- Aṅguttara Nikāya 3.40
- 4. Devadūtavagga
Bản dịch
AN 3.40 — Tăng Thượng
Ādhipateyyasutta
—Này các Tỷ-kheo, có ba tăng thượng này. Thế nào là ba? Ngã tăng thượng, thế giới tăng thượng, pháp tăng thượng.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ngã tăng thượng?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đi đến ngôi rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, quan sát như sau: “Không phải vì y áo, ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Không phải vì món ăn khất thực, không phải vì sàng tọa, không phải vì nhân có mặt hay không có mặt ở đây mà ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, (nhưng với ý nghĩ như sau): “Nay ta bị rơi vào sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, rơi vào khổ, bị khổ chi phối. Có thể do làm như vậy, sự đoạn tận tất cả khổ uẩn này được hiện khởi lên (cho ta). Và ta đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sau khi đã đoạn tận tất cả các dục vọng như vậy, lại còn đeo đuổi các dục vọng như kia hay còn ác tệ hơn. Như vậy, thật không xứng đáng cho ta”.
Vị ấy quan sát như sau: “Thắng tấn là tinh tấn của ta, không có thụ động; an trú là niệm của ta, không có thất niệm; khinh an là thân của ta, không có dao động; định tĩnh là tâm của ta, được nhứt tâm”. Vị ấy làm cho tăng thượng tự ngã, từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không tội, gìn giữ cho tự ngã được thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tự ngã tăng thượng.
TTC 2—Như thế nào, này các Tỷ-kheo, là thế giới tăng thượng?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đi đến ngôi rừng hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, rồi thẩm sát như sau: “Không phải vì y áo, ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Không phải vì món ăn khất thực, không phải vì sàng tọa, không phải vì nhân có mặt hay không có mặt ở đây mà ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, (nhưng với ý nghĩ như sau): “Nay ta bị rơi vào sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, rơi vào khổ, bị khổ chi phối. Có thể làm như vậy, đoạn tận của tất cả khổ uẩn này được hiện khởi lên cho ta. Và ta đã xuất gia như vậy, lại có thể suy nghĩ về dục tầm hay có thể suy nghĩ về sân tầm, hay có thể suy nghi về hại tầm. To lớn là đại chúng này sống ở trong đời. Trong đại chúng sống ở đời, có các vị Sa-môn, Bà-la-môn có thần thông, có thiên nhãn, có tha tâm thông. Các vị này có thể thấy từ xa, tuy ở gần nhưng không thể thấy chúng được, và chúng có thể biết tâm ta với tâm của chúng. Chúng biết về ta như sau: “Hãy xem thiện nam tử này, tuy vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nhưng sống xen lẫn với các pháp ác, bất thiện”. Lại có các chư Thiên có thần thông, có thiên nhãn, có tha tâm thông. Các vị này có thể thấy từ xa, tuy ở gần nhưng không thấy chúng được, và chúng có thể biết tâm ta với tâm của chúng. Các vị ấy có thể biết về ta như sau: “Hãy xem thiện nam tử này, tuy vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nhưng sống xen lẫn với các pháp ác, bất thiện.”
Vị ấy lại quan sát như sau: “Thắng tấn là tinh tấn của ta, không có thụ động; an trú là niệm của ta, không có thất niệm; khinh an là thân của ta, không có dao động; định tĩnh là tâm của ta, được nhứt tâm”. Vị ấy làm cho tăng thượng thế giới, từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không có tội, giữ gìn cho tự ngã được thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thế giới tăng thượng.
TTC 3—Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp tăng thượng?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đi đến ngôi rừng hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, rồi thẩm sát như sau: “Không phải vì y áo, ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Không phải vì món ăn khất thực, không phải vì sàng tọa, không phải vì nhân có mặt hay không có mặt ở đây mà ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, (nhưng với ý nghĩ như sau): “Nay ta bị rơi vào sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, rơi vào khổ, bị khổ chi phối. Có thể do làm như vậy, đoạn tận tất cả các khổ uẩn này được hiện khởi lên cho ta. Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có kết quả ngay tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu. Nay ta có những người đồng Phạm hạnh, chúng sống biết và thấy. Ta đã được xuất gia trong pháp và Luật khéo giảng như vậy, không lẽ ta lại có thể sống biếng nhác phóng dật. Như vậy, thật không xứng đáng cho ta”.
