- Aṅguttara Nikāya 3.112
- 11. Sambodhavagga
Bản dịch
AN 3.112 — Dutiyanidānasutta
Dutiyanidānasutta
Nhân Duyên (3)
TTC 1—Có ba nhân duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến các nghiệp tập khởi. Thế nào là ba?
Này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham trong quá khứ; ước muốn khởi lên. Này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham trong tương lai; ước muốn khởi lên. Này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham trong hiện tại; ước muốn khởi lên.
TTC 2Như thế nào, này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong quá khứ, ước muốn khởi lên?
Này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham trong quá khứ; với tâm, nó tầm cầu, nó tư sát. Do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong quá khứ; với tâm, nó tầm cầu, nó tư sát, nên ước muốn khởi sanh. Vì có ước muốn, nên nó bị liên hệ với các pháp ấy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng đó là một kiết sử, vì tâm ấy có tham ái. Như vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong quá khứ, ước muốn sanh khởi.
TTC 3Như thế nào, này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong tương lai, ước muốn sanh khởi ?
Này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham trong tương lai; với tâm, nó tầm cầu, nó tư sát. Do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong tương lai; với tâm, nó tầm cầu, nó tư sát, nên ước muốn khởi sanh. Vì có ước muốn, nên nó bị liên hệ với các pháp ấy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng đó là một kiết sử, vì tâm ấy có tham ái. Như vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong tương lai, ước muốn sanh khởi.
TTC 4Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong hiện tại, ước muốn khởi sanh?
Này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham trong hiện tại; với tâm, nó tầm cầu, nó tư sát. Do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong hiện tại; với tâm, nó tầm cầu, nó tư sát, nên ước muốn khởi sanh. Vì có ước muốn, nên nó bị liên hệ với pháp ấy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng đó là một kiết sử, vì tâm ấy có tham ái. Như vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong hiện tại, ước muốn sanh khởi.
Nhân Duyên (4)
TTC 5—Có ba nhân duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến các nghiệp tập khởi. Thế nào là ba?
Này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham trong quá khứ; ước muốn không khởi sanh. Này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham trong tương lai; ước muốn không khởi sanh. Này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham trong hiện tại; ước muốn không sanh khởi.
TTC 6Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong quá khứ, ước muốn không sanh khởi?
Có người rõ biết, này các Tỷ-kheo, quả dị thục trong tương lai của các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham trong quá khứ. Sau khi biết rõ quả dị thục trong tương lai, người ấy tránh né quả dị thục ấy. Sau khi tránh né quả dị thục ấy, sau khi tâm người ấy không còn tham đắm; với trí tuệ, vị ấy thể nhập và thấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong quá khứ, ước muốn không sanh khởi.
TTC 7Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong tương lai, ước muốn không sanh khởi?
Có người rõ biết, này các Tỷ-kheo, quả dị thục trong tương lai của các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham trong tương lai. Sau khi biết rõ quả dị thục trong tương lai, người ấy tránh né quả dị thục ấy. Sau khi tránh né quả dị thục ấy, sau khi tâm người ấy không còn tham đắm; với trí tuệ, người ấy thể nhập và thấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong tương lai, ước muốn không sanh khởi.
TTC 8Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong hiện tại, ước muốn không sanh khởi?
Có người rõ biết, này các Tỷ-kheo, quả dị thục trong tương lai của các pháp làm chỗ y xứ cho dục tham trong hiện tại. Sau khi biết rõ quả dị thục trong tương lai, người ấy tránh né quả dị thục ấy. Sau khi tránh né quả dị thục ấy, sau khi tâm người ấy không còn tham đắm; với trí tuệ, người ấy thể nhập và thấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên các pháp làm chỗ ý xứ cho dục tham trong hiện tại, ước muốn không sanh khởi.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 3.112
- 11. Awakening
Sources (2nd)
10. Kinh Nhân Duyên Thứ Hai
“Tīṇimāni, bhikkhave, nidānāni kammānaṁ samudayāya. Katamāni tīṇi?
