Cái ấy là bất thiện. Như vậy, rất nhiều ác bất thiện pháp này sanh từ si, duyên khởi từ si, tập khởi từ si, khởi lên nơi người ấy.
TTC 4—Như vậy, này các Tỷ-kheo, người này được gọi là người nói phi thời, nói không thực, nói không trúng đích, nói phi pháp, nói phi luật. Vì sao người như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là người nói phi thời, nói không thực, nói không trúng đích, nói phi pháp, nói phi luật? Như vầy là vì người này, này các Tỷ-kheo, đã vu cáo làm người khác đau khổ, bằng cách sát hại, trói buộc, tịch thu tài sản, mắng nhiếc hay tẩn xuất, dựa trên: “Ta là sức mạnh, ta có sức mạnh.” Khi được đối chất với sự thật, người ấy phủ nhận, không có chấp nhận; khi được đối chất với sự không thật, người ấy không có nhiệt tình thoát mở ra ngoài, nói rằng: “Ðây là không chân, đây là không thực”. Cho nên, người như vậy được gọi là người nói phi thời, nói không thực, nói không trúng đích, nói phi pháp, nói phi luật. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, bị các ác bất thiện pháp do tham sanh nhiếp phục, tâm mất tự chủ, ngay trong hiện tại sống đau khổ với sự tổn não, với sự ưu não, với sự nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, được chờ đợi là ác thú. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, bị các ác bất thiện pháp do sân sanh nhiếp phục, tâm mất sự tự chủ, ngay trong hiện tại sống đau khổ với sự tổn não, với sự ưu não, với sự nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, được chờ đợi là ác thú. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, bị các ác bất thiện pháp do si sanh nhiếp phục, tâm mất tự chủ, ngay trong hiện tại sống đau khổ với sự tổn não, với sự ưu não, với sự nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, được chờ đợi là ác thú.
TTC 5—Ví như này các Tỷ-kheo, cây sàla hay cây dhava hay cây phandana bị phá hoại, bị bao trùm bởi ba loại tầm gởi, đi đến tổn hại, đi đến bất hạnh, đi đến tổn hại, và bất hạnh. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, người như vậy, bị các ác bất thiện pháp do tham sanh chinh phục, tâm mất tự chủ, ngay trong hiện tại sống đau khổ với sự tổn não, với sự ưu não, với sự nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, được chờ đợi là ác thú … bị các ác bất thiện pháp do sân sanh … bị các ác bất thiện pháp do si sanh chinh phục, tâm mất tự chủ, ngay trong hiện tại sống đau khổ với sự tổn não, với sự ưu não, với sự nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, được chờ đợi là ác thú.
Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là ba căn bản bất thiện.
TTC 6—Có ba căn bản của thiện, này các Tỷ-kheo. Thế nào là ba? Không tham là căn bản của thiện, không sân là căn bản của thiện, không si là căn bản của thiện.
Cái gì là không tham, này các Tỷ-kheo, cái ấy thiện. Ai với lòng không tham có làm gì về thân, về lời, về ý, cái ấy thiện. Ai không có lòng tham, không bị lòng tham chinh phục, tâm được tự chủ, không vu cáo làm người khác đau khổ, bằng cách sát hại, trói buộc, tịch thu tài sản, mắng nhiếc hay tẩn xuất, dựa trên: “Ta là sức mạnh, ta có sức mạnh.” Cái ấy là thiện. Như vậy, rất nhiều thiện pháp này sanh từ không tham, duyên khởi từ không tham, tập khởi từ không tham, khởi lên nơi người ấy.
