- Aṅguttara Nikāya 10.94
- 10. Upālivagga
Bản dịch
AN 10.94 — Vajjiyamahita
Vajjiyamāhitasutta
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Campà, trên bờ ao Gaggarà. Rồi Gia chủ Vajjiyamàhita, vào buổi sáng sớm đi ra khỏi Campà, đến yết kiến Thế Tôn. Rồi Gia chủ Vajjiyamàhita suy nghĩ: “Nay không phải thời để yết kiến Thế Tôn, Thế Tôn đang thiền tịnh. Cũng không phải thời để yết kiến các Tỷ-kheo đang tu tập về ý, các Tỷ-kheo đang tu tập về ý đang thiền tịnh. Vậy hãy đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo” Rồi Gia chủ Vajjiyamàhita đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo.
TTC 2Lúc bấy giờ, các du sĩ ngoại đạo đang ngồi hội họp, đang tụ họp, ồn ào, cao tiếng, lớn tiếng bàn luận những vấn đề phù phiếm. Các du sĩ ngoại đạo ấy thấy Gia chủ Vajjiyamàhita từ xa đi đến, khi thấy vậy, liền dặn dò bảo với nhau: “Hãy bớt ồn ào, các Tôn giả, chớ làm ồn, các Tôn giả, Gia chủ Vajjiyamàhita này đang đến, một đệ tử của Sa-môn Gotama, có gia đình, mặc áo trắng ở Campà. Gia chủ Vajjiyamàhita là một trong những vị ấy, các vị ấy ưa ít ồn ào, được huấn luyện trong ít ồn ào, tán thán ít ồn ào. Nếu vị ấy thấy hội chúng ít ồn ào, vị ấy có thể nghĩ đến thăm ở đây.” Rồi các du sĩ ngoại đạo ấy giữ im lặng.
TTC 3Rồi Gia chủ Vajjiyamàhita đi đến các du sĩ ngoại đạo ấy; sau khi đến, nói lên với các du sĩ ngoại đạo ấy những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Các du sĩ ngoại đạo ấy nói với Gia chủ Vajjiyamàhita đang ngồi một bên:
—Có đúng sự thật chăng này Gia chủ, Sa-môn Gotama chỉ trích mọi khổ hạnh, nhất hướng bài bác, chống đối mọi khổ hạnh, mọi nếp sống kham khổ?
—Thưa các Tôn giả, Thế Tôn không chỉ trích mọi khổ hạnh, không nhất hướng bài bác, chống đối mọi khổ hạnh, mọi nếp sống kham khổ. Thưa các Tôn giả, Thế Tôn chỉ trích cái gì đáng chỉ trích, tán thán cái gì đáng tán thán. Thưa các Tôn giả, Thế Tôn chỉ trích cái gì đáng chỉ trích, tán thán cái gì đáng tán thán, như vậy Thế Tôn là người phân tích luận, không phải là người nhất hướng luận (nói một chiều).
TTC 4Ðược nói vậy, một du sĩ nói với Gia chủ Vajjiyamàhita: “Thôi chờ ở đây, này Gia chủ, Gia chủ tán thán Sa-môn Gotama và Sa-môn Gotama là người hư vô, một người không bao giờ có định nghĩa rõ ràng”.
—Ở đây, thưa các Tôn giả, tôi nói với các Tôn giả, tôi nói với các Tôn giả đúng pháp: “Đây là thiện, thưa các Tôn giả, Thế Tôn đã định nghĩa. Ðây là bất thiện, thưa các Tôn giả, Thế Tôn đã định nghĩa. Ðây là thiện, đây là bất thiện, Thế Tôn đã định nghĩa. Thế Tôn là người có định nghĩa rõ ràng. Thế Tôn không phải là người chủ trương hư vô, không phải là người không có định nghĩa rõ ràng”. Khi được nói vậy, các du sĩ ấy im lặng, hoang mang, thụt vai, cúi đầu, sửng sờ, không nói nên lời.
TTC 5Rồi Gia chủ Vajjiyamàhita, sau khi biết các du sĩ ngoại đạo ấy im lặng, hoang mang, thụt vai, cúi đầu, sửng sờ, không nói nên lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Gia chủ Vajjiyamàhita, câu chuyện với các du sĩ ngoại đạo như thế nào, tất cả đều thuật lại cho Thế Tôn rõ.