Atīte, bhikkhave, chandarāgaṭṭhāniye dhamme ārabbha chando jāyati; anāgate, bhikkhave, chandarāgaṭṭhāniye dhamme ārabbha chando jāyati; paccuppanne, bhikkhave, chandarāgaṭṭhāniye dhamme ārabbha chando jāyati. Kathañca, bhikkhave, atīte chandarāgaṭṭhāniye dhamme ārabbha chando jāyati? Atīte, bhikkhave, chandarāgaṭṭhāniye dhamme ārabbha cetasā anuvitakketi anuvicāreti. Tassa atīte chandarāgaṭṭhāniye dhamme ārabbha cetasā anuvitakkayato anuvicārayato chando jāyati. Chandajāto tehi dhammehi saṁyutto hoti. Etamahaṁ, bhikkhave, saṁyojanaṁ vadāmi yo cetaso sārāgo. Evaṁ kho, bhikkhave, atīte chandarāgaṭṭhāniye dhamme ārabbha chando jāyati.
“Mendicants, there are these three sources that give rise to deeds. What three?
Desire comes up for things that stimulate desire and greed in the past, future, or present. And how does desire come up for things that stimulate desire and greed in the past, future, or present? In your heart you think about and consider things that stimulate desire and greed in the past, future, or present. When you do this, desire comes up, and you get attached to those things. This lust in the heart is what I call a fetter. That’s how desire comes up for things that stimulate desire and greed in the past, future, or present.
113. “Này các Tỳ khưu, có ba nhân duyên này cho sự phát sanh của các nghiệp. Thế nào là ba? Này các Tỳ khưu, do nương vào các pháp ở quá khứ là cơ sở của dục và tham, dục được sanh khởi; này các Tỳ khưu, do nương vào các pháp ở vị lai là cơ sở của dục và tham, dục được sanh khởi; này các Tỳ khưu, do nương vào các pháp ở hiện tại là cơ sở của dục và tham, dục được sanh khởi. Và này các Tỳ khưu, thế nào là do nương vào các pháp ở quá khứ là cơ sở của dục và tham, dục được sanh khởi? Này các Tỳ khưu, do nương vào các pháp ở quá khứ là cơ sở của dục và tham, vị ấy tầm cầu và tứ sát bằng tâm. Đối với vị ấy, do nương vào các pháp ở quá khứ là cơ sở của dục và tham mà tầm cầu và tứ sát bằng tâm, dục được sanh khởi. Khi dục đã sanh khởi, vị ấy bị trói buộc với các pháp ấy. Này các Tỳ khưu, Ta gọi sự tham ái mãnh liệt của tâm này là kiết sử. Này các Tỳ khưu, chính là như vậy, do nương vào các pháp ở quá khứ là cơ sở của dục và tham, dục được sanh khởi.”
Kathañca, bhikkhave, anāgate chandarāgaṭṭhāniye dhamme ārabbha chando jāyati? Anāgate, bhikkhave, chandarāgaṭṭhāniye dhamme ārabbha cetasā anuvitakketi anuvicāreti. Tassa anāgate chandarāgaṭṭhāniye dhamme ārabbha cetasā anuvitakkayato anuvicārayato chando jāyati. Chandajāto tehi dhammehi saṁyutto hoti. Etamahaṁ, bhikkhave, saṁyojanaṁ vadāmi yo cetaso sārāgo. Evaṁ kho, bhikkhave, anāgate chandarāgaṭṭhāniye dhamme ārabbha chando jāyati.