TTC 7—Cái gì là không sân, này các Tỷ-kheo, cái ấy thiện. Ai với lòng không sân có làm gì về thân, về lời, về ý, cái ấy thiện. Với ai không có lòng sân, không bị lòng sân chinh phục, tâm được tự chủ, không vu cáo làm người khác đau khổ, bằng cách sát hại, trói buộc, tịch thu tài sản, mắng nhiếc hay tẩn xuất, dựa trên: “Ta là sức mạnh, ta có sức mạnh.” Cái ấy là thiện. Như vậy, rất nhiều thiện pháp này sanh từ không sân, duyên khởi từ không sân, tập khởi từ không sân, khởi lên nơi người ấy.
TTC 8—Cái gì là không si, này các Tỷ-kheo, cái ấy là thiện. Ai với lòng không si có làm gì về thân, về lời, về ý, cái ấy thiện. Với ai không có lòng si, không bị lòng si chinh phục, tâm được tự chủ, không vu cáo làm người khác đau khổ, bằng cách sát hại, trói buộc, tịch thu tài sản, mắng nhiếc hay tẩn xuất, dựa trên: “Ta là sức mạnh, ta có sức mạnh.” Cái ấy là thiện. Như vậy, rất nhiều thiện pháp này sanh ra từ không si, duyên khởi từ không si, tập khởi từ không si, khởi lên nơi người ấy.
TTC 9—Như vậy, này các Tỷ-kheo, người này được gọi là người nói đúng thời, nói thực, nói trúng đích, nói đúng pháp, nói đúng luật. Vì sao người như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là người nói đúng thời, nói thực, nói trúng đích, nói đúng pháp, nói đúng luật? Như vầy là vì người này, này các Tỷ-kheo, đã không vu cáo làm người khác đau khổ, bằng cách sát hại, trói buộc, tịch thu tài sản, mắng nhiếc hay tẩn xuất, dựa trên: “Ta là sức mạnh, ta có sức mạnh.” Khi được đối chất với sự thật, người ấy chấp nhận, không có phủ nhận; khi được đối chất với sự không thật, người ấy nhiệt tình thoát mở ra ngoài, nói rằng: “Ðây là chân, đây là thực”. Cho nên, người như vậy được gọi là người nói đúng thời, nói thực, nói trúng đích, nói đúng pháp, nói đúng luật.
TTC 10—Người như vậy, này các Tỷ-kheo, đoạn tận các ác bất thiện do tham sanh, cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây tala, làm cho không hiện hữu, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai, ngay trong hiện tại sống an lạc, không có tổn não, không có ưu não, không có nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, ngay trong hiện tại được Bát-niết-bàn. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, không bị các ác bất thiện pháp do sân sanh nhiếp phục, tâm không mất tự chủ … Người như vậy, này các Tỷ-kheo, không bị các ác bất thiện pháp do si sanh nhiếp phục, tâm không mất tự chủ, ngay trong hiện tại sống an lạc, không có tổn não, không có ưu não, sau khi thân hoại mạng chung, ngay trong hiện tại được Bát-niết-bàn.
TTC 11—Ví như, này các Tỷ-kheo, cây sàla hay cây dhava, cây phandana, bị ba cây tầm gởi phá hoại bao trùm. Rồi có người đi đến, cầm cuốc và thúng. Người ấy chặt đứt rễ cây tầm gởi ấy, sau khi chặt đứt rễ, người ấy đào mương. Ðào mương xong, người ấy nhổ các rễ lên, nhổ cho đến các rễ nhỏ, rễ usira. Rồi người ấy chặt cây tầm gởi thành từng khúc nhỏ, bửa và chẻ thành từng mảnh nhỏ, người ấy đem phơi giữa gió và mặt trời. Sau khi phơi giữa gió và mặt trời, người ấy lấy lửa đốt, làm thành một đống tro, và quạt chúng ra giữa gió lớn, hay đổ chúng xuống dòng nước chảy nhanh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các cây tầm gởi ấy, bị cắt đứt gốc từ rễ, bị làm cho như thân cây tala, làm cho không hiện hữu, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với người như vậy, các ác bất thiện pháp do tham sanh đã được đoạn tận, được chặt từ gốc rễ, được làm cho như thân cây tala, được làm cho không thể hiện hữu, được làm cho không sanh khởi trong tương lai, ngay trong hiện tại được sống an lạc, không có tổn não, không có ưu não, không có nhiệt não, ngay trong hiện tại được Bát-niết-bàn … do sân, sanh … các ác bất thiện pháp do si sanh đã được đoạn tận, được chặt từ gốc rễ, được làm cho như thân cây tala, được làm cho không thể hiện hữu, được làm cho không sanh khởi trong tương lai, ngay trong hiện tại được sống an lạc, không có tổn não, không có ưu não, không có nhiệt não, ngay trong hiện tại được Bát-niết-bàn.
Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là ba căn bản của thiện.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 3.69
- 7. The Great Chapter
Unskillful Roots
9. Kinh Về Căn Bản Bất Thiện
“Tīṇimāni, bhikkhave, akusalamūlāni. Katamāni tīṇi? Lobho akusalamūlaṁ, doso akusalamūlaṁ, moho akusalamūlaṁ.
“Mendicants, there are these three unskillful roots. What three? Greed, hate, and delusion.
70. Này các Tỳ khưu, có ba căn bản bất thiện này. Thế nào là ba? Tham là căn bản bất thiện, sân là căn bản bất thiện, si là căn bản bất thiện.
Yadapi, bhikkhave, lobho tadapi akusalamūlaṁ; yadapi luddho abhisaṅkharoti kāyena vācāya manasā tadapi akusalaṁ; yadapi luddho lobhena abhibhūto pariyādinnacitto parassa asatā dukkhaṁ uppādayati vadhena vā bandhanena vā jāniyā vā garahāya vā pabbājanāya vā balavamhi balattho itipi tadapi akusalaṁ. Itissame lobhajā lobhanidānā lobhasamudayā lobhapaccayā aneke pāpakā akusalā dhammā sambhavanti.
Greed is a root of the unskillful. When a greedy person chooses to act by way of body, speech, or mind, that too is unskillful. When a greedy person, overcome by greed, causes another to suffer under a false pretext—by execution or imprisonment or confiscation or condemnation or banishment—thinking ‘I’m powerful, I want power’, that too is unskillful. And so these many bad, unskillful things are produced in them, born, sourced, originated, and conditioned by greed.
Này các Tỳ khưu, cái gì là tham, cái ấy là căn bản bất thiện. Bất cứ điều gì người có tham tạo tác qua thân, khẩu, ý, cái ấy cũng là bất thiện. Bất cứ khi nào người có tham, bị tham chi phối, tâm bị xâm chiếm, gây đau khổ cho người khác một cách vô cớ, bằng cách giết, trói, làm cho thiệt hại, khiển trách, hoặc trục xuất, với ý nghĩ: 'Ta có quyền lực, ta muốn dùng quyền lực', cái ấy cũng là bất thiện. Như vậy, đối với người ấy, nhiều pháp ác, bất thiện do tham sanh, do tham làm nhân, do tham tập khởi, do tham làm duyên, được sanh khởi.
Yadapi, bhikkhave, doso tadapi akusalamūlaṁ; yadapi duṭṭho abhisaṅkharoti kāyena vācāya manasā tadapi akusalaṁ; yadapi duṭṭho dosena abhibhūto pariyādinnacitto parassa asatā dukkhaṁ uppādayati vadhena vā bandhanena vā jāniyā vā garahāya vā pabbājanāya vā balavamhi balattho itipi tadapi akusalaṁ. Itissame dosajā dosanidānā dosasamudayā dosapaccayā aneke pāpakā akusalā dhammā sambhavanti.
Hate is a root of the unskillful. When a hateful person chooses to act by way of body, speech, or mind, that too is unskillful. When a hateful person, overcome by hate, causes another to suffer under a false pretext—by execution or imprisonment or confiscation or condemnation or banishment—thinking ‘I’m powerful, I want power’, that too is unskillful. And so these many bad, unskillful things are produced in them, born, sourced, originated, and conditioned by hate.
