- Aṅguttara Nikāya 3.111
- 11. Sambodhavagga
Bản dịch
AN 3.111 — Paṭhamanidānasutta
Paṭhamanidānasutta
Ba Nhân Duyên (1)
—Có ba nhân duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến các nghiệp tập khởi. Thế nào là ba?
Tham là nhân duyên khiến các nghiệp tập khởi, sân là nhân duyên khiến các nghiệp tập khởi, si là nhân duyên khiến các nghiệp tập khởi.
Phàm nghiệp nào do tham tác thành, này các Tỷ-kheo, sanh ra từ tham, do tham làm nhân duyên, do tham tập khởi, nghiệp ấy là bất thiện, nghiệp ấy có phạm tội, nghiệp ấy có khổ dị thục, nghiệp ấy làm nghiệp tập khởi, nghiệp ấy không đưa đến nghiệp đoạn diệt. Phàm nghiệp nào do sân tác thành … Phàm nghiệp nào do si tác thành, này các Tỷ-kheo, sanh ra từ si, do si làm nhân duyên, do si tập khởi, nghiệp ấy là bất thiện, nghiệp ấy có phạm tội, nghiệp ấy có khổ dị thục, nghiệp ấy làm nghiệp tập khởi, nghiệp ấy không đưa đến nghiệp đoạn diệt. Ba pháp này, này các Tỷ-kheo, là ba nhân duyên khiến các nghiệp tập khởi.
Ba Nhân Duyên (2)
—Có ba nhân duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến các nghiệp tập khởi. Thế nào là ba?
Vô tham là nhân duyên khiến các nghiệp tập khởi, vô sân là nhân duyên khiến các nghiệp tập khởi, vô si là nhân duyên khiến các nghiệp tập khởi.
Phàm nghiệp nào do vô tham tác thành, này các Tỷ-kheo, sanh ra từ vô tham, do vô tham làm nhân duyên, do vô tham tập khởi, nghiệp ấy là thiện, nghiệp ấy không có phạm tội, nghiệp ấy có lạc dị thục, nghiệp ấy đưa đến nghiệp đoạn diệt, nghiệp ấy không đưa đến nghiệp tập khởi. Phàm nghiệp nào do vô sân tác thành … Phàm nghiệp nào do vô si tác thành, này các Tỷ-kheo, sanh ra từ vô si, do vô si làm nhân duyên, do vô si tập khởi, nghiệp ấy là thiện, nghiệp ấy không có phạm tội, nghiệp ấy có lạc dị thục, nghiệp ấy không đưa đến nghiệp tập khởi, nghiệp ấy đưa đến nghiệp đoạn diệt. Ba pháp này, này các Tỷ-kheo, là ba nhân duyên khiến các nghiệp tập khởi.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 3.111
- 11. Awakening
Sources (1st)
9. Kinh Nhân Duyên Thứ Nhất
“Tīṇimāni, bhikkhave, nidānāni kammānaṁ samudayāya. Katamāni tīṇi? Lobho nidānaṁ kammānaṁ samudayāya, doso nidānaṁ kammānaṁ samudayāya, moho nidānaṁ kammānaṁ samudayāya. Yaṁ, bhikkhave, lobhapakataṁ kammaṁ lobhajaṁ lobhanidānaṁ lobhasamudayaṁ, taṁ kammaṁ akusalaṁ taṁ kammaṁ sāvajjaṁ taṁ kammaṁ dukkhavipākaṁ, taṁ kammaṁ kammasamudayāya saṁvattati, na taṁ kammaṁ kammanirodhāya saṁvattati. Yaṁ, bhikkhave, dosapakataṁ kammaṁ dosajaṁ dosanidānaṁ dosasamudayaṁ, taṁ kammaṁ akusalaṁ taṁ kammaṁ sāvajjaṁ taṁ kammaṁ dukkhavipākaṁ, taṁ kammaṁ kammasamudayāya saṁvattati, na taṁ kammaṁ kammanirodhāya saṁvattati. Yaṁ, bhikkhave, mohapakataṁ kammaṁ mohajaṁ mohanidānaṁ mohasamudayaṁ, taṁ kammaṁ akusalaṁ taṁ kammaṁ sāvajjaṁ taṁ kammaṁ dukkhavipākaṁ, taṁ kammaṁ kammasamudayāya saṁvattati, na taṁ kammaṁ kammanirodhāya saṁvattati. Imāni kho, bhikkhave, tīṇi nidānāni kammānaṁ samudayāya.
“Mendicants, there are these three sources that give rise to deeds. What three? Greed, hate, and delusion are sources that give rise to deeds. Any deed that emerges from greed, hate, or delusion—born, sourced, and originated from greed, hate, or delusion—is unskillful, blameworthy, results in suffering, and leads to the creation of more deeds, not their cessation. These are three sources that give rise to deeds.
