1. Vajjasutta
Evaṁ me sutaṁ—ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
Bản dịch
1. Kammakaraṇavagga
1—Như vầy tôi nghe.
Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Thắng lâm, khu vườn ông Anàthapindika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:—Này các Tỷ-kheo.—Bạch Thế Tôn. Các tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế tôn nói như sau:
—Có hai loại tội này, này các Tỷ-kheo. Thế nào là hai? Tội có kết quả ngay trong hiện tại, và tội có kết quả trong đời sau. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tội có kết quả ngay trong hiện tại? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người thấy vua chúa bắt được người ăn trộm, kẻ vô loại, liền áp dụng nhiều hình phạt sai khác. Họ đánh bằng roi, họ đánh bằng gậy, họ đánh bằng côn, họ chặt tay, họ chặt chân, họ chặt tay chân, họ xẻo tai, họ cắt mũi, họ xẻo tai cắt mũi. Họ dùng hình phạt vạc dầu, họ dùng hình phạt bối đầu hình (xẻo đỉnh đầu thành hình con sò), họ dùng hình phạt La-hầu khẩu hình … hỏa man hình (lấy lửa đốt thành vòng hoa) … đốt tay … khu hành hình (lấy rơm bện lại rồi siết chặt) … bì y hình (lấy vỏ cây làm áo) … linh dương hình (hình phạt con dê núi) … câu nhục hình (lấy câu móc vào thịt) … tiền hình (cắt thịt thành đồng tiền) … khối chắp hình … chuyển hình … cao đạp đài … Họ tưới bằng dầu sôi, họ cho chó ăn, họ đóng cọc những người sống, họ lấy gươm chặt đầu.
Người thấy vậy suy nghĩ như sau: “Do nhân các ác nghiệp như vậy, vua chúa bắt được kẽ ăn trộm, kẻ vô loại, áp dụng nhiều hình phạt sai khác. Họ đánh bằng roi … họ lấy gươm chặt đầu. Nếu ta làm các ác nghiệp như vậy, vua sẽ bắt ta và áp dụng các hình phạt như vậy”. Người ấy sợ hãi tội phạm ngay trong hiện tại, không có cướp phá tài sản của những người khác. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tội có kết quả ngay trong hiện tại.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tội có kết quả trong đời sau? Ở đây, có người suy xét như sau: “Quả dị thục của thân làm ác trong đời sau là ác và khổ. Quả dị thục của miệng nói ác trong đời sau là ác và khổ. Quả dị thục của ý nghĩ ác trong đời sau là ác và khổ. Nếu thân ta làm ác, nói lời ác, nghĩ việc ác, sao ta lại không có thể, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục”. Người ấy sợ hãi tội có kết quả trong đời sau, từ bỏ thân làm ác, tu tập thân làm thiện, từ bỏ miệng nói ác, tu tập miệng nói thiện, từ bỏ ý nghĩ ác, tu tập ý nghĩ thiện, và cư xử tự ngã hoàn toàn thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tội có kết quả trong đời sau.
Này các Tỷ-kheo, trên đây là hai loại tội. Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau: “Chúng ta phải sợ hãi đối với tội có kết quả hiện tại. Chúng ta phải sợ hãi đối với tội có kết quả trong đời sau. Chúng ta phải tránh xa các tội. Chúng ta phải thấy rõ sự nguy hiểm của các tội”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập. Ðối với ai tránh xa các tội, này các Tỷ-kheo, đối với ai thấy rõ sự nguy hiểm của các tội, thời được chờ đợi rằng người ấy sẽ được giải thoát tất cả tội.
2Có hai sự tinh cần này rất khó thực hiện ở đời. Thế nào là hai? Sự tinh cần của các gia chủ ở nhà với mục đích bố thí các vật dụng như đồ ăn khất thực, các sàng tọa, các dược phẩm trị bệnh, và sự tinh cần của các người xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, với mục đích từ bỏ tất cả sanh y. Hai sự tinh cần này, này các Tỷ kheo, rất khó thực hiện ở đời.
Trong hai tinh cần này, này các Tỷ-kheo, tối thắng là tinh cần với mục đích từ bỏ tất cả sanh y. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập như sau: “Ta sẽ cố gắng tinh cần để từ bỏ tất cả sanh y”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.
3Có hai pháp này, này các Tỷ-kheo, làm cho nung nấu. Thế nào là hai? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người thân làm ác, thân không làm thiện, miệng nói lời ác, miệng không nói thiện, ý nghĩ ác, ý không nghĩ thiện. Vị ấy bị nung nấu với ý nghĩ: “Thân ta đã làm ác”. Vị ấy bị nung nấu với ý nghĩ: “Thân ta đã không làm thiện”. Vị ấy bị nung nấu với ý nghĩ: “Miệng ta đã nói lời ác”. Vị ấy bị nung nấu với ý nghĩ: “Miệng ta đã không nói lời thiện”. Vị ấy bị nung nấu với ý nghĩ: “Ý ta đã nghĩ ác”. Vị ấy bị nung nấu với ý nghĩ: “Ý ta đã không nghĩ thiện”. Có hai pháp này, này các Tỷ-kheo, làm cho nung nấu.
