- Aṅguttara Nikāya 11.16
- 2. Anussativagga
Bản dịch
AN 11.16 — Gia Chủ Dasama
Aṭṭhakanāgarasutta
TTC 1Một thời, Tôn giả Ananda trú ở Vesàli, tại làng Beluvagàmaka. Lúc bấy giờ, gia chủ Dasama, trú ở thành Atthaka, đã đi đến Pàtiliputta vì một vài công việc. Rồi gia chủ Dasama, dân ở thành Atthaka đi đến một Tỷ-kheo, sau khi đến, thưa với Tỷ-kheo ấy:
—Thưa Tôn giả, Tôn giả Ananda nay trú ở đâu? Thưa Tôn giả, con muốn yết kiến Tôn giả Ananda.
—Này Gia chủ, Tôn giả Ananda nay trú ở Vesàli, tại làng Beluvagàmaka.
TTC 2Rồi gia chủ Dasama, dân ở thành Atthaka, sau khi làm công việc xong ở Pàtiliputta, đi đến Vesàli, Beluvagàmaka, đi đến Tôn giả Ananda, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ananda rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, gia chủ Dasama, dân ở thành Atthaka thưa với Tôn giả Ananda:
—Có một pháp nào, thưa Tôn giả Ananda được Thế Tôn, bậc đã biết, bậc đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác khéo nói, chính ở nơi đây, Tỷ-kheo trú không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, sẽ giải thoát tâm chưa được giải thoát, hay sẽ đưa đến chấm dứt các lậu hoặc chưa được đoạn tận, hay đạt được vô thượng an ổn khỏi các khổ ách chưa đạt được?
—Này Gia chủ, có một pháp, được Thế Tôn, bậc đã biết… hay đạt được vô thượng an ổn khỏi các ách khổ chưa đạt được.
—Nhưng thưa Tôn giả Ananda, một pháp ấy là gì, được Thế Tôn, bậc đã biết, bậc đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác khéo thuyết, chính ở nơi đây, Tỷ-kheo trú không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, sẽ giải thoát tâm chưa được giải thoát, hay sẽ đưa đến chấm dứt các lậu hoặc chưa được đoạn tận, hay đạt được vô thượng an ổn khỏi các khổ ách chưa đạt được?
TTC 3Ở đây, này Gia chủ, Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Vị ấy quán sát như sau: “Thiền thứ nhất này thuộc tăng thượng tác thành, thuộc tăng thượng tâm”. Phàm cái gì thuộc tăng thượng tác thành, thuộc tăng thượng tâm, vị ấy quán tri: “Cái gì là vô thường, chịu sự đoạn diệt”. Vị ấy an trú ở đấy, đạt được sự đoạn diệt các lậu hoặc. Nếu không đạt được sự đoạn diệt các lậu hoặc, với tham ái ấy đối với Pháp, với hoan hỷ ấy đối với Pháp, với sự đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, vị ấy được hóa sanh, tại đấy nhập Niết-bàn, không còn phải trở lui thế giới ấy nữa. Này Gia chủ, đây là một pháp này, được Thế Tôn, bậc đã biết, bậc đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác… vô thượng an ổn khỏi các khổ ách chưa đạt được.
TTC 4Lại nữa, này Gia chủ, Tỷ-kheo, làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm,… và an trú Thiền thứ ba… và an trú Thiền thứ tư. Vị ấy quán sát như sau: “Thiền thứ tư này thuộc tăng thượng tác thành, thuộc tăng thượng tâm”. Phàm cái gì… không còn phải trở lui thế giới ấy nữa. Này Gia chủ, đây là một pháp này, được Thế Tôn, bậc đã biết, bậc đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác… vô thượng an ổn khỏi các khổ ách chưa đạt được.
TTC 5Lại nữa, này Gia chủ, Tỷ-kheo với tâm câu hữu với từ, an trú biến mãn một phương; như vậy phương thứ hai; như vậy phương thứ ba; như vậy phương thứ tư; như vậy cùng khắp thế giới trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm cầu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Vị ấy quán sát như sau: “Từ tâm giải thoát này thuộc tăng thượng tác thành, thuộc tăng thượng tâm”. Phàm cái gì… không còn trở lui thế giới ấy nữa. Này Gia chủ, đây là một pháp, được Thế Tôn, bậc đã biết, bậc đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác… vô thượng an ổn khỏi các khổ ách chưa đạt được.