Này các Tỳ khưu, cái gì là sân, cái ấy là căn bản bất thiện. Bất cứ điều gì người có sân tạo tác qua thân, khẩu, ý, cái ấy cũng là bất thiện. Bất cứ khi nào người có sân, bị sân chi phối, tâm bị xâm chiếm, gây đau khổ cho người khác một cách vô cớ, bằng cách giết, trói, làm cho thiệt hại, khiển trách, hoặc trục xuất, với ý nghĩ: 'Ta có quyền lực, ta muốn dùng quyền lực', cái ấy cũng là bất thiện. Như vậy, đối với người ấy, nhiều pháp ác, bất thiện do sân sanh, do sân làm nhân, do sân tập khởi, do sân làm duyên, được sanh khởi.
Yadapi, bhikkhave, moho tadapi akusalamūlaṁ; yadapi mūḷho abhisaṅkharoti kāyena vācāya manasā tadapi akusalaṁ; yadapi mūḷho mohena abhibhūto pariyādinnacitto parassa asatā dukkhaṁ uppādayati vadhena vā bandhanena vā jāniyā vā garahāya vā pabbājanāya vā balavamhi balattho itipi tadapi akusalaṁ. Itissame mohajā mohanidānā mohasamudayā mohapaccayā aneke pāpakā akusalā dhammā sambhavanti. Evarūpo cāyaṁ, bhikkhave, puggalo vuccati akālavādītipi, abhūtavādītipi, anatthavādītipi, adhammavādītipi, avinayavādītipi.
Delusion is a root of the unskillful. When a deluded person chooses to act by way of body, speech, or mind, that too is unskillful. When a deluded person, overcome by delusion, causes another to suffer under a false pretext—by execution or imprisonment or confiscation or condemnation or banishment—thinking ‘I’m powerful, I want power’, that too is unskillful. And so these many bad, unskillful things are produced in them, born, sourced, originated, and conditioned by delusion. Such an individual is said to have speech that’s ill-timed, false, meaningless, not in line with the teaching and training.
Này các Tỳ khưu, cái gì là si, cái ấy là căn bản bất thiện. Bất cứ điều gì người si mê tạo tác qua thân, khẩu, ý, cái ấy cũng là bất thiện. Bất cứ khi nào người si mê, bị si chi phối, tâm bị xâm chiếm, gây đau khổ cho người khác một cách vô cớ, bằng cách giết, trói, làm cho thiệt hại, khiển trách, hoặc trục xuất, với ý nghĩ: 'Ta có quyền lực, ta muốn dùng quyền lực', cái ấy cũng là bất thiện. Như vậy, đối với người ấy, nhiều pháp ác, bất thiện do si sanh, do si làm nhân, do si tập khởi, do si làm duyên, được sanh khởi. Này các Tỳ khưu, một người như vậy được gọi là người nói phi thời, người nói không thật, người nói vô ích, người nói phi pháp, người nói phi luật.
Kasmā cāyaṁ, bhikkhave, evarūpo puggalo vuccati akālavādītipi, abhūtavādītipi, anatthavādītipi, adhammavādītipi, avinayavādītipi? Tathāhāyaṁ, bhikkhave, puggalo parassa asatā dukkhaṁ uppādayati vadhena vā bandhanena vā jāniyā vā garahāya vā pabbājanāya vā balavamhi balattho itipi. Bhūtena kho pana vuccamāno avajānāti, no paṭijānāti; abhūtena vuccamāno na ātappaṁ karoti, tassa nibbeṭhanāya itipetaṁ atacchaṁ itipetaṁ abhūtanti. Tasmā evarūpo puggalo vuccati akālavādītipi, abhūtavādītipi, anatthavādītipi, adhammavādītipi, avinayavādītipi.