4Có hai pháp này, này các Tỷ-kheo, không làm cho nung nấu. Thế nào là hai? Ở đây, có người thân làm thiện, thân không làm ác, miệng nói thiện, miệng không nói ác, ý nghĩ thiện, ý không nghĩ ác. Vị ấy không bị nung nấu với ý nghĩ: “Thân ta đã làm thiện”. Vị ấy không bị nung nấu với ý nghĩ: “Thân ta đã không làm ác”. Vị ấy không bị nung nấu với ý nghĩ: “Miệng ta đã nói lời thiện”. Vị ấy không bị nung nấu với ý nghĩ: “Miệng ta đã không nói lời ác”. Vị ấy không bị nung nấu với ý nghĩ: “Ý ta đã nghĩ thiện”. Vị ấy không bị nung nấu với ý nghĩ: “Ý ta đã không nghĩ ác”. Có hai pháp này, này các Tỷ-kheo, không làm cho nung nấu.
5Có hai pháp này, này các Tỷ-kheo, đã học được, biết được. Thế nào là hai? Không biết đủ đối với thiện pháp và không có thối chuyển đối với tinh cần. Không có thối chuyển, này các Tỷ-kheo, ta cố gắng như sau: “Ta sẵn sàng, dầu chỉ còn da, gân và xương, dầu thịt và máu trên thân bị khô héo, mong rằng sẽ có tinh tấn kiên trì đế chứng đắc những gì chưa chứng đắc, nhờ sức mạnh của người, nhờ tinh tấn của người, nhờ cần dõng của người. Ta nhờ không phóng dật, chứng được Chánh Giác. Nhờ không phóng dật, chứng được Vô thượng an ổn khỏi các khổ ách”. Và này các Tỷ-kheo, nếu các Thầy không có thối chuyển, cố gắng như sau: “Ta sẵn sàng, dầu chỉ còn da, gân và xương, dầu thịt và máu trên thân bị khô héo, mong rằng sẽ có tinh tấn kiên trì đế chứng đắc những gì chưa chứng đắc, nhờ sức mạnh của người, nhờ tinh tấn của người, nhờ cần dõng của người”. Thời không bao lâu, này các Tỷ-kheo, các Thầy sẽ đạt được mục đích mà các Thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: Ðó chính là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, ngay trong hiện tại, các Thầy với thắng trí, tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập như sau: “Không có thối chuyển, chúng ta cố gắng, chúng ta sẵn sàng, dầu chỉ còn da, gân và xương, dầu thịt và máu trên thân bị khô héo, mong rằng sẽ có tinh tấn kiên trì đế chứng đắc những gì chưa chứng đắc, nhờ sức mạnh của người, nhờ tinh tấn của người, nhờ cần dõng của người”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.
6Có hai pháp này, này các Tỷ-kheo, Thế nào là hai? Thấy vị ngọt trong các pháp có thể khởi lên kiết sử. Và thấy nhàm chán trong các pháp có thể khởi lên kiết sử. Ai sống thấy vị ngọt trong các pháp có thể khởi lên kiết sử, này các Tỷ-kheo, tham không đoạn tận, sân không đoạn tận, si không đoạn tận. Do tham không đoạn tận, sân không đoạn tận, si không đoạn tận, nên không giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng người ấy không giải thoát khỏi khổ đau. Ai sống thấy nhàm chán trong các pháp có thể khởi lên kiết sử, này các Tỷ-kheo, tham được đoạn tận, sân được đoạn tận, si được đoạn tận. Do tham được đoạn tận, sân được đoạn tận, si được đoạn tận, nên được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng người ấy giải thoát khỏi khổ đau. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai pháp.
7Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, là pháp đen. Thế nào là hai? Không tàm và không quý. Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai pháp đen.
8Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, là pháp trắng. Thế nào là hai? Tàm và quý. Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai pháp trắng.
9Hai pháp trắng này, này các Tỷ-kheo, che chở cho thế giới. Thế nào là hai? Tàm và quý. Nếu hai pháp trắng này, không che chở cho thế giới, thời không thể chỉ được đây là mẹ hay là em, chị của mẹ, hay đây là vợ của anh hay em của mẹ, hay đây là vợ của Thầy hay đây là vợ của các vị tôn trưởng. Và thế giới sẽ đi đến hỗn loạn như giữa các loài dê, loài gà vịt, loài heo, loài chó, loài dã can. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, có hai pháp trắng này che chở cho thế giới, nên mới có thể chỉ được đây là mẹ hay đây là chị em của mẹ, hay đây là vợ của anh hay em của mẹ, hay đây là vợ của Thầy hay đây là vợ của các vị tôn trưởng.