TTC 6Lại nữa, này Gia chủ, Tỷ-kheo với tâm câu hữu với bi… với tâm câu hữu với hỷ… với tâm câu hữu với xả, an trú biến mãn một phương; như vậy phương thứ hai; như vậy phương thứ ba; như vậy phương thứ tư; như vậy cùng khắp thế giới trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Vị ấy quán sát như sau: “Xả tâm giải thoát này thuộc tăng thượng tác thành, thuộc tăng thượng tâm”. Phàm cái gì… không còn trở lui thế giới ấy nữa. Này Gia chủ, đây là một pháp, được Thế Tôn, bậc đã biết, bậc đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác… vô thượng an ổn khỏi các khổ ách chưa đạt được.
TTC 7Lại nữa, này Gia chủ, Tỷ-kheo vượt qua một cách hoàn toàn các sắc tưởng, chấm dứt các tưởng chướng ngại, không tác ý các tưởng sai biệt, nghĩ rằng: “Hư không là vô biên”, chứng đạt và an trú Không vô biên xứ. Vị ấy quán sát như sau: “Chứng đắc Không vô biên xứ này thuộc tăng thượng tác thành, thuộc tăng thượng tâm”. Phàm cái gì… không còn trở lui thế giới ấy nữa. Này Gia chủ, đây là một pháp, được Thế Tôn, bậc đã biết, bậc đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác… vô thượng an ổn khỏi các khổ ách chưa đạt được.
TTC 8Lại nữa, này Gia chủ, sau khi vượt Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: “Thức là vô biên”, chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ… sau khi vượt Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: “Vô sở hữu xứ”, chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ. Vị ấy quán sát như sau: “Chứng đắc Vô sở hữu xứ này thuộc tăng thượng tác thành, thuộc tăng thượng tâm”. Phàm cái gì… không còn trở lui thế giới ấy nữa. Này Gia chủ, đây là một pháp, được Thế Tôn, bậc đã biết, bậc đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác… vô thượng an ổn khỏi các khổ ách chưa đạt được.
TTC 9Khi nghe nói vậy, gia chủ Dasama, dân ở thành Atthaka thưa với Tôn giả Ananda:
—Thưa Tôn giả Ananda, ví như một người tìm một cái cửa vào chỗ chôn cất, trong một lúc, tìm ra được mười một cái cửa. Cũng vậy, thưa Tôn giả, trong khi đi tìm một cửa bất tử, trong một lúc, con tìm ra mười một cái cửa bất tử. Ví như, thưa Tôn giả, trong một ngôi nhà chỉ có một cái cửa, và nhà ấy bị cháy, người ấy chỉ có thể ra bằng một cửa để có thể được an toàn cho mình. Cũng vậy, thưa Tôn giả, với mười một cửa bất tử này, con có thể tạo được sự an toàn cho con với chỉ một cửa bất tử. Thưa Tôn giả, các ngoại đạo này sẽ tìm cầu tài sản của sư cho sư, tại sao con lại không đảnh lễ Tôn giả Ananda?
TTC 10Rồi gia chủ Dasama, dân ở thành phố Atthaka mời họp các Tỷ-kheo chúng ở Vesàli và Pàtaputta, với các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm, tự tay dâng cúng cho đến khi chúng Tăng được thỏa mãn, và mỗi Tỷ-kheo cúng một đôi y. Nhưng riêng đối với Tôn giả Ananda, vị ấy cúng ba y đầy đủ và xây dựng một ngôi tinh xá giá trị 500 đồng tiền.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 11.16
- 2. Recollection
The Wealthy Citizen
6. Kinh Người Dân Aṭṭhaka
Ekaṁ samayaṁ āyasmā ānando vesāliyaṁ viharati beluvagāmake.
Tena kho pana samayena dasamo gahapati aṭṭhakanāgaro pāṭaliputtaṁ anuppatto hoti kenacideva karaṇīyena.
At one time Venerable Ānanda was staying near Vesālī in the little village of Beluva.
Now at that time the householder Dasama, a wealthy citizen, had arrived at Pāṭaliputta on some business.