Vị ấy lại quán sát như sau: “Thắng tấn là tinh tấn của ta, không có thụ động; an trú là niệm của ta, không có thất niệm; khinh an là thân của ta, không có dao động; định tĩnh là tâm của ta, được nhứt tâm”. Vị ấy làm cho tăng thượng pháp, từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không tội, giữ gìn cho tự ngã được thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là pháp tăng thượng. Này các Tỷ-kheo, có ba pháp tăng thượng này.
Trên đời không giấu được
Ác nghiệp tự mình làm
Ngã của ngươi ta biết
Là thật hay là giả
Ngươi thật khinh thiện ngã
Mặt giáp mặt chứng kiến
Muốn che giấu tự ngã
Ðiều ác tự ngã làm
Chư Thiên và Như Lai
Thấy rõ ở trong đời
Sở hành của kẻ ngu
Làm các hạng tà vạy
Vậy vị ngã tăng thượng
Sở hành phải chánh niệm
Vị thế giới tăng thượng
Hãy khôn khéo, Thiền tịnh
Với vị pháp tăng thượng
Hãy sống theo tùy pháp
Ðại sĩ không thối thất
Tinh cần theo chân lý
Nhiếp phục được ma quân
Chiến thắng được tử thần
Với tinh cần tinh tấn
Sanh đã được đoạn tận.
Bậc đạo sĩ như vậy,
Hiểu thế gian diệu chí
Ðối với tất cả pháp
Không có gì xúc phạm
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 3.40
- 4. Messengers from the Gods
In Charge
10. Kinh Quyền Lực
“Tīṇimāni, bhikkhave, ādhipateyyāni. Katamāni tīṇi? Attādhipateyyaṁ, lokādhipateyyaṁ, dhammādhipateyyaṁ.
Katamañca, bhikkhave, attādhipateyyaṁ? Idha, bhikkhave, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā iti paṭisañcikkhati: ‘na kho panāhaṁ cīvarahetu agārasmā anagāriyaṁ pabbajito. Na piṇḍapātahetu, na senāsanahetu, na itibhavābhavahetu agārasmā anagāriyaṁ pabbajito. Api ca khomhi otiṇṇo jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, dukkhotiṇṇo dukkhapareto. Appeva nāma imassa kevalassa dukkhakkhandhassa antakiriyā paññāyethāti. Ahañceva kho pana yādisake kāme ohāya agārasmā anagāriyaṁ pabbajito tādisake vā kāme pariyeseyyaṁ tato vā pāpiṭṭhatare, na metaṁ patirūpan’ti. So iti paṭisañcikkhati: ‘āraddhaṁ kho pana me vīriyaṁ bhavissati asallīnaṁ, upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā, passaddho kāyo asāraddho, samāhitaṁ cittaṁ ekaggan’ti. So attānaṁyeva adhipatiṁ karitvā akusalaṁ pajahati, kusalaṁ bhāveti, sāvajjaṁ pajahati, anavajjaṁ bhāveti, suddhaṁ attānaṁ pariharati. Idaṁ vuccati, bhikkhave, attādhipateyyaṁ.
“There are, mendicants, these three things to put in charge. What three? Putting oneself, the world, or the teaching in charge.
And what, mendicants, is putting oneself in charge? It’s when a mendicant has gone to a wilderness, or to the root of a tree, or to an empty hut, and reflects like this: ‘I didn’t go forth from the lay life to homelessness for the sake of a robe, almsfood, lodgings, or rebirth in this or that state. But I was swamped by rebirth, old age, and death; by sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. I was swamped by suffering, mired in suffering. And I thought, “Hopefully I can make an end to this entire mass of suffering.” But it would not be appropriate for me to seek sensual pleasures like those I abandoned when I went forth, or even worse.’ Then they reflect: ‘My energy shall be roused up and unflagging, mindfulness shall be established and lucid, my body shall be tranquil and undisturbed, and my mind shall be immersed in samādhi.’ Putting themselves in charge, they give up the unskillful and develop the skillful, they give up the blameworthy and develop the blameless, and they keep themselves pure. This is called putting oneself in charge.