10Có hai thời kỳ an cư mùa mưa, này các Tỷ-kheo. Thế nào là hai? Tiền an cư và hậu an cư. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai thời kỳ an cư mùa mưa.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery. There the Buddha addressed the mendicants, “Mendicants!”
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
1. Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: 'Này các Tỷ-kheo'. 'Bạch Thế Tôn', các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
“Dvemāni, bhikkhave, vajjāni. Katamāni dve? Diṭṭhadhammikañca vajjaṁ samparāyikañca vajjaṁ.
Katamañca, bhikkhave, diṭṭhadhammikaṁ vajjaṁ? Idha, bhikkhave, ekacco passati coraṁ āgucāriṁ rājāno gahetvā vividhā kammakāraṇā kārente; kasāhipi tāḷente, vettehipi tāḷente, addhadaṇḍakehipi tāḷente, hatthampi chindante, pādampi chindante, hatthapādampi chindante, kaṇṇampi chindante, nāsampi chindante, kaṇṇanāsampi chindante, bilaṅgathālikampi karonte, saṅkhamuṇḍikampi karonte, rāhumukhampi karonte, jotimālikampi karonte, hatthapajjotikampi karonte, erakavattikampi karonte, cīrakavāsikampi karonte, eṇeyyakampi karonte, baḷisamaṁsikampi karonte, kahāpaṇikampi karonte, khārāpatacchikampi karonte, palighaparivattikampi karonte, palālapīṭhakampi karonte, tattenapi telena osiñcante, sunakhehipi khādāpente, jīvantampi sūle uttāsente, asināpi sīsaṁ chindante.
“There are, mendicants, these two faults. What two? The fault apparent in this life, and the fault to do with lives to come.
What is the fault apparent in this life? It’s when someone sees that kings have arrested a bandit, a criminal, and subjected them to various punishments—whipping, caning, and clubbing; cutting off hands or feet, or both; cutting off ears or nose, or both; the ‘porridge pot’, the ‘shell-shave’, the ‘Rāhu’s mouth’, the ‘garland of fire’, the ‘burning hand’, the ‘bulrush twist’, the ‘bark dress’, the ‘antelope’, the ‘meat hook’, the ‘coins’, the ‘caustic pickle’, the ‘twisting bar’, the ‘straw mat’; being splashed with hot oil, being fed to the hounds, being impaled alive, and being beheaded.
Này các Tỷ-kheo, có hai loại tội lỗi này. Thế nào là hai? Tội lỗi trong hiện tại và tội lỗi trong tương lai. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tội lỗi trong hiện tại? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người thấy các vua chúa, sau khi bắt được một tên trộm, một kẻ phạm tội, liền áp dụng nhiều hình phạt khác nhau: đánh bằng roi, đánh bằng gậy, đánh bằng dùi cui; chặt tay, chặt chân, chặt cả tay chân; cắt tai, cắt mũi, cắt cả tai mũi; họ thực hiện hình phạt 'nồi cháo óc', hình phạt 'cạo đầu vỏ ốc', hình phạt 'miệng Rāhu', hình phạt 'vòng hoa lửa', hình phạt 'ngọn đuốc tay', hình phạt 'bện cỏ lau', hình phạt 'áo vỏ cây', hình phạt 'con nai', hình phạt 'móc thịt', hình phạt 'đồng tiền', hình phạt 'tẩm nước tro', hình phạt 'xoay chốt cửa', hình phạt 'đệm rơm'; họ tưới dầu sôi, cho chó ăn, đóng cọc xiên người sống, và dùng gươm chặt đầu.
Tassa evaṁ hoti: ‘yathārūpānaṁ kho pāpakānaṁ kammānaṁ hetu coraṁ āgucāriṁ rājāno gahetvā vividhā kammakāraṇā kārenti; kasāhipi tāḷenti, vettehipi tāḷenti, addhadaṇḍakehipi tāḷenti, hatthampi chindanti, pādampi chindanti, hatthapādampi chindanti, kaṇṇampi chindanti, nāsampi chindanti, kaṇṇanāsampi chindanti, bilaṅgathālikampi karonti, saṅkhamuṇḍikampi karonti, rāhumukhampi karonti, jotimālikampi karonti, hatthapajjotikampi karonti, erakavattikampi karonti, cīrakavāsikampi karonti, eṇeyyakampi karonti, baḷisamaṁsikampi karonti, kahāpaṇikampi karonti, khārāpatacchikampi karonti, palighaparivattikampi karonti, palālapīṭhakampi karonti, tattenapi telena osiñcanti, sunakhehipi khādāpenti, jīvantampi sūle uttāsenti, asināpi sīsaṁ chindanti. Ahañceva kho pana evarūpaṁ pāpakammaṁ kareyyaṁ, mampi rājāno gahetvā evarūpā vividhā kammakāraṇā kāreyyuṁ; kasāhipi tāḷeyyuṁ …pe… asināpi sīsaṁ chindeyyun’ti. So diṭṭhadhammikassa vajjassa bhīto na paresaṁ pābhataṁ vilumpanto carati. Idaṁ vuccati, bhikkhave, diṭṭhadhammikaṁ vajjaṁ.