TTC 6—Lành thay, lành thay, này Gia chủ, những kẻ ngu si ấy thường thường cần phải được bác bỏ với sự khéo bác bỏ nhờ Chánh pháp. Này Gia chủ, Ta không nói rằng tất cả khổ hạnh cần phải hành trì. Này Gia chủ, Ta cũng không nói rằng tất cả sự chấp trì cần phải được chấp trì. Này Gia chủ, Ta cũng không nói rằng tất cả sự chấp trì không nên chấp trì. Này Gia chủ, Ta cũng không nói rằng tất cả sự tinh cần phải tinh cần. Này Gia chủ, ta cũng không nói rằng, tất cả sự tinh cần không nên tinh cần. Này Gia chủ, Ta cũng không nói rằng, tất cả sự từ bỏ nên từ bỏ. Này Gia chủ, Ta cũng không nói rằng tất cả sự từ bỏ không nên từ bỏ. Này Gia chủ, Ta cũng không nói rằng tất cả sự giải thoát nên giải thoát. Này Gia chủ, Ta cũng không nói rằng, tất cả sự giải thoát không nên giải thoát.
TTC 7Này Gia chủ, phàm hành trì khổ hạnh nào, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm, khổ hạnh ấy, Ta nói, không nên hành trì. Nhưng này Gia chủ, phàm hành trì khổ hạnh nào, các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng, khổ hạnh ấy, Ta nói nên hành trì. Này Gia chủ, phàm chấp trì nào, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm, chấp trì ấy, Ta nói, không nên chấp trì. Phàm chấp trì nào, các pháp bất thiện tổn giảm, các thiện pháp tăng trưởng, thời chấp trì ấy, Ta nói nên chấp trì. Này Gia chủ, phàm tinh cần nào được tinh cần, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm, thời tinh cần ấy, Ta nói rằng, không nên tinh cần. Phàm tinh cần nào được tinh cần, các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng, thời tinh cần ấy, Ta nói nên tinh cần. Này Gia chủ, phàm từ bỏ sự từ bỏ nào, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm, thời từ bỏ ấy, Ta nói, không nên từ bỏ. Phàm từ bỏ sự từ bỏ nào, các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng, thời từ bỏ ấy, Ta nói, nên từ bỏ. Này Gia chủ, phàm giải thoát sự giải thoát nào, các pháp bất thiện tăng trưởng, các thiện pháp tổn giảm, thời giải thoát ấy, Ta nói, không nên giải thoát. Phàm giải thoát sự giải thoát nào, các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng, thời giải thoát ấy, Ta nói nên giải thoát.
Rồi Gia chủ Vajjiyamàhita sau khi được Thế Tôn với một pháp thoại thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
TTC 8Rồi Thế Tôn, sau khi Gia chủ Vajjiyamàhita ra đi không bao lâu, bảo các Tỷ-kheo:
—Phàm Tỷ-kheo nào, đã lâu ngày với trần cấu ít trong Pháp và Luật này, vị ấy hãy như vậy bài bác các du sĩ ngoại đạo với sự khéo bài bác nhờ Chánh pháp, như Gia chủ Vajjiyamàhita đã làm.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 10.94
- 10. With Upāli
With Vajjiyamāhita
4. Kinh Vajjiyamāhita
Ekaṁ samayaṁ bhagavā campāyaṁ viharati gaggarāya pokkharaṇiyā tīre.
Atha kho vajjiyamāhito gahapati divā divassa campāya nikkhami bhagavantaṁ dassanāya. Atha kho vajjiyamāhitassa gahapatissa etadahosi: “akālo kho tāva bhagavantaṁ dassanāya. Paṭisallīno bhagavā. Manobhāvanīyānampi bhikkhūnaṁ akālo dassanāya. Paṭisallīnā manobhāvanīyāpi bhikkhū. Yannūnāhaṁ yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkameyyan”ti.
At one time the Buddha was staying near Campā on the banks of the Gaggarā Lotus Pond.
Then the householder Vajjiyamāhita left Sāvatthī in the middle of the day to see the Buddha. Then it occurred to him, “It’s the wrong time to see the Buddha, as he’s in retreat. And it’s the wrong time to see the esteemed mendicants, as they’re in retreat. Why don’t I visit the monastery for the wanderers of other religions?”
94. Một thời, Thế Tôn trú ở Campā, bên bờ hồ Gaggarā. Bấy giờ, vào lúc xế chiều, gia chủ Vajjiyamāhita rời khỏi Campā để đi yết kiến Thế Tôn. Bấy giờ, gia chủ Vajjiyamāhita khởi lên ý nghĩ này: “Nay chưa phải lúc để yết kiến Thế Tôn. Thế Tôn đang độc cư. Cũng chưa phải lúc để yết kiến các vị Tỳ khưu đang tu tập tâm. Các vị Tỳ khưu đang tu tập tâm cũng đang độc cư. Hay là ta hãy đi đến tu viện của các du sĩ ngoại đạo.”