40. “Này các Tỳ khưu, có ba quyền lực này. Thế nào là ba? Lấy tự ngã làm chủ, lấy thế gian làm chủ, lấy Pháp làm chủ. Và này các Tỳ khưu, thế nào là lấy tự ngã làm chủ? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến ngôi nhà trống, rồi suy xét như sau: ‘Ta xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, không phải vì y, không phải vì vật thực khất thực, không phải vì sàng tọa, không phải vì sự hiện hữu hay không hiện hữu này nọ. Mà thật sự, ta bị chìm ngập bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não; bị khổ chìm ngập, bị khổ áp đảo. Mong rằng sự chấm dứt toàn bộ khối khổ này có thể được biết đến.’ ‘Ta, sau khi đã từ bỏ những dục lạc như vậy để xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nếu lại đi tìm kiếm những dục lạc tương tự hoặc tệ hơn nữa, điều ấy không thích hợp với ta.’ Vị ấy suy xét như sau: ‘Tinh tấn của ta sẽ được khởi lên, không thụ động; niệm sẽ được thiết lập, không quên lãng; thân sẽ được khinh an, không bồn chồn; tâm sẽ được định tĩnh, nhất tâm.’ Vị ấy, lấy chính mình làm chủ, từ bỏ điều bất thiện, tu tập điều thiện; từ bỏ điều có tội, tu tập điều không có tội; giữ gìn tự thân trong sạch. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là lấy tự ngã làm chủ.
Katamañca, bhikkhave, lokādhipateyyaṁ? Idha, bhikkhave, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā iti paṭisañcikkhati: ‘na kho panāhaṁ cīvarahetu agārasmā anagāriyaṁ pabbajito. Na piṇḍapātahetu, na senāsanahetu, na itibhavābhavahetu agārasmā anagāriyaṁ pabbajito. Api ca khomhi otiṇṇo jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, dukkhotiṇṇo dukkhapareto. Appeva nāma imassa kevalassa dukkhakkhandhassa antakiriyā paññāyethā’ti. Ahañceva kho pana evaṁ pabbajito samāno kāmavitakkaṁ vā vitakkeyyaṁ, byāpādavitakkaṁ vā vitakkeyyaṁ, vihiṁsāvitakkaṁ vā vitakkeyyaṁ, mahā kho panāyaṁ lokasannivāso. Mahantasmiṁ kho pana lokasannivāse santi samaṇabrāhmaṇā iddhimanto dibbacakkhukā paracittaviduno. Te dūratopi passanti, āsannāpi na dissanti, cetasāpi cittaṁ pajānanti. Tepi maṁ evaṁ jāneyyuṁ:
‘passatha, bho, imaṁ kulaputtaṁ saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito samāno vokiṇṇo viharati pāpakehi akusalehi dhammehī’ti. devatāpi kho santi iddhimantiniyo dibbacakkhukā paracittaviduniyo. Tā dūratopi passanti, āsannāpi na dissanti, cetasāpi cittaṁ jānanti. Tāpi maṁ evaṁ jāneyyuṁ:
‘passatha, bho, imaṁ kulaputtaṁ saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito samāno vokiṇṇo viharati pāpakehi akusalehi dhammehī’ti. So iti paṭisañcikkhati: ‘āraddhaṁ kho pana me vīriyaṁ bhavissati asallīnaṁ, upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā, passaddho kāyo asāraddho, samāhitaṁ cittaṁ ekaggan’ti. So lokaṁyeva adhipatiṁ karitvā akusalaṁ pajahati, kusalaṁ bhāveti, sāvajjaṁ pajahati, anavajjaṁ bhāveti, suddhaṁ attānaṁ pariharati. Idaṁ vuccati, bhikkhave, lokādhipateyyaṁ.
And what, mendicants, is putting the world in charge? It’s when a mendicant has gone to a wilderness, or to the root of a tree, or to an empty hut, and reflects like this: ‘I didn’t go forth from the lay life to homelessness for the sake of a robe, almsfood, lodgings, or rebirth in this or that state. But I was swamped by rebirth, old age, and death, by sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. I was swamped by suffering, mired in suffering. And I thought, “Hopefully I can make an end to this entire mass of suffering.” And now, since I’ve now gone forth, I might have sensual, malicious, or cruel thoughts. But the population of the world is large, and there are ascetics and brahmins who have psychic power—they’re clairvoyant, and can read the minds of others. They see far without being seen, even by those close; and they understand the minds of others. They would know me:
“Look at this gentleman; he’s gone forth out of faith from the lay life to homelessness, but he’s living mixed up with bad, unskillful qualities.” And there are deities, too, who have psychic power—they’re clairvoyant, and can read the minds of others. They see far without being seen, even by those close; and they understand the minds of others. They would know me:
“Look at this gentleman; he’s gone forth out of faith from the lay life to homelessness, but he’s living mixed up with bad, unskillful qualities.”’ Then they reflect: ‘My energy shall be roused up and unflagging, mindfulness shall be established and lucid, my body shall be tranquil and undisturbed, and my mind shall be immersed in samādhi.’ Putting the world in charge, they give up the unskillful and develop the skillful, they give up the blameworthy and develop the blameless, and they keep themselves pure. This is called putting the world in charge.