16. Một thời, Tôn giả Ānanda trú tại làng Beluva ở Vesālī. Vào lúc bấy giờ, gia chủ Dasama người thành Aṭṭhaka đã đến Pāṭaliputta vì một công việc nào đó.
“Eso, gahapati, āyasmā ānando vesāliyaṁ viharati beluvagāmake”ti.
“Householder, Venerable Ānanda is staying near Vesālī in the little village of Beluva.”
Rồi gia chủ Dasama người thành Aṭṭhaka đi đến tu viện Kukkuṭārāma, đến chỗ một vị tỳ khưu nào đó; sau khi đến, bèn nói với vị tỳ khưu ấy rằng: 'Bạch ngài, hiện nay Tôn giả Ānanda đang trú ở đâu? Bạch ngài, chúng con mong muốn được yết kiến Tôn giả Ānanda.' 'Này gia chủ, Tôn giả Ānanda đang trú tại làng Beluva ở Vesālī.'
Atha kho dasamo gahapati aṭṭhakanāgaro pāṭaliputte taṁ karaṇīyaṁ tīretvā yena vesālī beluvagāmako yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho dasamo gahapati aṭṭhakanāgaro āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“atthi nu kho, bhante ānanda, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena ekadhammo sammadakkhāto, yattha bhikkhuno appamattassa ātāpino pahitattassa viharato avimuttaṁ vā cittaṁ vimuccati, aparikkhīṇā vā āsavā parikkhayaṁ gacchanti, ananuppattaṁ vā anuttaraṁ yogakkhemaṁ anupāpuṇātī”ti?
“Atthi kho, gahapati, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena ekadhammo sammadakkhāto, yattha bhikkhuno appamattassa ātāpino pahitattassa viharato avimuttaṁ vā cittaṁ vimuccati, aparikkhīṇā vā āsavā parikkhayaṁ gacchanti, ananuppattaṁ vā anuttaraṁ yogakkhemaṁ anupāpuṇātī”ti.
Then the householder Dasama, having concluded his business there, went to the little village of Beluva in Vesālī to see Ānanda. He bowed, sat down to one side, and said to Ānanda:
“Honorable Ānanda, is there one thing that has been rightly explained by the Blessed One—who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha—practicing which a diligent, keen, and resolute mendicant’s mind is freed, their defilements are ended, and they arrive at the supreme sanctuary from the yoke?”
“There is, householder.”
Rồi gia chủ Dasama người thành Aṭṭhaka, sau khi hoàn tất công việc ấy ở Pāṭaliputta, đã đi đến Vesālī, đến làng Beluva, đến chỗ Tôn giả Ānanda; sau khi đến, đã đảnh lễ Tôn giả Ānanda rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, gia chủ Dasama người thành Aṭṭhaka bạch với Tôn giả Ānanda rằng: 'Bạch ngài Ānanda, có pháp nào, một pháp duy nhất, đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, khéo thuyết giảng, mà ở đó, vị tỳ khưu sống không dể duôi, nhiệt tâm, tinh cần, tâm chưa được giải thoát sẽ được giải thoát, các lậu hoặc chưa được đoạn tận sẽ đi đến đoạn tận, và sẽ chứng đạt được trạng thái vô thượng an ổn khỏi các ách phược, điều chưa từng chứng đạt chăng?' 'Này gia chủ, có một pháp đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, khéo thuyết giảng, mà ở đó, vị tỳ khưu sống không dể duôi, nhiệt tâm, tinh cần, tâm chưa được giải thoát sẽ được giải thoát, các lậu hoặc chưa được đoạn tận sẽ đi đến đoạn tận, và sẽ chứng đạt được trạng thái vô thượng an ổn khỏi các ách phược, điều chưa từng chứng đạt.'
“Katamo pana, bhante ānanda, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena ekadhammo sammadakkhāto, yattha bhikkhuno appamattassa ātāpino pahitattassa viharato avimuttaṁ vā cittaṁ vimuccati, aparikkhīṇā vā āsavā parikkhayaṁ gacchanti, ananuppattaṁ vā anuttaraṁ yogakkhemaṁ anupāpuṇātī”ti?
