- Aṅguttara Nikāya 3.125
- 13. Kusināravagga
Bản dịch
AN 3.125 — Ðiện Thờ Gotama
Gotamakacetiyasutta
Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli, tại điện thờ Gotama. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:
—Này các Tỷ-kheo, Ta thuyết pháp với thắng trí, không phải với không thắng trí. Này các Tỷ-kheo, Ta thuyết pháp với nhân duyên, không phải với không nhân duyên. Này các Tỷ-kheo, Ta thuyết pháp với thần thông, không phải với không thần thông. Này các Tỷ-kheo, do vì Ta thuyết pháp có thắng trí, không phải với không thắng trí; do vì Ta thuyết pháp có nhân duyên, không phải không có nhân duyên; do vì Ta thuyết pháp có thần thông, không phải không có thần thông, nên giáo giới cần phải làm, giảng dạy cần phải làm.
Thật là vừa đủ, này các Tỷ-kheo, để các Thầy bằng lòng. Thật là vừa đủ để các Thầy hân hoan. Thật là vừa đủ để các Thầy hoan hỷ, Chánh Ðẳng Giác là Thế Tôn! Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, khéo hành trì là chúng Tăng!
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ lời Thế Tôn giảng. Trong khi lời thuyết giảng này được nói lên, một ngàn thế giới đều rung động.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 3.125
- 13. At Kusinārā
The Gotamaka Shrine
3. Kinh Gotamakacetiya (Tháp Miếu Gotamaka)
Ekaṁ samayaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati gotamake cetiye. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
At one time the Buddha was staying near Vesālī, at the Gotamaka Shrine. There the Buddha addressed the mendicants, “Mendicants!”
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
126. Một thời, Thế Tôn trú ở Vesālī, tại tháp miếu Gotamaka. Tại đấy, Thế Tôn gọi các tỳ khưu: ‘Này các tỳ khưu’. ‘Bạch Thế Tôn’, các tỳ khưu ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này:
“Abhiññāyāhaṁ, bhikkhave, dhammaṁ desemi, no anabhiññāya. Sanidānāhaṁ, bhikkhave, dhammaṁ desemi, no anidānaṁ. Sappāṭihāriyāhaṁ, bhikkhave, dhammaṁ desemi, no appāṭihāriyaṁ. Tassa mayhaṁ, bhikkhave, abhiññāya dhammaṁ desayato no anabhiññāya, sanidānaṁ dhammaṁ desayato no anidānaṁ, sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desayato no appāṭihāriyaṁ, karaṇīyo ovādo, karaṇīyā anusāsanī. Alañca pana vo, bhikkhave, tuṭṭhiyā, alaṁ attamanatāya, alaṁ somanassāya: ‘sammāsambuddho bhagavā, svākkhāto dhammo, suppaṭipanno saṅgho’”ti.
“Mendicants, I teach based on direct knowledge, not without direct knowledge. I teach with reasons, not without them. I teach with a demonstrable basis, not without it. Since this is so, you should follow my advice and instruction. This is enough for you to feel joyful, delighted, and happy: ‘The Blessed One is a fully awakened Buddha! The teaching is well explained! The Saṅgha is practicing well!’”
"Này các Tỳ khưu, Ta thuyết Pháp với thắng trí, không phải không có thắng trí. Này các Tỳ khưu, Ta thuyết Pháp có nhân duyên, không phải không có nhân duyên. Này các Tỳ khưu, Ta thuyết Pháp có hiệu nghiệm, không phải không có hiệu nghiệm. Này các Tỳ khưu, đối với Ta, người thuyết Pháp với thắng trí, không phải không có thắng trí; người thuyết Pháp có nhân duyên, không phải không có nhân duyên; người thuyết Pháp có hiệu nghiệm, không phải không có hiệu nghiệm, thì lời giáo huấn cần phải được thực hiện, lời chỉ dạy cần phải được thực hiện. Và này các Tỳ khưu, chỉ cần các ngươi hoan hỷ, chỉ cần các ngươi mãn ý, chỉ cần các ngươi vui mừng rằng: ‘Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được khéo thuyết, Tăng chúng là bậc thiện hạnh’."
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti. Imasmiñca pana veyyākaraṇasmiṁ bhaññamāne sahassī lokadhātu akampitthāti.
Tatiyaṁ.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said. And while this discourse was being spoken, the thousandfold galaxy shook.
Thế Tôn đã nói lời này. Các Tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn. Và khi bài pháp văn xuôi này được thuyết giảng, một ngàn thế giới đã rung chuyển. Hết phẩm thứ ba.