“Và này các Tỳ khưu, thế nào là lấy thế gian làm chủ? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến ngôi nhà trống, rồi suy xét như sau: ‘Ta xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, không phải vì y, không phải vì vật thực khất thực, không phải vì sàng tọa, không phải vì sự hiện hữu hay không hiện hữu này nọ. Mà thật sự, ta bị chìm ngập bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não; bị khổ chìm ngập, bị khổ áp đảo. Mong rằng sự chấm dứt toàn bộ khối khổ này có thể được biết đến.’ ‘Ta, đã xuất gia như vậy, nếu lại khởi lên dục tầm, hoặc sân tầm, hoặc hại tầm, (thì thật không đáng). Thế giới này thật rộng lớn. Trong thế giới rộng lớn này, có những vị Sa-môn, Bà-la-môn có thần thông, có thiên nhãn, biết được tâm của người khác. Các vị ấy thấy được từ xa, dù ở gần cũng không bị thấy, và biết được tâm của người khác bằng tâm của mình. Các vị ấy cũng sẽ biết về ta như sau: ‘Này quý vị, hãy xem người thiện nam tử này, đã do lòng tin mà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, lại sống trộn lẫn với các pháp ác, bất thiện.’ Cũng có những vị chư thiên có thần thông, có thiên nhãn, biết được tâm của người khác. Các vị ấy thấy được từ xa, dù ở gần cũng không bị thấy, và biết được tâm của người khác bằng tâm của mình. Các vị ấy cũng sẽ biết về ta như sau: ‘Này quý vị, hãy xem người thiện nam tử này, đã do lòng tin mà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, lại sống trộn lẫn với các pháp ác, bất thiện.’ Vị ấy suy xét như sau: ‘Tinh tấn của ta sẽ được khởi lên, không thụ động; niệm sẽ được thiết lập, không quên lãng; thân sẽ được khinh an, không bồn chồn; tâm sẽ được định tĩnh, nhất tâm.’ Vị ấy, lấy thế gian làm chủ, từ bỏ điều bất thiện, tu tập điều thiện; từ bỏ điều có tội, tu tập điều không có tội; giữ gìn tự thân trong sạch. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là lấy thế gian làm chủ.
Katamañca, bhikkhave, dhammādhipateyyaṁ? Idha, bhikkhave, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā iti paṭisañcikkhati: ‘na kho panāhaṁ cīvarahetu agārasmā anagāriyaṁ pabbajito. Na piṇḍapātahetu, na senāsanahetu, na itibhavābhavahetu agārasmā anagāriyaṁ pabbajito. Api ca khomhi otiṇṇo jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, dukkhotiṇṇo dukkhapareto. Appeva nāma imassa kevalassa dukkhakkhandhassa antakiriyā paññāyethāti. Svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhīti. Santi kho pana me sabrahmacārī jānaṁ passaṁ viharanti. Ahañceva kho pana evaṁ svākkhāte dhammavinaye pabbajito samāno kusīto vihareyyaṁ pamatto, na metaṁ assa patirūpan’ti. So iti paṭisañcikkhati: ‘āraddhaṁ kho pana me vīriyaṁ bhavissati asallīnaṁ, upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā, passaddho kāyo asāraddho, samāhitaṁ cittaṁ ekaggan’ti. So dhammaṁyeva adhipatiṁ karitvā akusalaṁ pajahati, kusalaṁ bhāveti, sāvajjaṁ pajahati, anavajjaṁ bhāveti, suddhaṁ attānaṁ pariharati. Idaṁ vuccati, bhikkhave, dhammādhipateyyaṁ.
Imāni kho, bhikkhave, tīṇi ādhipateyyānīti.
And what, mendicants, is putting the teaching in charge? It’s when a mendicant has gone to a wilderness, or to the root of a tree, or to an empty hut, and reflects like this: ‘I didn’t go forth from the lay life to homelessness for the sake of a robe, almsfood, lodgings, or rebirth in this or that state. But I was swamped by rebirth, old age, and death, by sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. I was swamped by suffering, mired in suffering. And I thought, “Hopefully I can make an end to this entire mass of suffering.” The teaching is well explained by the Buddha—apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves. I have spiritual companions who live knowing and seeing. Now that I’ve gone forth in this well explained teaching and training, it would not be appropriate for me to live lazy and heedless.’ Then they reflect: ‘My energy shall be roused up and unflagging, mindfulness shall be established and lucid, my body shall be tranquil and undisturbed, and my mind shall be immersed in samādhi.’ Putting the teaching in charge, they give up the unskillful and develop the skillful, they give up the blameworthy and develop the blameless, and they keep themselves pure. This is called putting the teaching in charge.
