- Aṅguttara Nikāya 3.126
- 13. Kusināravagga
Bản dịch
AN 3.126 — Bharandu
Bharaṇḍukālāmasutta
TTC 1Một thời, Thế Tôn đang du hành giữa dân chúng Kosala và đi đến Kapilavatthu. Họ Thích Mahànàma nghe tin Thế Tôn đã đến Kapilavatthu. Rồi họ Thích Mahànàma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Thế Tôn nói với họ Thích Mahànàma đang đứng một bên:
—Hãy đi, này Mahànàma và tìm xem ở Kapilavatthu có chỗ nào, tại chỗ ấy, hôm nay chúng ta sẽ trú lại một đêm.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Họ Thích Mahànàma vâng đáp Thế Tôn, đi vào Kapilavatthu, đi khắp toàn vùng Kapilavatthu và không thấy một chỗ nào, Thế Tôn có thể trú một đêm. Rồi họ Thích Mahànàma đi đến Thế Tôn, sau khi đến bạch Thế Tôn:
TTC 2—Bạch Thế Tôn, ở Kapilavatthu không có chỗ nào, tại đây, hôm nay Thế Tôn có thể trú một đêm. Nhưng có Bharandu, người Kàlàmà này, trước tu Phạm hạnh với Thế Tôn. Hôm nay, Thế Tôn hãy ở một đêm tại am thất của vị ấy.
—Này Mahànàma, hãy đi và trải một tấm thảm cho ta ở đó.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Họ Thích Mahànàma vâng đáp Thế Tôn, đi đến am thất của Bharandu người Kàlàmà, sau khi đến, trải tấm thảm, đặt nước để rửa chân, rồi đi đến Thế Tôn, sau khi đến, bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, tấm thảm đã trải, nước để rửa chân đã sẵn sàng, bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy làm gì Ngài nghĩ là phải thời!
TTC 3Rồi Thế Tôn đi đến am thất của Bharandu người Kàlàmà, sau khi đến, ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn rửa chân.
Rồi họ Thích Mahànàma nghĩ như sau: “Nay không phải thời để hầu hạ Thế Tôn. Thế Tôn đang mệt mỏi. Ngày mai ta sẽ đến hầu hạ Thế Tôn”. Nghĩ vậy xong bèn đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về ngài rồi đi ra.
Họ Thích Mahànàma, sau khi đêm ấy đã mãn, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với họ Thích Mahànàma đang ngồi một bên:
TTC 4—Này Mahànàma, có ba vị đạo sư có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba?
Ở đây, này Mahànàma, có vị đạo sư trình bày sự biến tri của các dục vọng, nhưng không trình bày sự biến tri của các sắc, không trình bày sự biến tri của các cảm thọ. Ở đây, này Mahànàma, có vị đạo sư trình bày sự biến tri của các dục vọng, trình bày sự biến tri của các sắc, nhưng không trình bày sự biến tri của các cảm thọ. Nhưng ở đây, này Mahànàma, có vị đạo sư trình bày sự biến tri của các dục vọng, trình bày sự biến tri của các sắc, trình bày sự biến tri của các cảm thọ. Này Mahànàma, có ba vị đạo sư này có mặt, xuất hiện ở đời. Trong ba vị này, này Mahànàma, kết luận là một hay là sai khác?
TTC 5Khi được nói như vậy, Bharandu, người Kàlàmà, nói với họ Thích Mahànàma:
—Này Mahànàma, hãy nói là một.
Khi nghe nói vậy, Thế Tôn nói với họ Thích Mahànàma:
—Này Mahànàma, hãy nói là khác.
Lần thứ hai, Brahandu, người Kàlàmà nói với họ Thích Mahànàma:
—Này Mahànàma, hãy nói là một.
Lần thứ hai, Thế Tôn nói với họ Thích Mahànàma:
—Này Mahànàma, hãy nói là khác.
Lần thứ ba Brahandu, người Kàlàmà nói với họ Thích Mahànàma:
—Này Mahànàma, hãy nói là một.
Lần thứ ba, Thế Tôn nói với họ Thích Mahànàma:
—Này Mahànàma, hãy nói là khác.