“Idha, gahapati, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. So iti paṭisañcikkhati: ‘idampi kho paṭhamaṁ jhānaṁ abhisaṅkhataṁ abhisañcetayitaṁ’. ‘Yaṁ kho pana kiñci abhisaṅkhataṁ abhisañcetayitaṁ, tadaniccaṁ nirodhadhamman’ti pajānāti. So tattha ṭhito āsavānaṁ khayaṁ pāpuṇāti; no ce āsavānaṁ khayaṁ pāpuṇāti, teneva dhammarāgena tāya dhammanandiyā pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātiko hoti tattha parinibbāyī anāvattidhammo tasmā lokā. Ayampi kho, gahapati, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena ekadhammo sammadakkhāto, yattha bhikkhuno appamattassa ātāpino pahitattassa viharato avimuttaṁ vā cittaṁ vimuccati, aparikkhīṇā vā āsavā parikkhayaṁ gacchanti, ananuppattaṁ vā anuttaraṁ yogakkhemaṁ anupāpuṇāti.
“And what is that one thing?”
“Householder, it’s when a mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. Then they reflect: ‘Even this first absorption is produced by choices and intentions.’ They understand: ‘But whatever is produced by choices and intentions is impermanent and liable to cessation.’ Abiding in that they attain the ending of defilements. If they don’t attain the ending of defilements, with the ending of the five lower fetters they’re reborn spontaneously, because of their passion and love for that meditation. They are extinguished there, and are not liable to return from that world. This is one thing that has been rightly explained by the Blessed One—who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha—practicing which a diligent, keen, and resolute mendicant’s mind is freed, their defilements are ended, and they arrive at the supreme sanctuary from the yoke.
Bạch ngài Ānanda, một pháp duy nhất ấy là gì, đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, khéo thuyết giảng, mà ở đó, vị tỳ khưu sống không dể duôi, nhiệt tâm, tinh cần, tâm chưa được giải thoát sẽ được giải thoát, các lậu hoặc chưa được đoạn tận sẽ đi đến đoạn tận, và sẽ chứng đạt được trạng thái vô thượng an ổn khỏi các ách phược, điều chưa từng chứng đạt?' 'Này gia chủ, ở đây, vị tỳ khưu ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái có tầm, có tứ, do ly dục sanh, có hỷ và lạc. Vị ấy suy xét như vầy: ‘Thiền thứ nhất này cũng là pháp hữu vi, do ý tạo tác.’ Vị ấy biết rằng: ‘Bất cứ cái gì là pháp hữu vi, do ý tạo tác, cái ấy là vô thường, có bản chất là đoạn diệt.’ Vị ấy, an trú trong pháp ấy, đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc; nếu không đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc, thì do sự tham ái và hoan hỷ trong pháp ấy, sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy trở thành bậc hóa sanh, sẽ nhập Niết-bàn tại cõi ấy, không còn trở lại từ thế giới ấy nữa. Này gia chủ, đây cũng là một pháp đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, khéo thuyết giảng, mà ở đó, vị tỳ khưu sống không dể duôi, nhiệt tâm, tinh cần, tâm chưa được giải thoát sẽ được giải thoát, các lậu hoặc chưa được đoạn tận sẽ đi đến đoạn tận, và sẽ chứng đạt được trạng thái vô thượng an ổn khỏi các ách phược, điều chưa từng chứng đạt.
Puna caparaṁ, gahapati, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ …pe… tatiyaṁ jhānaṁ …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. So iti paṭisañcikkhati: ‘idampi kho catutthaṁ jhānaṁ abhisaṅkhataṁ abhisañcetayitaṁ’. ‘Yaṁ kho pana kiñci abhisaṅkhataṁ abhisañcetayitaṁ tadaniccaṁ nirodhadhamman’ti pajānāti. So tattha ṭhito āsavānaṁ khayaṁ pāpuṇāti; no ce āsavānaṁ khayaṁ pāpuṇāti, teneva dhammarāgena tāya dhammanandiyā pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātiko hoti tattha parinibbāyī anāvattidhammo tasmā lokā. Ayampi kho, gahapati, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena ekadhammo sammadakkhāto, yattha bhikkhuno appamattassa ātāpino pahitattassa viharato avimuttaṁ vā cittaṁ vimuccati aparikkhīṇā vā āsavā parikkhayaṁ gacchanti, ananuppattaṁ vā anuttaraṁ yogakkhemaṁ anupāpuṇāti.