These are the three things to put in charge.
Này các Tỳ khưu, thế nào là Pháp chủ? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị Tỳ khưu đi đến khu rừng, hoặc đi đến gốc cây, hoặc đi đến ngôi nhà trống, rồi suy xét như vầy: ‘Ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình không phải vì y phục. Không phải vì vật thực khất thực, không phải vì sàng tọa, không phải vì sự hiện hữu thế này hay thế khác. Mà thật vậy, ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não; bị khổ lấn át, bị khổ xâm chiếm. Mong rằng sự chấm dứt toàn bộ khối khổ này có thể được biết đến.’ Pháp đã được Thế Tôn khéo thuyết giảng, là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để thấy, có tính hướng thượng, được người trí tự mình liễu tri. Lại nữa, có các vị đồng phạm hạnh của ta đang sống, biết và thấy (Pháp ấy). Nếu ta, đã xuất gia trong Pháp và Luật được khéo thuyết giảng như vậy, lại sống lười biếng, phóng dật, thì điều ấy không thích hợp với ta.’ Vị ấy suy xét như vầy: ‘Tinh tấn của ta sẽ được khởi xướng, không thối chuyển; niệm sẽ được thiết lập, không quên lãng; thân sẽ được khinh an, không bứt rứt; tâm sẽ được định tĩnh, nhất tâm.’ Vị ấy, lấy Pháp làm chủ, từ bỏ điều bất thiện, tu tập điều thiện; từ bỏ điều có tội, tu tập điều không có tội; giữ gìn tự thân trong sạch. Này các Tỳ khưu, đây được gọi là Pháp chủ. Này các Tỳ khưu, có ba sự làm chủ này.
Natthi loke raho nāma, pāpakammaṁ pakubbato; Attā te purisa jānāti, saccaṁ vā yadi vā musā.
There’s no privacy in the world, for someone who does bad deeds. You’ll know for yourself, whether you’ve lied or told the truth.
Trong thế gian, không có nơi nào gọi là kín đáo đối với người làm ác nghiệp. Hỡi người, tự thân ngươi biết, dù là thật hay là dối.
Kalyāṇaṁ vata bho sakkhi, attānaṁ atimaññasi; Yo santaṁ attani pāpaṁ, attānaṁ parigūhasi.
When you witness your good self, you despise it; while you disguise your bad self inside yourself.
Hỡi các bạn, ngươi xem thường tự thân, một nhân chứng tốt đẹp thay, khi ngươi che giấu điều ác có trong chính mình.
Passanti devā ca tathāgatā ca, Lokasmiṁ bālaṁ visamaṁ carantaṁ; Tasmā hi attādhipateyyako ca, Lokādhipo ca nipako ca jhāyī;
The gods and the Realized One see the fool who lives unjustly in the world. So with yourself in charge, live mindfully; with the world in charge, <j>be alert and practice absorption;
Chư Thiên và các bậc Như Lai thấy kẻ ngu trong thế gian hành xử bất chính. Do đó, người có tự ngã làm chủ, người có thế gian làm chủ, người trí tuệ, và người thiền định,
Pasayha māraṁ abhibhuyya antakaṁ, Yo ca phusī jātikkhayaṁ padhānavā; So tādiso lokavidū sumedho, Sabbesu dhammesu atammayo munī”ti.
Dasamaṁ.
Māra’s conquered; the terminator’s overcome: one who strives reaches the end of rebirth. Unaffected, intelligent, knowing the world—that sage is determined by nothing at all.”
người có Pháp làm chủ và sống thuận theo Pháp, bậc thánh có nỗ lực chân chánh, thì không bị suy thoái. Người nào có sự tinh tấn, chế ngự Ma vương, chiến thắng thần chết, đạt đến sự đoạn tận sanh; người như vậy, biết rõ thế gian, có trí tuệ tốt, bậc thánh không bị ái dục chi phối trong tất cả các pháp, không bị suy thoái. Hết bài kinh thứ mười.
Devadūtavaggo catuttho.
Tassuddānaṁ
Phẩm Thiên Sứ, thứ tư.
Brahma ānanda sāriputto, Nidānaṁ hatthakena ca; Dūtā duve ca rājāno, Sukhumālādhipateyyena cāti.
Brahma, Ānanda, Sāriputta, Nidāna, và Hatthaka; Dūta, hai kinh Rājāno, Sukhumāla, và Ādhipateyya.