112. “Này các Tỳ khưu, có ba nhân duyên này cho sự phát sanh của các nghiệp. Thế nào là ba? Tham là nhân duyên cho sự phát sanh của các nghiệp, sân là nhân duyên cho sự phát sanh của các nghiệp, si là nhân duyên cho sự phát sanh của các nghiệp. Này các Tỳ khưu, nghiệp nào được thực hiện do tham, sanh từ tham, có tham làm nhân duyên, có tham làm nguồn gốc phát sanh, nghiệp ấy là bất thiện, nghiệp ấy là có tội lỗi, nghiệp ấy có quả khổ, nghiệp ấy dẫn đến sự phát sanh của nghiệp, nghiệp ấy không dẫn đến sự đoạn diệt của nghiệp. Này các Tỳ khưu, nghiệp nào được thực hiện do sân, sanh từ sân, có sân làm nhân duyên, có sân làm nguồn gốc phát sanh, nghiệp ấy là bất thiện, nghiệp ấy là có tội lỗi, nghiệp ấy có quả khổ, nghiệp ấy dẫn đến sự phát sanh của nghiệp, nghiệp ấy không dẫn đến sự đoạn diệt của nghiệp. Này các Tỳ khưu, nghiệp nào được thực hiện do si, sanh từ si, có si làm nhân duyên, có si làm nguồn gốc phát sanh, nghiệp ấy là bất thiện, nghiệp ấy là có tội lỗi, nghiệp ấy có quả khổ, nghiệp ấy dẫn đến sự phát sanh của nghiệp, nghiệp ấy không dẫn đến sự đoạn diệt của nghiệp. Này các Tỳ khưu, đây là ba nhân duyên cho sự phát sanh của các nghiệp.”
Tīṇimāni, bhikkhave, nidānāni kammānaṁ samudayāya. Katamāni tīṇi? Alobho nidānaṁ kammānaṁ samudayāya, adoso nidānaṁ kammānaṁ samudayāya, amoho nidānaṁ kammānaṁ samudayāya. Yaṁ, bhikkhave, alobhapakataṁ kammaṁ alobhajaṁ alobhanidānaṁ alobhasamudayaṁ, taṁ kammaṁ kusalaṁ taṁ kammaṁ anavajjaṁ taṁ kammaṁ sukhavipākaṁ, taṁ kammaṁ kammanirodhāya saṁvattati, na taṁ kammaṁ kammasamudayāya saṁvattati. Yaṁ, bhikkhave, adosapakataṁ kammaṁ adosajaṁ adosanidānaṁ adosasamudayaṁ, taṁ kammaṁ kusalaṁ taṁ kammaṁ anavajjaṁ taṁ kammaṁ sukhavipākaṁ, taṁ kammaṁ kammanirodhāya saṁvattati, na taṁ kammaṁ kammasamudayāya saṁvattati. Yaṁ, bhikkhave, amohapakataṁ kammaṁ amohajaṁ amohanidānaṁ amohasamudayaṁ, taṁ kammaṁ kusalaṁ taṁ kammaṁ anavajjaṁ taṁ kammaṁ sukhavipākaṁ, taṁ kammaṁ kammanirodhāya saṁvattati, na taṁ kammaṁ kammasamudayāya saṁvattati. Imāni kho, bhikkhave, tīṇi nidānāni kammānaṁ samudayāyā”ti.
Navamaṁ.
There are these three sources that give rise to deeds. What three? Contentment, love, and understanding are sources that give rise to deeds. Any deed that emerges from contentment, love, or understanding—born, sourced, and originated from contentment, love, or understanding—is skillful, blameless, results in happiness, and leads to the cessation of more deeds, not their creation. These are three sources that give rise to deeds.”
“Này các Tỳ khưu, có ba nhân duyên này cho sự phát sanh của các nghiệp. Thế nào là ba? Vô tham là nhân duyên cho sự phát sanh của các nghiệp, vô sân là nhân duyên cho sự phát sanh của các nghiệp, vô si là nhân duyên cho sự phát sanh của các nghiệp. Này các Tỳ khưu, nghiệp nào được thực hiện do vô tham, sanh từ vô tham, có vô tham làm nhân duyên, có vô tham làm nguồn gốc phát sanh, nghiệp ấy là thiện, nghiệp ấy là không có tội lỗi, nghiệp ấy có quả vui, nghiệp ấy dẫn đến sự đoạn diệt của nghiệp, nghiệp ấy không dẫn đến sự phát sanh của nghiệp. Này các Tỳ khưu, nghiệp nào được thực hiện do vô sân, sanh từ vô sân, có vô sân làm nhân duyên, có vô sân làm nguồn gốc phát sanh, nghiệp ấy là thiện, nghiệp ấy là không có tội lỗi, nghiệp ấy có quả vui, nghiệp ấy dẫn đến sự đoạn diệt của nghiệp, nghiệp ấy không dẫn đến sự phát sanh của nghiệp. Này các Tỳ khưu, nghiệp nào được thực hiện do vô si, sanh từ vô si, có vô si làm nhân duyên, có vô si làm nguồn gốc phát sanh, nghiệp ấy là thiện, nghiệp ấy là không có tội lỗi, nghiệp ấy có quả vui, nghiệp ấy dẫn đến sự đoạn diệt của nghiệp, nghiệp ấy không dẫn đến sự phát sanh của nghiệp. Này các Tỳ khưu, đây là ba nhân duyên cho sự phát sanh của các nghiệp.” (Kinh) thứ chín.