Furthermore, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, they enter and remain in the second absorption … third absorption … fourth absorption. Then they reflect: ‘Even this fourth absorption is produced by choices and intentions.’ They understand: ‘But whatever is produced by choices and intentions is impermanent and liable to cessation.’ Abiding in that they attain the ending of defilements. If they don’t attain the ending of defilements, with the ending of the five lower fetters they’re reborn spontaneously, because of their passion and love for that meditation. They are extinguished there, and are not liable to return from that world. This too is one thing that has been rightly explained by the Blessed One—who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha—practicing which a diligent, keen, and resolute mendicant’s mind is freed, their defilements are ended, and they arrive at the supreme sanctuary from the yoke.
Lại nữa, này gia chủ, vị tỳ khưu, sau khi làm lắng dịu tầm và tứ, với nội tâm tĩnh lặng, tâm chuyên nhất, không tầm không tứ, do định sanh, có hỷ và lạc, chứng và trú thiền thứ hai... rồi thiền thứ ba... rồi thiền thứ tư. Vị ấy suy xét như vầy: ‘Thiền thứ tư này cũng là pháp hữu vi, do ý tạo tác.’ Vị ấy biết rằng: ‘Bất cứ cái gì là pháp hữu vi, do ý tạo tác, cái ấy là vô thường, có bản chất là đoạn diệt.’ Vị ấy, an trú trong pháp ấy, đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc; nếu không đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc, thì do sự tham ái và hoan hỷ trong pháp ấy, sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy trở thành bậc hóa sanh, sẽ nhập Niết-bàn tại cõi ấy, không còn trở lại từ thế giới ấy nữa. Này gia chủ, đây cũng là một pháp đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, khéo thuyết giảng, mà ở đó, vị tỳ khưu sống không dể duôi, nhiệt tâm, tinh cần, tâm chưa được giải thoát sẽ được giải thoát, các lậu hoặc chưa được đoạn tận sẽ đi đến đoạn tận, và sẽ chứng đạt được trạng thái vô thượng an ổn khỏi các ách phược, điều chưa từng chứng đạt.
Puna caparaṁ, gahapati, bhikkhu mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati tathā dutiyaṁ tathā tatiyaṁ tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharati. So iti paṭisañcikkhati: ‘ayampi kho mettā cetovimutti abhisaṅkhatā abhisañcetayitā’. ‘Yaṁ kho pana kiñci abhisaṅkhataṁ abhisañcetayitaṁ tadaniccaṁ nirodhadhamman’ti pajānāti. So tattha ṭhito āsavānaṁ khayaṁ pāpuṇāti; no ce āsavānaṁ khayaṁ pāpuṇāti, teneva dhammarāgena tāya dhammanandiyā pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātiko hoti tattha parinibbāyī anāvattidhammo tasmā lokā. Ayampi kho, gahapati, tena bhagavatā jānatā …pe… ananuppattaṁ vā anuttaraṁ yogakkhemaṁ anupāpuṇāti.
Furthermore, a mendicant meditates spreading a heart full of love to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of love to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. Then they reflect: ‘Even this heart’s release by love is produced by choices and intentions.’ They understand: ‘But whatever is produced by choices and intentions is impermanent and liable to cessation.’ Abiding in that they attain the ending of defilements. If they don’t attain the ending of defilements, with the ending of the five lower fetters they’re reborn spontaneously, because of their passion and love for that meditation. They are extinguished there, and are not liable to return from that world. This too is one thing that has been rightly explained by the Blessed One …
“Này gia chủ, lại nữa, vị tỳ khưu an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ. Cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như thế, cùng khắp thế giới, trên, dưới, ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp tất cả, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Vị ấy suy xét như sau: ‘Tâm giải thoát do từ này cũng là pháp hữu vi, do tư tác mà có.’ Vị ấy biết rằng: ‘Phàm cái gì là pháp hữu vi, do tư tác mà có, cái ấy là vô thường, chịu sự đoạn diệt.’ An trú trong pháp ấy, vị ấy đạt đến sự diệt tận các lậu hoặc. Nếu không đạt đến sự diệt tận các lậu hoặc, thì do tham ái và hỷ lạc trong pháp ấy, sau khi đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, vị ấy được hóa sanh, tại đấy nhập Niết-bàn, không còn trở lại thế giới này nữa. Này gia chủ, đây cũng là một pháp môn đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả... giảng dạy... hoặc có thể chứng đạt được trạng thái vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa từng chứng đạt.”