Why is this? This individual causes another to suffer under a false pretext—by execution or imprisonment or confiscation or condemnation or banishment—thinking ‘I’m powerful, I want power’. So when someone makes a valid criticism, they’re scornful and admit nothing. When someone makes a baseless criticism, they make no effort to explain, ‘This is why that’s untrue, this is why that’s false.’ That’s why such an individual is said to have speech that’s ill-timed, false, meaningless, not in line with the teaching and training.
Này các Tỳ khưu, vì sao một người như vậy được gọi là người nói phi thời, người nói không thật, người nói vô ích, người nói phi pháp, người nói phi luật? Này các Tỳ khưu, người này gây đau khổ cho người khác một cách vô cớ, bằng cách giết, trói, làm cho thiệt hại, khiển trách, hoặc trục xuất, với ý nghĩ: 'Ta có quyền lực, ta muốn dùng quyền lực'. Khi được nói điều có thật, người ấy khinh thường, không thừa nhận. Khi được nói điều không thật, người ấy không nỗ lực để giải thích rằng: 'Điều này là không đúng sự thật, điều này là không có thật'. Vì vậy, một người như vậy được gọi là người nói phi thời, người nói không thật, người nói vô ích, người nói phi pháp, người nói phi luật.
Evarūpo, bhikkhave, puggalo lobhajehi pāpakehi akusalehi dhammehi abhibhūto pariyādinnacitto diṭṭhe ceva dhamme dukkhaṁ viharati, savighātaṁ saupāyāsaṁ sapariḷāhaṁ. Kāyassa ca bhedā paraṁ maraṇā duggati pāṭikaṅkhā.
Dosajehi …pe…
Such an individual—overcome with bad, unskillful qualities born of greed, hate, and delusion—suffers in this very life, with distress, anguish, and fever. And when the body breaks up, after death, they can expect to be reborn in a bad place.
Này các Tỳ khưu, một người như vậy, bị các pháp ác, bất thiện do tham sanh chi phối, tâm bị xâm chiếm, ngay trong hiện tại sống đau khổ, có phiền não, có ưu não, có nhiệt não. Sau khi thân hoại mạng chung, có thể chờ đợi ác thú.
Dosajehi …pe…
Do sân... cho đến... do si... bị các pháp ác, bất thiện chinh phục, tâm bị chiếm đoạt, vị ấy sống đau khổ ngay trong hiện tại, với phiền não, với ưu não, với nhiệt não. Và sau khi thân hoại mạng chung, ác thú được chờ đợi. Này các Tỳ khưu, ví như cây sāla, hoặc cây dhava, hoặc cây phandana, bị ba loại dây leo māluvā tàn phá, bao phủ, đi đến bất hạnh, đi đến tai họa, đi đến bất hạnh và tai họa; cũng vậy, này các Tỳ khưu, hạng người như vậy, bị các pháp ác, bất thiện sanh từ tham chinh phục, tâm bị chiếm đoạt, vị ấy sống đau khổ ngay trong hiện tại, với phiền não, với ưu não, với nhiệt não. Và sau khi thân hoại mạng chung, ác thú được chờ đợi.
Do sân... cho đến... do si... bị các pháp ác, bất thiện chinh phục, tâm bị chiếm đoạt, vị ấy sống đau khổ ngay trong hiện tại, với phiền não, với ưu não, với nhiệt não. Và sau khi thân hoại mạng chung, ác thú được chờ đợi. Này các Tỳ khưu, đây chính là ba gốc rễ bất thiện.
Tīṇimāni, bhikkhave, kusalamūlāni. Katamāni tīṇi? Alobho kusalamūlaṁ, adoso kusalamūlaṁ, amoho kusalamūlaṁ.
There are these three skillful roots. What three? Contentment, love, and understanding.