“Và này các Tỳ khưu, thế nào là do nương vào các pháp ở vị lai là cơ sở của dục và tham, dục được sanh khởi? Này các Tỳ khưu, do nương vào các pháp ở vị lai là cơ sở của dục và tham, vị ấy tầm cầu và tứ sát bằng tâm. Đối với vị ấy, do nương vào các pháp ở vị lai là cơ sở của dục và tham mà tầm cầu và tứ sát bằng tâm, dục được sanh khởi. Khi dục đã sanh khởi, vị ấy bị trói buộc với các pháp ấy. Này các Tỳ khưu, Ta gọi sự tham ái mãnh liệt của tâm này là kiết sử. Này các Tỳ khưu, chính là như vậy, do nương vào các pháp ở vị lai là cơ sở của dục và tham, dục được sanh khởi.”
Kathañca, bhikkhave, paccuppanne chandarāgaṭṭhāniye dhamme ārabbha chando jāyati? Paccuppanne, bhikkhave, chandarāgaṭṭhāniye dhamme ārabbha cetasā anuvitakketi anuvicāreti. Tassa paccuppanne chandarāgaṭṭhāniye dhamme ārabbha cetasā anuvitakkayato anuvicārayato chando jāyati. Chandajāto tehi dhammehi saṁyutto hoti. Etamahaṁ, bhikkhave, saṁyojanaṁ vadāmi yo cetaso sārāgo. Evaṁ kho, bhikkhave, paccuppanne chandarāgaṭṭhāniye dhamme ārabbha chando jāyati. Imāni kho, bhikkhave, tīṇi nidānāni kammānaṁ samudayāya.
These are three sources that give rise to deeds.
“Này các Tỳ khưu, do duyên vào các pháp ở hiện tại là nền tảng của dục tham, dục ái sanh khởi như thế nào? Này các Tỳ khưu, do duyên vào các pháp ở hiện tại là nền tảng của dục tham, vị ấy suy tầm, tư sát bằng tâm. Đối với vị ấy, do duyên vào các pháp ở hiện tại là nền tảng của dục tham, do suy tầm, tư sát bằng tâm, dục ái sanh khởi. Khi dục ái đã sanh, vị ấy bị trói buộc bởi các pháp ấy. Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng sự tham ái của tâm chính là kiết sử. Này các Tỳ khưu, chính do như vậy, do duyên vào các pháp ở hiện tại là nền tảng của dục tham, dục ái sanh khởi. Này các Tỳ khưu, đây chính là ba nguyên nhân cho sự sanh khởi của các nghiệp.”
Tīṇimāni, bhikkhave, nidānāni kammānaṁ samudayāya. Katamāni tīṇi? Atīte, bhikkhave, chandarāgaṭṭhāniye dhamme ārabbha chando na jāyati; anāgate, bhikkhave, chandarāgaṭṭhāniye dhamme ārabbha chando na jāyati; paccuppanne, bhikkhave, chandarāgaṭṭhāniye dhamme ārabbha chando na jāyati. Kathañca, bhikkhave, atīte chandarāgaṭṭhāniye dhamme ārabbha chando na jāyati? Atītānaṁ, bhikkhave, chandarāgaṭṭhāniyānaṁ dhammānaṁ āyatiṁ vipākaṁ pajānāti. Āyatiṁ vipākaṁ viditvā tadabhinivatteti. Tadabhinivattetvā cetasā abhinivijjhitvā paññāya ativijjha passati.
There are these three sources that give rise to deeds. What three? Desire doesn’t come up for things that stimulate desire and greed in the past, future, or present. And how does desire not come up for things that stimulate desire and greed in the past, future, or present? You understand the future result of things that stimulate desire and greed in the past, future, or present. When you know this, you grow disillusioned, your heart becomes dispassionate, and you see it with penetrating wisdom.