It occurs to them: ‘If I were to commit the kinds of bad deeds for which the kings arrested that bandit, that criminal, the rulers would arrest me and subject me to the same punishments.’ Afraid of the fault apparent in this life, they do not steal the belongings of others. This is called the fault apparent in this life.
Vị ấy suy nghĩ như sau: 'Chính vì những ác nghiệp như vậy mà các vua chúa, sau khi bắt được một tên trộm, một kẻ phạm tội, liền áp dụng nhiều hình phạt khác nhau: đánh bằng roi, đánh bằng gậy, đánh bằng dùi cui; chặt tay, chặt chân, chặt cả tay chân; cắt tai, cắt mũi, cắt cả tai mũi; họ thực hiện hình phạt 'nồi cháo óc', hình phạt 'cạo đầu vỏ ốc', hình phạt 'miệng Rāhu', hình phạt 'vòng hoa lửa', hình phạt 'ngọn đuốc tay', hình phạt 'bện cỏ lau', hình phạt 'áo vỏ cây', hình phạt 'con nai', hình phạt 'móc thịt', hình phạt 'đồng tiền', hình phạt 'tẩm nước tro', hình phạt 'xoay chốt cửa', hình phạt 'đệm rơm'; họ tưới dầu sôi, cho chó ăn, đóng cọc xiên người sống, và dùng gươm chặt đầu. Nếu ta cũng làm một ác nghiệp như vậy, các vua chúa cũng sẽ bắt ta và áp dụng những hình phạt đa dạng như vậy; họ sẽ đánh ta bằng roi... cho đến... họ sẽ dùng gươm chặt đầu ta'. Vị ấy, do sợ hãi tội lỗi trong hiện tại, không đi cướp đoạt tài sản của người khác. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là tội lỗi trong hiện tại.
Katamañca, bhikkhave, samparāyikaṁ vajjaṁ? Idha, bhikkhave, ekacco iti paṭisañcikkhati: ‘kāyaduccaritassa kho pana pāpako dukkho vipāko abhisamparāyaṁ, vacīduccaritassa pāpako dukkho vipāko abhisamparāyaṁ, manoduccaritassa pāpako dukkho vipāko abhisamparāyaṁ. Ahañceva kho pana kāyena duccaritaṁ careyyaṁ, vācāya duccaritaṁ careyyaṁ, manasā duccaritaṁ careyyaṁ. Kiñca taṁ yāhaṁ na kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjeyyan’ti. So samparāyikassa vajjassa bhīto kāyaduccaritaṁ pahāya kāyasucaritaṁ bhāveti, vacīduccaritaṁ pahāya vacīsucaritaṁ bhāveti, manoduccaritaṁ pahāya manosucaritaṁ bhāveti, suddhaṁ attānaṁ pariharati. Idaṁ vuccati, bhikkhave, samparāyikaṁ vajjaṁ.
Imāni kho, bhikkhave, dve vajjāni.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘diṭṭhadhammikassa vajjassa bhāyissāma, samparāyikassa vajjassa bhāyissāma, vajjabhīruno bhavissāma vajjabhayadassāvino’ti. Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ. Vajjabhīruno, bhikkhave, vajjabhayadassāvino etaṁ pāṭikaṅkhaṁ yaṁ parimuccissati sabbavajjehī”ti.
Paṭhamaṁ.
What is the fault to do with lives to come? It’s when someone reflects: ‘Bad conduct of body, speech, or mind has a bad, painful result in the next life. If I conduct myself badly, then, when my body breaks up, after death, won’t I be reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell?’ Afraid of the fault to do with lives to come, they give up bad conduct by way of body, speech, and mind, and develop good conduct by way of body, speech, and mind, keeping themselves pure. This is called the fault to do with lives to come.
These are the two faults.
So you should train like this: ‘We will fear the fault apparent in this life, and we will fear the fault to do with lives to come. We will fear faults, seeing the danger in faults.’ That’s how you should train. If you fear faults, seeing the danger in faults, you can expect to be freed from all faults.”