Này các Tỳ khưu, có ba gốc rễ thiện này. Thế nào là ba? Vô tham là gốc rễ thiện, vô sân là gốc rễ thiện, vô si là gốc rễ thiện.
Yadapi, bhikkhave, alobho tadapi kusalamūlaṁ; yadapi aluddho abhisaṅkharoti kāyena vācāya manasā tadapi kusalaṁ; yadapi aluddho lobhena anabhibhūto apariyādinnacitto na parassa asatā dukkhaṁ uppādayati vadhena vā bandhanena vā jāniyā vā garahāya vā pabbājanāya vā balavamhi balattho itipi tadapi kusalaṁ. Itissame alobhajā alobhanidānā alobhasamudayā alobhapaccayā aneke kusalā dhammā sambhavanti.
Contentment is a root of the skillful. When a contented person chooses to act by way of body, speech, or mind, that too is skillful. When a contented person, not overcome by greed, doesn’t cause another to suffer under a false pretext—by execution or imprisonment or confiscation or condemnation or banishment—thinking ‘I’m powerful, I want power’, that too is skillful. And so these many skillful things are produced in them, born, sourced, originated, and conditioned by contentment.
Này các Tỳ khưu, cái gì là vô tham, đó cũng là gốc rễ thiện; người không tham lam tạo tác điều gì bằng thân, khẩu, ý, đó cũng là thiện; người không tham lam, không bị tham chinh phục, tâm không bị chiếm đoạt, không gây khổ cho người khác một cách vô cớ, hoặc bằng cách giết, hoặc bằng cách trói buộc, hoặc bằng cách gây thiệt hại, hoặc bằng cách khiển trách, hoặc bằng cách trục xuất, với ý nghĩ 'ta có quyền lực, ta có sức mạnh', đó cũng là thiện. Như vậy, đối với vị ấy, nhiều pháp thiện sanh từ vô tham, có vô tham làm nhân, có vô tham làm nguồn sanh, có vô tham làm duyên, được sanh khởi.
Yadapi, bhikkhave, adoso tadapi kusalamūlaṁ; yadapi aduṭṭho abhisaṅkharoti kāyena vācāya manasā tadapi kusalaṁ; yadapi aduṭṭho dosena anabhibhūto apariyādinnacitto na parassa asatā dukkhaṁ uppādayati vadhena vā bandhanena vā jāniyā vā garahāya vā pabbājanāya vā balavamhi balattho itipi tadapi kusalaṁ. Itissame adosajā adosanidānā adosasamudayā adosapaccayā aneke kusalā dhammā sambhavanti.
Love is a root of the skillful. When a loving person chooses to act by way of body, speech, or mind, that too is skillful. When a loving person, not overcome by hate, doesn’t cause another to suffer under a false pretext—by execution or imprisonment or confiscation or condemnation or banishment—thinking ‘I’m powerful, I want power’, that too is skillful. And so these many skillful things are produced in them, born, sourced, originated, and conditioned by love.
Này các Tỳ khưu, cái gì là vô sân, đó cũng là gốc rễ thiện; người không sân hận tạo tác điều gì bằng thân, khẩu, ý, đó cũng là thiện; người không sân hận, không bị sân chinh phục, tâm không bị chiếm đoạt, không gây khổ cho người khác một cách vô cớ, hoặc bằng cách giết, hoặc bằng cách trói buộc, hoặc bằng cách gây thiệt hại, hoặc bằng cách khiển trách, hoặc bằng cách trục xuất, với ý nghĩ 'ta có quyền lực, ta có sức mạnh', đó cũng là thiện. Như vậy, đối với vị ấy, nhiều pháp thiện sanh từ vô sân, có vô sân làm nhân, có vô sân làm nguồn sanh, có vô sân làm duyên, được sanh khởi.