TTC 6Rồi Bharandu, người Kàlàmà suy nghĩ như sau: “Trước mặt họ Thích Mahànàma có thế lực lớn này, ta bị Sa-môn Gotama nói trái ngược cho đến lần thứ ba. Vậy ta hãy rời khỏi Kapilavatthu”.
Rồi Bharandu người Kàlàmà đi ra khỏi Kapilavatthu, một sự ra đi khỏi Kapilavatthu, không bao giờ có trở lại nữa.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 3.126
- 13. Kusinārā
Bharaṇḍu Kālāma
4. Kinh Bharaṇḍu Kālāma
Ekaṁ samayaṁ bhagavā kosalesu cārikaṁ caramāno yena kapilavatthu tadavasari.
Assosi kho mahānāmo sakko: “bhagavā kira kapilavatthuṁ anuppatto”ti. Atha kho mahānāmo sakko yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitaṁ kho mahānāmaṁ sakkaṁ bhagavā etadavoca:
At one time the Buddha was wandering in the land of the Kosalans when he arrived at Kapilavatthu.
Mahānāma the Sakyan heard that he had arrived. He went up to the Buddha, bowed, and stood to one side. The Buddha said to him,
127. Một thời, Thế Tôn đang du hành ở xứ Kosala, đã đi đến Kapilavatthu. Vương tử Mahānāma dòng Sakka đã nghe rằng: “Nghe nói Thế Tôn đã đến Kapilavatthu.” Rồi vương tử Mahānāma dòng Sakka đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Thế Tôn đã nói điều này với vương tử Mahānāma dòng Sakka đang đứng một bên:
“Evaṁ, bhante”ti kho mahānāmo sakko bhagavato paṭissutvā kapilavatthuṁ pavisitvā kevalakappaṁ kapilavatthuṁ anvāhiṇḍanto nāddasa kapilavatthusmiṁ tathārūpaṁ āvasathaṁ yatthajja bhagavā ekarattiṁ vihareyya.
“Yes, sir,” replied Mahānāma. He returned to Kapilavatthu and searched all over the city, but he couldn’t see a suitable guest house for the Buddha to spend the night.
“Này Mahānāma, hãy đi, hãy tìm ở Kapilavatthu một nơi ở thích hợp để hôm nay chúng ta có thể ở lại một đêm.” “Vâng, bạch Thế Tôn.” Vương tử Mahānāma dòng Sakka đã vâng lời Thế Tôn, đi vào Kapilavatthu, đi khắp toàn bộ Kapilavatthu nhưng không tìm thấy ở Kapilavatthu một nơi ở thích hợp để hôm nay Thế Tôn có thể ở lại một đêm.
Atha kho mahānāmo sakko yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavoca: “natthi, bhante, kapilavatthusmiṁ tathārūpo āvasatho yatthajja bhagavā ekarattiṁ vihareyya. Ayaṁ, bhante, bharaṇḍu kālāmo bhagavato purāṇasabrahmacārī. Tassajja bhagavā assame ekarattiṁ viharatū”ti.
“Gaccha, mahānāma, santharaṁ paññāpehī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho mahānāmo sakko bhagavato paṭissutvā yena bharaṇḍussa kālāmassa assamo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā santharaṁ paññāpetvā udakaṁ ṭhapetvā pādānaṁ dhovanāya yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavoca: “santhato, bhante, santhāro, udakaṁ ṭhapitaṁ pādānaṁ dhovanāya. Yassadāni, bhante, bhagavā kālaṁ maññatī”ti.
Then Mahānāma went up to the Buddha, and said to him, “Sir, there’s no suitable guest house in Kapilavatthu for you to spend the night. But there is this Bharaṇḍu the Kālāma, who used to be the Buddha’s spiritual companion. Why don’t you spend the night at his hermitage?”
“Go, Mahānāma, and set out a mat.”
“Yes, sir,” replied Mahānāma. He went to Bharaṇḍu’s hermitage, where he set out a mat, and got foot-washing water ready. Then he went back to the Buddha and said to him, “The mat and foot-washing water are set out. Please, sir, go at your convenience.”