Puna caparaṁ, gahapati, bhikkhu karuṇāsahagatena cetasā …pe… muditāsahagatena cetasā …pe… upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati tathā dutiyaṁ tathā tatiyaṁ tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharati. So iti paṭisañcikkhati: ‘ayampi kho upekkhācetovimutti abhisaṅkhatā abhisañcetayitā’. ‘Yaṁ kho pana kiñci abhisaṅkhataṁ abhisañcetayitaṁ tadaniccaṁ nirodhadhamman’ti pajānāti. So tattha ṭhito āsavānaṁ khayaṁ pāpuṇāti; no ce āsavānaṁ khayaṁ pāpuṇāti, teneva dhammarāgena tāya dhammanandiyā pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātiko hoti tattha parinibbāyī anāvattidhammo tasmā lokā. Ayampi kho, gahapati, tena bhagavatā jānatā …pe… ananuppattaṁ vā anuttaraṁ yogakkhemaṁ anupāpuṇāti.
Furthermore, a mendicant meditates spreading a heart full of compassion … They meditate spreading a heart full of rejoicing … They meditate spreading a heart full of equanimity to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of equanimity to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. Then they reflect: ‘Even this heart’s release by equanimity is produced by choices and intentions.’ They understand: ‘But whatever is produced by choices and intentions is impermanent and liable to cessation.’ Abiding in that they attain the ending of defilements. If they don’t attain the ending of defilements, with the ending of the five lower fetters they’re reborn spontaneously, because of their passion and love for that meditation. They are extinguished there, and are not liable to return from that world. This too is one thing that has been rightly explained by the Blessed One …
“Này gia chủ, lại nữa, vị tỳ khưu với tâm câu hữu với bi... (như trên)... với tâm câu hữu với hỷ... (như trên)... với tâm câu hữu với xả, an trú biến mãn một phương. Cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như thế, cùng khắp thế giới, trên, dưới, ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp tất cả, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Vị ấy suy xét như sau: ‘Tâm giải thoát do xả này cũng là pháp hữu vi, do tư tác mà có.’ Vị ấy biết rằng: ‘Phàm cái gì là pháp hữu vi, do tư tác mà có, cái ấy là vô thường, chịu sự đoạn diệt.’ An trú trong pháp ấy, vị ấy đạt đến sự diệt tận các lậu hoặc. Nếu không đạt đến sự diệt tận các lậu hoặc, thì do tham ái và hỷ lạc trong pháp ấy, sau khi đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, vị ấy được hóa sanh, tại đấy nhập Niết-bàn, không còn trở lại thế giới này nữa. Này gia chủ, đây cũng là một pháp môn đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả... giảng dạy... hoặc có thể chứng đạt được trạng thái vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa từng chứng đạt.”
Puna caparaṁ, gahapati, bhikkhu sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati. So iti paṭisañcikkhati: ‘ayampi kho ākāsānañcāyatanasamāpatti abhisaṅkhatā abhisañcetayitā’. ‘Yaṁ kho pana kiñci abhisaṅkhataṁ abhisañcetayitaṁ tadaniccaṁ nirodhadhamman’ti pajānāti. So tattha ṭhito āsavānaṁ khayaṁ pāpuṇāti; no ce āsavānaṁ khayaṁ pāpuṇāti, teneva dhammarāgena tāya dhammanandiyā pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātiko hoti tattha parinibbāyī anāvattidhammo tasmā lokā. Ayampi kho, gahapati, tena bhagavatā jānatā …pe… ananuppattaṁ vā anuttaraṁ yogakkhemaṁ anupāpuṇāti.