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tội lỗi trong tương lai? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người suy xét như sau: 'Quả báo của thân ác hạnh trong tương lai là xấu ác, đau khổ; quả báo của khẩu ác hạnh trong tương lai là xấu ác, đau khổ; quả báo của ý ác hạnh trong tương lai là xấu ác, đau khổ. Nếu ta thực hành ác hạnh qua thân, ác hạnh qua lời, ác hạnh qua ý, thì làm sao có chuyện sau khi thân hoại mạng chung, ta không sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục?' Vị ấy, do sợ hãi tội lỗi trong tương lai, từ bỏ thân ác hạnh, tu tập thân thiện hạnh; từ bỏ khẩu ác hạnh, tu tập khẩu thiện hạnh; từ bỏ ý ác hạnh, tu tập ý thiện hạnh, giữ cho tự thân trong sạch. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là tội lỗi trong tương lai. Này các Tỷ-kheo, đó là hai loại tội lỗi. Vì vậy, này các Tỷ-kheo, các con hãy học tập như sau: 'Chúng ta sẽ sợ hãi tội lỗi trong hiện tại, chúng ta sẽ sợ hãi tội lỗi trong tương lai. Chúng ta sẽ là người biết sợ tội lỗi, thấy sự nguy hiểm trong tội lỗi'. Này các Tỷ-kheo, các con phải học tập như vậy. Này các Tỷ-kheo, đối với người biết sợ tội lỗi, thấy sự nguy hiểm trong tội lỗi, điều được mong đợi là vị ấy sẽ giải thoát khỏi mọi tội lỗi.
2. Kinh Tinh Cần
“Dvemāni, bhikkhave, padhānāni durabhisambhavāni lokasmiṁ. Katamāni dve? Yañca gihīnaṁ agāraṁ ajjhāvasataṁ cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārānuppadānatthaṁ padhānaṁ, yañca agārasmā anagāriyaṁ pabbajitānaṁ sabbūpadhipaṭinissaggatthaṁ padhānaṁ. Imāni kho, bhikkhave, dve padhānāni durabhisambhavāni lokasmiṁ.
“These two endeavors are challenging in the world. What two? The endeavor of laypeople staying in a home to provide robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick. And the endeavor of those gone forth from the lay life to homelessness to let go of all attachments. These are the two endeavors that are challenging in the world.
2. Này các Tỷ-kheo, có hai sự tinh cần này khó thực hiện ở trên đời. Thế nào là hai? Sự tinh cần của người tại gia sống trong gia đình nhằm cung cấp y, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh; và sự tinh cần của những người đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nhằm từ bỏ tất cả mọi sở hữu chấp thủ. Này các Tỷ-kheo, đây là hai sự tinh cần khó thực hiện ở trên đời.
Etadaggaṁ, bhikkhave, imesaṁ dvinnaṁ padhānānaṁ yadidaṁ sabbūpadhipaṭinissaggatthaṁ padhānaṁ.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘sabbūpadhipaṭinissaggatthaṁ padhānaṁ padahissāmā’ti. Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Dutiyaṁ.
The better of these two endeavors is the effort to let go of all attachments.
So you should train like this: ‘We shall endeavor to let go of all attachments.’ That’s how you should train.”
Này các Tỷ-kheo, trong hai sự tinh cần này, đây là tối thượng, tức là sự tinh cần nhằm từ bỏ tất cả mọi sở hữu chấp thủ. Vì vậy, này các Tỷ-kheo, các con hãy học tập như sau: 'Chúng ta sẽ nỗ lực tinh cần nhằm từ bỏ tất cả mọi sở hữu chấp thủ'. Này các Tỷ-kheo, các con phải học tập như vậy.
3. Kinh Ăn Năn
“Dveme, bhikkhave, dhammā tapanīyā. Katame dve? Idha, bhikkhave, ekaccassa kāyaduccaritaṁ kataṁ hoti, akataṁ hoti kāyasucaritaṁ; vacīduccaritaṁ kataṁ hoti, akataṁ hoti vacīsucaritaṁ; manoduccaritaṁ kataṁ hoti, akataṁ hoti manosucaritaṁ. So ‘kāyaduccaritaṁ me katan’ti tappati, ‘akataṁ me kāyasucaritan’ti tappati; ‘vacīduccaritaṁ me katan’ti tappati, ‘akataṁ me vacīsucaritan’ti tappati; ‘manoduccaritaṁ me katan’ti tappati, ‘akataṁ me manosucaritan’ti tappati. Ime kho, bhikkhave, dve dhammā tapanīyā”ti.
Tatiyaṁ.
“These two things, mendicants, are mortifying. What two? It’s when someone has done bad things and not done good things, by way of body, speech, and mind. Thinking, ‘I’ve done bad things by way of body, speech, and mind’, they’re mortified. Thinking, ‘I haven’t done good things by way of body, speech, and mind’, they’re mortified. These are the two things that are mortifying.”