Rồi vương tử Mahānāma dòng Sakka đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã nói với Thế Tôn điều này: “Bạch Thế Tôn, ở Kapilavatthu không có nơi ở thích hợp để hôm nay Thế Tôn có thể ở lại một đêm. Bạch Thế Tôn, vị Bharaṇḍu Kālāma này là bạn đồng phạm hạnh cũ của Thế Tôn. Hôm nay, xin Thế Tôn hãy ở lại một đêm trong am thất của vị ấy.” “Này Mahānāma, hãy đi, hãy sửa soạn chỗ nghỉ.” “Vâng, bạch Thế Tôn.” Vương tử Mahānāma dòng Sakka đã vâng lời Thế Tôn, đi đến am thất của Bharaṇḍu Kālāma; sau khi đến, đã sửa soạn chỗ nghỉ, đặt nước rửa chân, rồi đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã nói với Thế Tôn điều này: “Bạch Thế Tôn, chỗ nghỉ đã được sửa soạn, nước rửa chân đã được đặt sẵn. Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy làm theo thời mà Ngài nghĩ là thích hợp.”
Atha kho bhagavā yena bharaṇḍussa kālāmassa assamo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Nisajja kho bhagavā pāde pakkhālesi.
Atha kho mahānāmassa sakkassa etadahosi: “akālo kho ajja bhagavantaṁ payirupāsituṁ. Kilanto bhagavā. Sve dānāhaṁ bhagavantaṁ payirupāsissāmī”ti bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Then the Buddha went to Bharaṇḍu’s hermitage, sat down on the seat spread out, and washed his feet.
Then it occurred to Mahānāma, “It’s too late to pay homage to the Buddha today. He’s tired. Tomorrow I’ll pay homage to the Buddha.” He bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before leaving.
Rồi Thế Tôn đi đến am thất của Bharaṇḍu Kālāma; sau khi đến, đã ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được sửa soạn. Sau khi ngồi, Thế Tôn đã rửa chân. Rồi vương tử Mahānāma dòng Sakka đã suy nghĩ thế này: “Hôm nay không phải là lúc thích hợp để hầu cận Thế Tôn. Thế Tôn đã mệt mỏi. Ngày mai ta sẽ hầu cận Thế Tôn.” Sau khi đảnh lễ Thế Tôn và đi nhiễu bên phải, ông đã ra về.
Atha kho mahānāmo sakko tassā rattiyā accayena yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho mahānāmaṁ sakkaṁ bhagavā etadavoca:
“tayo khome, mahānāma, satthāro santo saṁvijjamānā lokasmiṁ. Katame tayo? Idha, mahānāma, ekacco satthā kāmānaṁ pariññaṁ paññāpeti; na rūpānaṁ pariññaṁ paññāpeti, na vedanānaṁ pariññaṁ paññāpeti. Idha pana, mahānāma, ekacco satthā kāmānaṁ pariññaṁ paññāpeti, rūpānaṁ pariññaṁ paññāpeti; na vedanānaṁ pariññaṁ paññāpeti. Idha pana, mahānāma, ekacco satthā kāmānaṁ pariññaṁ paññāpeti, rūpānaṁ pariññaṁ paññāpeti, vedanānaṁ pariññaṁ paññāpeti. Ime kho, mahānāma, tayo satthāro santo saṁvijjamānā lokasmiṁ. Imesaṁ, mahānāma, tiṇṇaṁ satthārānaṁ ekā niṭṭhā udāhu puthu niṭṭhā”ti?
Then, when the night had passed, Mahānāma the Sakyan went up to the Buddha, and sat down to one side. The Buddha said to him:
“Mahānāma, there are these three teachers found in the world. What three? One teacher advocates the complete understanding of sensual pleasures, but not of forms or feelings. One teacher advocates the complete understanding of sensual pleasures and forms, but not of feelings. One teacher advocates the complete understanding of sensual pleasures, forms, and feelings. These are the three teachers found in the world. Do these three teachers have the same end or different ends?”
Rồi vương tử Mahānāma dòng Sakka, sau khi đêm ấy đã qua, đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã ngồi một bên. Thế Tôn đã nói điều này với vương tử Mahānāma dòng Sakka đang ngồi một bên: “Này Mahānāma, có ba vị đạo sư này hiện hữu, có mặt ở đời. Thế nào là ba? Này Mahānāma, ở đây, có vị đạo sư chế định sự liễu tri các dục; không chế định sự liễu tri các sắc, không chế định sự liễu tri các thọ. Lại nữa, này Mahānāma, ở đây, có vị đạo sư chế định sự liễu tri các dục, chế định sự liễu tri các sắc; không chế định sự liễu tri các thọ. Lại nữa, này Mahānāma, ở đây, có vị đạo sư chế định sự liễu tri các dục, chế định sự liễu tri các sắc, và chế định sự liễu tri các thọ. Này Mahānāma, đây là ba vị đạo sư hiện hữu, có mặt ở đời. ‘Này Mahānāma, ba vị đạo sư này có cùng một đích đến hay có đích đến khác nhau?’”
