- Aṅguttara Nikāya 3.42
- 5. Cūḷavagga
Bản dịch
AN 3.42 — Sự Kiện
Tiṭhānasutta
—Do ba sự kiện, này các Tỷ-kheo, một người được biết là có lòng tin. Thế nào là ba?
Ưa thấy người có giới hạnh, ưa nghe diệu pháp, với tâm ly cấu uế của xan tham, sống trong nhà, bố thí rộng rãi với bàn tay sạch sẽ, ưa thích từ bỏ, sẵn sàng để được yêu cầu, thích phân phát vật bố thí. Do ba sự kiện này, này các Tỷ-kheo, một người được biết là có lòng tin.
Thích thấy người giới hạnh
Muốn được nghe diệu pháp
Nhiếp phục uế xan tham
Vị ấy gọi có tin
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 3.42
- 5. The Lesser Chapter
Three Grounds
2. Kinh Ba Trường Hợp
“Tīhi, bhikkhave, ṭhānehi saddho pasanno veditabbo. Katamehi tīhi? Sīlavantānaṁ dassanakāmo hoti, saddhammaṁ sotukāmo hoti, vigatamalamaccherena cetasā agāraṁ ajjhāvasati muttacāgo payatapāṇi vossaggarato yācayogo dānasaṁvibhāgarato. Imehi kho, bhikkhave, tīhi ṭhānehi saddho pasanno veditabbo.
“There are three grounds, mendicants, by which a person with faith and confidence can be known. What three? They like to see ethical people. They like to hear the true teaching. And they live at home with heart rid of the stain of stinginess, freely generous, open-handed, loving to let go, committed to charity, loving to give and to share. These are the three grounds by which a person with faith and confidence can be known.
42. Này các Tỳ khưu, người có lòng tin, người tịnh tín, cần được biết qua ba trường hợp. Ba trường hợp nào? (Vị ấy) muốn thấy những người có giới, muốn nghe diệu pháp, sống tại gia với tâm không còn cấu uế của xan tham, bố thí rộng rãi, tay sạch sẽ, vui thích xả ly, đáng được cầu xin, vui thích trong việc cho và chia sẻ. Này các Tỳ khưu, chính do ba trường hợp này, người có lòng tin, người tịnh tín, cần được biết.
Dassanakāmo sīlavataṁ, saddhammaṁ sotumicchati; Vinaye maccheramalaṁ, sa ve saddhoti vuccatī”ti.
Dutiyaṁ.
They like to see ethical people; they want to hear the true teaching; they’ve driven out the stain of stinginess: that’s who’s called an individual of faith.”
Người muốn thấy những người có giới, muốn nghe diệu pháp, loại trừ cấu uế của xan tham, người ấy thật được gọi là người có lòng tin. Hết bài kinh thứ hai.