“Này các Tỳ khưu, có ba nguyên nhân này cho sự sanh khởi của các nghiệp. Những gì là ba? Này các Tỳ khưu, do duyên vào các pháp ở quá khứ là nền tảng của dục tham, dục ái không sanh khởi; này các Tỳ khưu, do duyên vào các pháp ở vị lai là nền tảng của dục tham, dục ái không sanh khởi; này các Tỳ khưu, do duyên vào các pháp ở hiện tại là nền tảng của dục tham, dục ái không sanh khởi. Và này các Tỳ khưu, do duyên vào các pháp ở quá khứ là nền tảng của dục tham, dục ái không sanh khởi như thế nào? Này các Tỳ khưu, vị ấy biết rõ quả dị thục trong tương lai của các pháp ở quá khứ là nền tảng của dục tham. Sau khi biết rõ quả dị thục trong tương lai, vị ấy loại trừ nó. Sau khi đã loại trừ nó, sau khi đã thâm nhập bằng tâm, vị ấy thấy bằng cách thấu suốt với trí tuệ. Này các Tỳ khưu, chính do như vậy, do duyên vào các pháp ở quá khứ là nền tảng của dục tham, dục ái không sanh khởi.”
Kathañca, bhikkhave, anāgate chandarāgaṭṭhāniye dhamme ārabbha chando na jāyati? Anāgatānaṁ, bhikkhave, chandarāgaṭṭhāniyānaṁ dhammānaṁ āyatiṁ vipākaṁ pajānāti. Āyatiṁ vipākaṁ viditvā tadabhinivatteti. Tadabhinivattetvā cetasā abhinivijjhitvā paññāya ativijjha passati. Evaṁ kho, bhikkhave, anāgate chandarāgaṭṭhāniye dhamme ārabbha chando na jāyati.
“Và này các Tỳ khưu, do duyên vào các pháp ở vị lai là nền tảng của dục tham, dục ái không sanh khởi như thế nào? Này các Tỳ khưu, vị ấy biết rõ quả dị thục trong tương lai của các pháp ở vị lai là nền tảng của dục tham. Sau khi biết rõ quả dị thục trong tương lai, vị ấy loại trừ nó. Sau khi đã loại trừ nó, sau khi đã thâm nhập bằng tâm, vị ấy thấy bằng cách thấu suốt với trí tuệ. Này các Tỳ khưu, chính do như vậy, do duyên vào các pháp ở vị lai là nền tảng của dục tham, dục ái không sanh khởi.”
Kathañca, bhikkhave, paccuppanne chandarāgaṭṭhāniye dhamme ārabbha chando na jāyati? Paccuppannānaṁ, bhikkhave, chandarāgaṭṭhāniyānaṁ dhammānaṁ āyatiṁ vipākaṁ pajānāti, āyatiṁ vipākaṁ viditvā tadabhinivatteti, tadabhinivattetvā cetasā abhinivijjhitvā paññāya ativijjha passati. Evaṁ kho, bhikkhave, paccuppanne chandarāgaṭṭhāniye dhamme ārabbha chando na jāyati. Imāni kho, bhikkhave, tīṇi nidānāni kammānaṁ samudayāyā”ti.
Dasamaṁ.
These are three sources that give rise to deeds.”
“Và này các Tỳ khưu, do duyên vào các pháp ở hiện tại là nền tảng của dục tham, dục ái không sanh khởi như thế nào? Này các Tỳ khưu, vị ấy biết rõ quả dị thục trong tương lai của các pháp ở hiện tại là nền tảng của dục tham, sau khi biết rõ quả dị thục trong tương lai, vị ấy loại trừ nó, sau khi đã loại trừ nó, sau khi đã thâm nhập bằng tâm, vị ấy thấy bằng cách thấu suốt với trí tuệ. Này các Tỳ khưu, chính do như vậy, do duyên vào các pháp ở hiện tại là nền tảng của dục tham, dục ái không sanh khởi. Này các Tỳ khưu, đây chính là ba nguyên nhân cho sự đoạn tận của các nghiệp.” (Kinh) thứ mười.
Sambodhavaggo paṭhamo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Giác Ngộ, thứ nhất.
Pubbeva duve assādā, Samaṇo ruṇṇapañcamaṁ; Atitti dve ca vuttāni, Nidānāni apare duveti.
Trước tiên, hai Vị Ngọt, Sa Môn, thứ năm là Khóc Lóc; Không Thỏa Mãn, hai kinh được thuyết giảng, và hai kinh Nguyên Nhân khác.