Furthermore, a mendicant, going totally beyond perceptions of form, with the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that ‘space is infinite’, enters and remains in the dimension of infinite space. Then they reflect: ‘Even this attainment of the dimension of infinite space is produced by choices and intentions.’ They understand: ‘But whatever is produced by choices and intentions is impermanent and liable to cessation.’ Abiding in that they attain the ending of defilements. If they don’t attain the ending of defilements, with the ending of the five lower fetters they’re reborn spontaneously, because of their passion and love for that meditation. They are extinguished there, and are not liable to return from that world. This too is one thing that has been rightly explained by the Blessed One …
“Này gia chủ, lại nữa, vị tỳ khưu, do vượt qua hoàn toàn sắc tưởng, do chấm dứt các đối ngại tưởng, do không tác ý đến các dị biệt tưởng, nghĩ rằng: ‘Hư không là vô biên’, chứng và trú Không Vô Biên Xứ. Vị ấy suy xét như sau: ‘Sự chứng đắc Không Vô Biên Xứ này cũng là pháp hữu vi, do tư tác mà có.’ Vị ấy biết rằng: ‘Phàm cái gì là pháp hữu vi, do tư tác mà có, cái ấy là vô thường, chịu sự đoạn diệt.’ An trú trong pháp ấy, vị ấy đạt đến sự diệt tận các lậu hoặc. Nếu không đạt đến sự diệt tận các lậu hoặc, thì do tham ái và hỷ lạc trong pháp ấy, sau khi đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, vị ấy được hóa sanh, tại đấy nhập Niết-bàn, không còn trở lại thế giới này nữa. Này gia chủ, đây cũng là một pháp môn đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả... giảng dạy... hoặc có thể chứng đạt được trạng thái vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa từng chứng đạt.”
Puna caparaṁ, gahapati, bhikkhu sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati …pe… sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati. So iti paṭisañcikkhati: ‘ayampi kho ākiñcaññāyatanasamāpatti abhisaṅkhatā abhisañcetayitā’. ‘Yaṁ kho pana kiñci abhisaṅkhataṁ abhisañcetayitaṁ tadaniccaṁ nirodhadhamman’ti pajānāti. So tattha ṭhito āsavānaṁ khayaṁ pāpuṇāti; no ce āsavānaṁ khayaṁ pāpuṇāti, teneva dhammarāgena tāya dhammanandiyā pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātiko hoti tattha parinibbāyī anāvattidhammo tasmā lokā. Ayampi kho, gahapati, tena bhagavatā jānatā …pe… ananuppattaṁ vā anuttaraṁ yogakkhemaṁ anupāpuṇātī”ti.
Furthermore, a mendicant, going totally beyond the dimension of infinite space, aware that ‘consciousness is infinite’, enters and remains in the dimension of infinite consciousness. … Going totally beyond the dimension of infinite consciousness, aware that ‘there is nothing at all’, they enter and remain in the dimension of nothingness. … Then they reflect: ‘Even this attainment of the dimension of nothingness is produced by choices and intentions.’ They understand: ‘But whatever is produced by choices and intentions is impermanent and liable to cessation.’ Abiding in that they attain the ending of defilements. If they don’t attain the ending of defilements, with the ending of the five lower fetters they’re reborn spontaneously, because of their passion and love for that meditation. They are extinguished there, and are not liable to return from that world. This too is one thing that has been rightly explained by the Blessed One—who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha—practicing which a diligent, keen, and resolute mendicant’s mind is freed, their defilements are ended, and they reach the supreme sanctuary from the yoke.”
“Này gia chủ, lại nữa, vị tỳ khưu, do vượt qua hoàn toàn Không Vô Biên Xứ, nghĩ rằng: ‘Thức là vô biên’, chứng và trú Thức Vô Biên Xứ... (như trên)... do vượt qua hoàn toàn Thức Vô Biên Xứ, nghĩ rằng: ‘Không có vật gì’, chứng và trú Vô Sở Hữu Xứ. Vị ấy suy xét như sau: ‘Sự chứng đắc Vô Sở Hữu Xứ này cũng là pháp hữu vi, do tư tác mà có.’ Vị ấy biết rằng: ‘Phàm cái gì là pháp hữu vi, do tư tác mà có, cái ấy là vô thường, chịu sự đoạn diệt.’ An trú trong pháp ấy, vị ấy đạt đến sự diệt tận các lậu hoặc. Nếu không đạt đến sự diệt tận các lậu hoặc, thì do tham ái và hỷ lạc trong pháp ấy, sau khi đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, vị ấy được hóa sanh, tại đấy nhập Niết-bàn, không còn trở lại thế giới này nữa. Này gia chủ, đây cũng là một pháp môn đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả... giảng dạy... hoặc có thể chứng đạt được trạng thái vô thượng an ổn khỏi các ách phược chưa từng chứng đạt.”