3. “Này các Tỳ khưu, có hai pháp này gây ra ray rứt. Thế nào là hai? Này các Tỳ khưu, ở đây, có người đã làm thân ác hạnh, chưa làm thân thiện hạnh; đã làm khẩu ác hạnh, chưa làm khẩu thiện hạnh; đã làm ý ác hạnh, chưa làm ý thiện hạnh. Vị ấy ray rứt: ‘Thân ác hạnh đã được ta làm’, vị ấy ray rứt: ‘Thân thiện hạnh đã không được ta làm’; vị ấy ray rứt: ‘Khẩu ác hạnh đã được ta làm’, vị ấy ray rứt: ‘Khẩu thiện hạnh đã không được ta làm’; vị ấy ray rứt: ‘Ý ác hạnh đã được ta làm’, vị ấy ray rứt: ‘Ý thiện hạnh đã không được ta làm’. Này các Tỳ khưu, đây chính là hai pháp gây ra ray rứt.” Kinh thứ ba.
4. Kinh Không Gây Ray Rứt
“Dveme, bhikkhave, dhammā atapanīyā. Katame dve? Idha, bhikkhave, ekaccassa kāyasucaritaṁ kataṁ hoti, akataṁ hoti kāyaduccaritaṁ; vacīsucaritaṁ kataṁ hoti, akataṁ hoti vacīduccaritaṁ; manosucaritaṁ kataṁ hoti, akataṁ hoti manoduccaritaṁ. So ‘kāyasucaritaṁ me katan’ti na tappati, ‘akataṁ me kāyaduccaritan’ti na tappati; ‘vacīsucaritaṁ me katan’ti na tappati, ‘akataṁ me vacīduccaritan’ti na tappati; ‘manosucaritaṁ me katan’ti na tappati, ‘akataṁ me manoduccaritan’ti na tappati. Ime kho, bhikkhave, dve dhammā atapanīyā”ti.
Catutthaṁ.
“These two things, mendicants, are not mortifying. What two? It’s when someone has done good things and not done bad things, by way of body, speech, and mind. Thinking, ‘I’ve done good things by way of body, speech, and mind’, they’re not mortified. Thinking, ‘I haven’t done bad things by way of body, speech, and mind’, they’re not mortified. These are the two things that are not mortifying.”
4. “Này các Tỳ khưu, có hai pháp này không gây ra ray rứt. Thế nào là hai? Này các Tỳ khưu, ở đây, có người đã làm thân thiện hạnh, chưa làm thân ác hạnh; đã làm khẩu thiện hạnh, chưa làm khẩu ác hạnh; đã làm ý thiện hạnh, chưa làm ý ác hạnh. Vị ấy không ray rứt: ‘Thân thiện hạnh đã được ta làm’, vị ấy không ray rứt: ‘Thân ác hạnh đã không được ta làm’; vị ấy không ray rứt: ‘Khẩu thiện hạnh đã được ta làm’, vị ấy không ray rứt: ‘Khẩu ác hạnh đã không được ta làm’; vị ấy không ray rứt: ‘Ý thiện hạnh đã được ta làm’, vị ấy không ray rứt: ‘Ý ác hạnh đã không được ta làm’. Này các Tỳ khưu, đây chính là hai pháp không gây ra ray rứt.” Kinh thứ tư.
5. Kinh Được Biết Đến
“Dvinnāhaṁ, bhikkhave, dhammānaṁ upaññāsiṁ—yā ca asantuṭṭhitā kusalesu dhammesu, yā ca appaṭivānitā padhānasmiṁ.
Appaṭivānī sudāhaṁ, bhikkhave, padahāmi: ‘kāmaṁ taco ca nhāru ca aṭṭhi ca avasissatu, sarīre upassussatu maṁsalohitaṁ, yaṁ taṁ purisathāmena purisavīriyena purisaparakkamena pattabbaṁ na taṁ apāpuṇitvā vīriyassa saṇṭhānaṁ bhavissatī’ti.
Tassa mayhaṁ, bhikkhave, appamādādhigatā sambodhi, appamādādhigato anuttaro yogakkhemo.
Tumhe cepi, bhikkhave, appaṭivānaṁ padaheyyātha: ‘kāmaṁ taco ca nhāru ca aṭṭhi ca avasissatu, sarīre upassussatu maṁsalohitaṁ, yaṁ taṁ purisathāmena purisavīriyena purisaparakkamena pattabbaṁ na taṁ apāpuṇitvā vīriyassa saṇṭhānaṁ bhavissatī’ti, tumhepi, bhikkhave, nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissatha.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘appaṭivānaṁ padahissāma. Kāmaṁ taco ca nhāru ca aṭṭhi ca avasissatu, sarīre upassussatu maṁsalohitaṁ, yaṁ taṁ purisathāmena purisavīriyena purisaparakkamena pattabbaṁ na taṁ apāpuṇitvā vīriyassa saṇṭhānaṁ bhavissatī’ti. Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Pañcamaṁ.