Yadapi, bhikkhave, amoho tadapi kusalamūlaṁ; yadapi amūḷho abhisaṅkharoti kāyena vācāya manasā tadapi kusalaṁ; yadapi amūḷho mohena anabhibhūto apariyādinnacitto na parassa asatā dukkhaṁ uppādayati vadhena vā bandhanena vā jāniyā vā garahāya vā pabbājanāya vā balavamhi balattho itipi tadapi kusalaṁ. Itissame amohajā amohanidānā amohasamudayā amohapaccayā aneke kusalā dhammā sambhavanti. Evarūpo cāyaṁ, bhikkhave, puggalo vuccati kālavādītipi, bhūtavādītipi, atthavādītipi, dhammavādītipi, vinayavādītipi.
Understanding is a root of the skillful. When an understanding person chooses to act by way of body, speech, or mind, that too is skillful. When an understanding person, not overcome by delusion, doesn’t cause another to suffer under a false pretext—by execution or imprisonment or confiscation or condemnation or banishment—thinking ‘I’m powerful, I want power’, that too is skillful. And so these many skillful things are produced in them, born, sourced, originated, and conditioned by understanding. Such an individual is said to have speech that’s well-timed, true, meaningful, in line with the teaching and training.
Này các Tỳ khưu, cái gì là vô si, đó cũng là gốc rễ thiện; người không si mê tạo tác điều gì bằng thân, khẩu, ý, đó cũng là thiện; người không si mê, không bị si chinh phục, tâm không bị chiếm đoạt, không gây khổ cho người khác một cách vô cớ, hoặc bằng cách giết, hoặc bằng cách trói buộc, hoặc bằng cách gây thiệt hại, hoặc bằng cách khiển trách, hoặc bằng cách trục xuất, với ý nghĩ 'ta có quyền lực, ta có sức mạnh', đó cũng là thiện. Như vậy, đối với vị ấy, nhiều pháp thiện sanh từ vô si, có vô si làm nhân, có vô si làm nguồn sanh, có vô si làm duyên, được sanh khởi. Này các Tỳ khưu, hạng người như vậy được gọi là người nói đúng thời, người nói đúng sự thật, người nói lời lợi ích, người nói đúng pháp, người nói đúng luật.
Kasmā cāyaṁ, bhikkhave, evarūpo puggalo vuccati kālavādītipi, bhūtavādītipi, atthavādītipi, dhammavādītipi, vinayavādītipi? Tathāhāyaṁ, bhikkhave, puggalo na parassa asatā dukkhaṁ uppādayati vadhena vā bandhanena vā jāniyā vā garahāya vā pabbājanāya vā balavamhi balattho itipi. Bhūtena kho pana vuccamāno paṭijānāti no avajānāti; abhūtena vuccamāno ātappaṁ karoti tassa nibbeṭhanāya: ‘itipetaṁ atacchaṁ, itipetaṁ abhūtan’ti. Tasmā evarūpo puggalo vuccati kālavādītipi, atthavādītipi, dhammavādītipi, vinayavādītipi.
Why is this? This individual doesn’t cause another to suffer under a false pretext—by execution or imprisonment or confiscation or condemnation or banishment—thinking ‘I’m powerful, I want power’. So when someone makes a valid criticism, they admit it and aren’t scornful. When someone makes a baseless criticism, they make an effort to explain, ‘This is why that’s untrue, this is why that’s false.’ That’s why such an individual is said to have speech that’s well-timed, true, meaningful, in line with the teaching and training.
Này các Tỳ khưu, tại sao hạng người như vậy được gọi là người nói đúng thời, người nói đúng sự thật, người nói lời lợi ích, người nói đúng pháp, người nói đúng luật? Này các Tỳ khưu, vì hạng người này không gây khổ cho người khác một cách vô cớ, hoặc bằng cách giết, hoặc bằng cách trói buộc, hoặc bằng cách gây thiệt hại, hoặc bằng cách khiển trách, hoặc bằng cách trục xuất, với ý nghĩ 'ta có quyền lực, ta có sức mạnh'. Hơn nữa, khi được nói với sự thật, vị ấy thừa nhận, không chối bỏ; khi bị nói điều không thật, vị ấy nỗ lực để giải thích: 'Điều này là không thật như vậy, điều này là không có như vậy'. Do đó, hạng người như vậy được gọi là người nói đúng thời, người nói lời lợi ích, người nói đúng pháp, người nói đúng luật.