Evaṁ vutte dasamo gahapati aṭṭhakanāgaro āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“seyyathāpi, bhante ānanda, puriso ekaṁ nidhimukhaṁ gavesanto sakideva ekādasa nidhimukhāni adhigaccheyya; evamevaṁ kho ahaṁ, bhante, ekaṁ amatadvāraṁ gavesanto sakideva ekādasa amatadvārāni alatthaṁ sevanāya. Seyyathāpi, bhante, purisassa agāraṁ ekādasa dvāraṁ. So tasmiṁ agāre āditte ekamekenapi dvārena sakkuṇeyya attānaṁ sotthiṁ kātuṁ; evamevaṁ kho ahaṁ, bhante, imesaṁ ekādasannaṁ amatadvārānaṁ ekamekenapi amatadvārena sakkuṇissāmi attānaṁ sotthiṁ kātuṁ. Ime hi nāma, bhante, aññatitthiyā ācariyassa ācariyadhanaṁ pariyesissanti. Kiṁ panāhaṁ āyasmato ānandassa pūjaṁ na karissāmī”ti.
When he said this, the householder Dasama said to Venerable Ānanda:
“Honorable Ānanda, suppose a person was looking for the entrance to a treasure trove. And all at once they’d come across eleven entrances! In the same way, I was searching for the door to freedom from death. And all at once I found eleven doors to freedom from death for cultivation. Suppose a person had a house with eleven doors. If the house caught fire they’d be able to flee to safety through any one of those doors. In the same way, I’m able to flee to safety through any one of these eleven doors to freedom from death. Sir, those of other religions will seek a fee for the tutor. Why shouldn’t I make an offering to Venerable Ānanda?”
Khi được nói như vậy, gia chủ Dasama người thành Aṭṭhaka bạch với Tôn giả Ānanda rằng: “Thưa Tôn giả Ānanda, ví như một người đi tìm một miệng kho tàng, lại bất ngờ tìm thấy mười một miệng kho tàng; cũng vậy, thưa Tôn giả, con đi tìm một cửa bất tử, lại bất ngờ tìm được mười một cửa bất tử để tu tập. Thưa Tôn giả, ví như một người có ngôi nhà mười một cửa. Khi ngôi nhà ấy bị cháy, người ấy có thể tự cứu mình cho được an toàn bằng bất cứ cửa nào trong số đó; cũng vậy, thưa Tôn giả, với mười một cửa bất tử này, con có thể tự cứu mình cho được an toàn bằng bất cứ cửa bất tử nào. Thưa Tôn giả, những người ngoại đạo này còn tìm kiếm tài vật cho thầy của họ. Tại sao con lại không cúng dường lên Tôn giả Ānanda chứ!”
Atha kho dasamo gahapati aṭṭhakanāgaro vesālikañca pāṭaliputtakañca bhikkhusaṅghaṁ sannipātāpetvā paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesi sampavāresi. Ekamekañca bhikkhuṁ paccekaṁ dussayugena acchādesi, āyasmantañca ānandaṁ ticīvarena. Āyasmato ānandassa pañcasataṁ vihāraṁ kārāpesīti.
Chaṭṭhaṁ.
Then the householder Dasama, having assembled the Saṅgha from Vesālī and Pāṭaliputta, served and satisfied them with his own hands with delicious fresh and cooked foods. He clothed each and every mendicant in a pair of garments, with a set of three robes for Ānanda. And he had a dwelling worth five hundred built for Ānanda.
Bấy giờ, gia chủ thứ mười, người thành Aṭṭhaka, đã triệu tập chúng Tỳ-khưu ở Vesālī và Pāṭaliputta, rồi tự tay dâng cúng các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, cho đến khi các vị Tỳ-khưu thỏa mãn và từ chối không nhận thêm. Vị ấy cúng dường mỗi vị Tỳ-khưu một cặp y, và cúng dường Tôn giả Ānanda ba y. Vị ấy còn cho xây một ngôi tịnh xá trị giá năm trăm (đồng) cho Tôn giả Ānanda. Hết kinh thứ sáu.