“Mendicants, I have learned these two things for myself—to never be content with skillful qualities, and to never stop trying.
I never stopped trying, thinking: ‘Gladly, let only skin, sinews, and bones remain! Let the flesh and blood waste away in my body! I will not stop trying until I have achieved what is possible by human strength, energy, and vigor.’
It was by diligence that I achieved awakening, and by diligence that I achieved the supreme sanctuary from the yoke.
If you too never stop trying, thinking: ‘Gladly, let only skin, sinews, and bones remain! Let the flesh and blood waste away in my body! I will not stop trying until I have achieved what is possible by human strength, energy, and vigor.’ You will soon realize the supreme culmination of the spiritual path in this very life. You will live having achieved with your own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.
So you should train like this: ‘We will never stop trying, thinking: “Gladly, let only skin, sinews, and bones remain! Let the flesh and blood waste away in my body! I will not stop trying until I have achieved what is possible by human strength, energy, and vigor.”’ That’s how you should train.”
5. “Này các Tỳ khưu, Ta đã biết đến hai pháp này: sự không hài lòng đối với các thiện pháp và sự không lùi bước trong khi tinh tấn. Này các Tỳ khưu, Ta đã tinh tấn không lùi bước: ‘Mong rằng chỉ còn lại da, gân, và xương; mong rằng thịt và máu trong thân này khô cạn đi; điều gì có thể đạt được bằng sức mạnh của người nam, bằng tinh tấn của người nam, bằng nỗ lực của người nam, nếu chưa đạt được điều ấy thì sẽ không có sự dừng lại của tinh tấn.’ Này các Tỳ khưu, sự giác ngộ đã được Ta chứng đắc do không buông thả, sự an ổn khỏi các ách trói buộc vô thượng đã được Ta chứng đắc do không buông thả. Này các Tỳ khưu, các ngươi cũng vậy, hãy tinh tấn không lùi bước: ‘Mong rằng chỉ còn lại da, gân, và xương; mong rằng thịt và máu trong thân này khô cạn đi; điều gì có thể đạt được bằng sức mạnh của người nam, bằng tinh tấn của người nam, bằng nỗ lực của người nam, nếu chưa đạt được điều ấy thì sẽ không có sự dừng lại của tinh tấn.’ Này các Tỳ khưu, các ngươi cũng vậy, không bao lâu nữa, các ngươi sẽ tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của phạm hạnh mà vì đó các thiện gia nam tử đã chân chánh từ bỏ gia đình, sống đời không gia đình. Do đó, này các Tỳ khưu, các ngươi nên học tập như sau: ‘Chúng ta sẽ tinh tấn không lùi bước. Mong rằng chỉ còn lại da, gân, và xương; mong rằng thịt và máu trong thân này khô cạn đi; điều gì có thể đạt được bằng sức mạnh của người nam, bằng tinh tấn của người nam, bằng nỗ lực của người nam, nếu chưa đạt được điều ấy thì sẽ không có sự dừng lại của tinh tấn.’ Này các Tỳ khưu, các ngươi nên học tập như vậy.” Kinh thứ năm.
6. Kinh Kiết Sử
“Dveme, bhikkhave, dhammā. Katame dve? Yā ca saṁyojaniyesu dhammesu assādānupassitā, yā ca saṁyojaniyesu dhammesu nibbidānupassitā. Saṁyojaniyesu, bhikkhave, dhammesu assādānupassī viharanto rāgaṁ na pajahati, dosaṁ na pajahati, mohaṁ na pajahati. Rāgaṁ appahāya, dosaṁ appahāya, mohaṁ appahāya na parimuccati jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi. ‘Na parimuccati dukkhasmā’ti vadāmi.
“There are, mendicants, these two things. What two? Seeing things that tighten the fetters as gratifying, and seeing things that tighten the fetters as boring. When you keep seeing things that tighten the fetters as gratifying, you don’t give up greed, hate, and delusion. When these are not given up, you’re not freed from rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. You’re not freed from suffering, I say.
6. “Này các Tỳ khưu, có hai pháp này. Thế nào là hai? Sự tùy quán vị ngọt trong các pháp thuộc về kiết sử, và sự tùy quán sự nhàm chán trong các pháp thuộc về kiết sử. Này các Tỳ khưu, người nào an trú tùy quán vị ngọt trong các pháp thuộc về kiết sử thì không từ bỏ được tham, không từ bỏ được sân, không từ bỏ được si. Do không từ bỏ tham, không từ bỏ sân, không từ bỏ si, nên không giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng vị ấy không giải thoát khỏi khổ đau.
Saṁyojaniyesu, bhikkhave, dhammesu nibbidānupassī viharanto rāgaṁ pajahati, dosaṁ pajahati, mohaṁ pajahati. Rāgaṁ pahāya, dosaṁ pahāya, mohaṁ pahāya, parimuccati jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi. ‘Parimuccati dukkhasmā’ti vadāmi. Ime kho, bhikkhave, dve dhammā”ti.