Evarūpassa, bhikkhave, puggalassa lobhajā pāpakā akusalā dhammā pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā. Diṭṭheva dhamme sukhaṁ viharati avighātaṁ anupāyāsaṁ apariḷāhaṁ. Diṭṭheva dhamme parinibbāyati.
Dosajā …pe… parinibbāyati. Mohajā …pe… parinibbāyati.
For such an individual, bad unskillful qualities born of greed, hate, and delusion are cut off at the root, made like a palm stump, obliterated, and unable to arise in the future. In this very life they’re happy, free of distress, anguish, and fever, and they’re also extinguished in this very life.
Này các Tỳ khưu, đối với hạng người như vậy, các pháp ác, bất thiện sanh từ tham đã được đoạn tận, đã được cắt đứt tận gốc, đã được làm như thân cây thốt nốt, đã được làm cho không tồn tại, có pháp không sanh khởi trong tương lai. Vị ấy sống an lạc ngay trong hiện tại, không phiền não, không ưu não, không nhiệt não. Vị ấy viên tịch ngay trong hiện tại.
Dosajā …pe…
Sanh từ sân... cho đến... vị ấy viên tịch. Sanh từ si... cho đến... vị ấy viên tịch. Này các Tỳ khưu, ví như cây sāla, hoặc cây dhava, hoặc cây phandana, bị ba loại dây leo māluvā tàn phá, bao phủ. Rồi một người mang cuốc và giỏ đến. Người ấy chặt dây leo māluvā đó ở gốc, sau khi chặt ở gốc, người ấy đào lên, sau khi đào lên, người ấy nhổ lên các rễ, cho đến cả những rễ nhỏ bằng rễ cỏ hương bài. Người ấy chặt dây leo māluvā đó ra từng khúc, sau khi chặt ra từng khúc, người ấy chẻ ra, sau khi chẻ ra, người ấy làm thành từng mảnh vụn, sau khi làm thành từng mảnh vụn, người ấy phơi khô trong gió và nắng, sau khi phơi khô trong gió và nắng, người ấy đốt bằng lửa, sau khi đốt bằng lửa, người ấy làm thành tro, sau khi làm thành tro, người ấy hoặc tung vào trong gió lớn, hoặc cho trôi đi trong dòng sông chảy xiết. Này các Tỳ khưu, như vậy, những dây leo māluvā đó của người ấy được cắt đứt tận gốc, được làm như thân cây thốt nốt, được làm cho không tồn tại, có pháp không sanh khởi trong tương lai. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, đối với hạng người như vậy, các pháp ác, bất thiện sanh từ tham đã được đoạn tận, đã được cắt đứt tận gốc, đã được làm như thân cây thốt nốt, đã được làm cho không tồn tại, có pháp không sanh khởi trong tương lai. Vị ấy sống an lạc ngay trong hiện tại, không phiền não, không ưu não, không nhiệt não. Vị ấy viên tịch ngay trong hiện tại.
Navamaṁ.
Các pháp ác, bất thiện sanh từ sân... sanh từ si đã được đoạn tận, đã được cắt đứt tận gốc rễ, đã được làm cho như thân cây thốt nốt, đã được làm cho không thể hiện hữu, có đặc tính không sanh khởi trong tương lai. Vị ấy sống an lạc, không phiền não, không mệt nhọc, không nóng nảy ngay trong hiện tại. Vị ấy tịch tịnh ngay trong hiện tại. Này các Tỳ khưu, đây chính là ba thiện căn. (Kinh) thứ chín.