Evaṁ vutte, bharaṇḍu kālāmo mahānāmaṁ sakkaṁ etadavoca: “ekāti, mahānāma, vadehī”ti.
Evaṁ vutte, bhagavā mahānāmaṁ sakkaṁ etadavoca: “nānāti, mahānāma, vadehī”ti.
Dutiyampi kho bharaṇḍu kālāmo mahānāmaṁ sakkaṁ etadavoca: “ekāti, mahānāma, vadehī”ti.
Dutiyampi kho bhagavā mahānāmaṁ sakkaṁ etadavoca: “nānāti, mahānāma, vadehī”ti.
Tatiyampi kho bharaṇḍu kālāmo mahānāmaṁ sakkaṁ etadavoca: “ekāti, mahānāma, vadehī”ti.
Tatiyampi kho bhagavā mahānāmaṁ sakkaṁ etadavoca: “nānāti, mahānāma, vadehī”ti.
When he said this, Bharaṇḍu said to Mahānāma, “Say they’re the same, Mahānāma!”
The Buddha said, “Say they’re different, Mahānāma!”
For a second time, Bharaṇḍu said, “Say they’re the same, Mahānāma!”
The Buddha said, “Say they’re different, Mahānāma!”
For a third time, Bharaṇḍu said, “Say they’re the same, Mahānāma!”
The Buddha said, “Say they’re different, Mahānāma!”
Khi được nói như vậy, Bharaṇḍu Kālāma đã nói với vương tử Mahānāma dòng Sakka điều này: “Này Mahānāma, hãy nói là: ‘Giống nhau’.” Khi được nói như vậy, Thế Tôn đã nói với vương tử Mahānāma dòng Sakka điều này: “Này Mahānāma, hãy nói là: ‘Khác nhau’.” Lần thứ hai, Bharaṇḍu Kālāma cũng nói với vương tử Mahānāma dòng Sakka: “Này Mahānāma, hãy nói là: ‘Giống nhau’.” Lần thứ hai, Thế Tôn cũng nói với vương tử Mahānāma dòng Sakka: “Này Mahānāma, hãy nói là: ‘Khác nhau’.” Lần thứ ba, Bharaṇḍu Kālāma cũng nói với vương tử Mahānāma dòng Sakka: “Này Mahānāma, hãy nói là: ‘Giống nhau’.” Lần thứ ba, Thế Tôn cũng nói với vương tử Mahānāma dòng Sakka: “Này Mahānāma, hãy nói là: ‘Khác nhau’.”
Atha kho bharaṇḍu kālāmassa etadahosi: “mahesakkhassa vatamhi mahānāmassa sakkassa sammukhā samaṇena gotamena yāvatatiyaṁ apasādito. Yannūnāhaṁ kapilavatthumhā pakkameyyan”ti. Atha kho bharaṇḍu kālāmo kapilavatthumhā pakkāmi. Yaṁ kapilavatthumhā pakkāmi tathā pakkantova ahosi na puna paccāgacchīti.
Catutthaṁ.
Then it occurred to Bharaṇḍu, “The Buddha has rebuked me three times in front of this illustrious Mahānāma. Why don’t I leave Kapilavatthu?” Then Bharaṇḍu the Kālāma left Kapilavatthu, never to return.
Rồi Bharaṇḍu Kālāma đã suy nghĩ thế này: “Thật vậy, ta đã bị Sa-môn Gotama bác bỏ đến lần thứ ba ngay trước mặt vương tử Mahānāma dòng Sakka, một người có thế lực lớn. Hay là ta nên rời khỏi Kapilavatthu.” Rồi Bharaṇḍu Kālāma đã rời khỏi Kapilavatthu. Khi ông rời khỏi Kapilavatthu, ông đã ra đi như vậy và không bao giờ quay trở lại. Hết phẩm thứ tư.