Chaṭṭhaṁ.
When you keep seeing things that tighten the fetters as boring, you give up greed, hate, and delusion. When these are given up, you’re freed from rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. You’re freed from suffering, I say. These are the two things.”
“Này các Tỳ khưu, người nào an trú tùy quán sự nhàm chán trong các pháp thuộc về kiết sử thì từ bỏ được tham, từ bỏ được sân, từ bỏ được si. Do từ bỏ tham, từ bỏ sân, từ bỏ si, nên giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng vị ấy giải thoát khỏi khổ đau. Này các Tỳ khưu, đây chính là hai pháp ấy.” Kinh thứ sáu.
“Dveme, bhikkhave, dhammā kaṇhā. Katame dve? Ahirikañca anottappañca. Ime kho, bhikkhave, dve dhammā kaṇhā”ti.
Sattamaṁ.
“Dveme, bhikkhave, dhammā sukkā. Katame dve? Hirī ca ottappañca.
“These two things, mendicants, are dark. What two? Lack of conscience and prudence. These are the two things that are dark.”
“These two things, mendicants, are bright. What two? Conscience and prudence.
7. “Này các Tỳ khưu, có hai pháp màu đen này. Thế nào là hai? Vô tàm và vô quý. Này các Tỳ khưu, đây chính là hai pháp màu đen.” Kinh thứ bảy.
Aṭṭhamaṁ.
8. “Này các Tỳ khưu, có hai pháp màu trắng này. Thế nào là hai? Tàm và quý. Này các Tỳ khưu, đây chính là hai pháp màu trắng.” Kinh thứ tám.
“Dveme, bhikkhave, dhammā sukkā lokaṁ pālenti. Katame dve? Hirī ca ottappañca. Ime kho, bhikkhave, dve sukkā dhammā lokaṁ na pāleyyuṁ, nayidha paññāyetha mātāti vā mātucchāti vā mātulānīti vā ācariyabhariyāti vā garūnaṁ dārāti vā. Sambhedaṁ loko agamissa, yathā ajeḷakā kukkuṭasūkarā soṇasiṅgālā. Yasmā ca kho, bhikkhave, ime dve sukkā dhammā lokaṁ pālenti tasmā paññāyati mātāti vā mātucchāti vā mātulānīti vā ācariyabhariyāti vā garūnaṁ dārāti vā”ti.
Navamaṁ.
“These two bright things, mendicants, protect the world. What two? Conscience and prudence. If these two bright things did not protect the world, there would be no recognition of the status of mother, aunts, or wives and partners of tutors and respected people. The world would become dissolute, like goats and sheep, chickens and pigs, and hounds and jackals. But because the two bright things protect the world, there is recognition of the status of mother, aunts, and wives and partners of tutors and respected people.”
9. “Này các Tỳ khưu, hai pháp màu trắng này bảo hộ thế gian. Thế nào là hai? Tàm và quý. Này các Tỳ khưu, nếu hai pháp màu trắng này không bảo hộ thế gian thì ở đây sẽ không nhận ra được là mẹ, hay là dì, hay là vợ của cậu, hay là vợ của thầy, hay là vợ của những người đáng kính. Thế gian sẽ rơi vào sự hỗn loạn, giống như loài dê, cừu, gà, heo, chó, và chó rừng. Và này các Tỳ khưu, chính vì hai pháp màu trắng này bảo hộ thế gian nên mới nhận ra được là mẹ, hay là dì, hay là vợ của cậu, hay là vợ của thầy, hay là vợ của những người đáng kính.” Kinh thứ chín.
10. Kinh An Cư Mùa Mưa
“Dvemā, bhikkhave, vassūpanāyikā. Katamā dve? Purimikā ca pacchimikā ca. Imā kho, bhikkhave, dve vassūpanāyikā”ti.
Dasamaṁ.
“There are, mendicants, these two entries to the rainy season. What two? Earlier and later. These are the two entries to the rainy season.”
10. “Này các Tỳ khưu, có hai kỳ an cư mùa mưa này. Thế nào là hai? Kỳ đầu và kỳ sau. Này các Tỳ khưu, đây chính là hai kỳ an cư mùa mưa.” Kinh thứ mười.
Kammakaraṇavaggo paṭhamo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Hành Động, thứ nhất.
Vajjā padhānā dve tapanīyā, Upaññātena pañcamaṁ; Saṁyojanañca kaṇhañca, Sukkaṁ cariyā vassūpanāyikena vaggo.
Phẩm gồm có: Vajjā, Padhānā, hai kinh Tapanīya, kinh thứ năm là Upaññāta; Saṃyojana, Kaṇha, Sukka, Cariyā, và Vassūpanāyika.