Atha kho vajjiyamāhito gahapati yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkami. Tena kho pana samayena te aññatitthiyā paribbājakā saṅgamma samāgamma unnādino uccāsaddamahāsaddā anekavihitaṁ tiracchānakathaṁ kathentā nisinnā honti.
Then he went to the monastery for the wanderers of other religions. Now at that time, the wanderers of other religions had come together, making an uproar, a colossal racket as they sat and talked about all kinds of low topics.
Bấy giờ, gia chủ Vajjiyamāhita đi đến tu viện của các du sĩ ngoại đạo. Vào lúc ấy, các du sĩ ngoại đạo ấy đang tụ tập, hội họp, ồn ào, nói lớn tiếng, nói to tiếng, đang ngồi nói nhiều loại chuyện vô ích.
Addasaṁsu kho te aññatitthiyā paribbājakā vajjiyamāhitaṁ gahapatiṁ dūratova āgacchantaṁ. Disvāna aññamaññaṁ saṇṭhāpesuṁ: “appasaddā bhonto hontu. Mā bhonto saddamakattha. Ayaṁ vajjiyamāhito gahapati āgacchati samaṇassa gotamassa sāvako. Yāvatā kho pana samaṇassa gotamassa sāvakā gihī odātavasanā campāyaṁ paṭivasanti, ayaṁ tesaṁ aññataro vajjiyamāhito gahapati. Appasaddakāmā kho pana te āyasmanto appasaddavinītā appasaddassa vaṇṇavādino. Appeva nāma appasaddaṁ parisaṁ viditvā upasaṅkamitabbaṁ maññeyyā”ti.
They saw Vajjiyamāhita coming off in the distance, and stopped each other, saying, “Be quiet, good fellows, don’t make a sound. The householder Vajjiyamāhita, a disciple of the ascetic Gotama, is coming into our monastery. He is included among the white-clothed lay disciples of the ascetic Gotama, who is residing near Campā. Such venerables like the quiet, are educated to be quiet, and praise the quiet. Hopefully if he sees that our assembly is quiet he’ll see fit to approach.”
Các du sĩ ngoại đạo ấy thấy gia chủ Vajjiyamāhita từ xa đi đến. Thấy vậy, họ bảo nhau giữ im lặng: “Quý vị hãy nói nhỏ thôi. Quý vị đừng làm ồn. Gia chủ Vajjiyamāhita này là đệ tử của Sa-môn Gotama đang đi đến. Trong số các đệ tử tại gia mặc y trắng của Sa-môn Gotama đang sống tại Campā, gia chủ Vajjiyamāhita này là một trong số đó. Các vị tôn giả ấy ưa thích sự yên tĩnh, được huấn luyện trong sự yên tĩnh, và tán thán sự yên tĩnh. Biết đâu khi thấy hội chúng yên tĩnh, vị ấy sẽ nghĩ rằng nên đến gần.”
Atha kho te aññatitthiyā paribbājakā tuṇhī ahesuṁ. Atha kho vajjiyamāhito gahapati yena te aññatitthiyā paribbājakā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā tehi aññatitthiyehi paribbājakehi saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho vajjiyamāhitaṁ gahapatiṁ te aññatitthiyā paribbājakā etadavocuṁ:
“saccaṁ kira, gahapati, samaṇo gotamo sabbaṁ tapaṁ garahati, sabbaṁ tapassiṁ lūkhājīviṁ ekaṁsena upakkosati upavadatī”ti?
“Na kho, bhante, bhagavā sabbaṁ tapaṁ garahati napi sabbaṁ tapassiṁ lūkhājīviṁ ekaṁsena upakkosati upavadati. Gārayhaṁ kho, bhante, bhagavā garahati, pasaṁsitabbaṁ pasaṁsati. Gārayhaṁ kho pana, bhante, bhagavā garahanto pasaṁsitabbaṁ pasaṁsanto vibhajjavādo bhagavā. Na so bhagavā ettha ekaṁsavādo”ti.
Then those wanderers of other religions fell silent. Then Vajjiyamāhita went up to them, and exchanged greetings with the wanderers there. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side. The wanderers said to him:
“Is it really true, householder? Does the ascetic Gotama criticize all forms of mortification? Does he categorically condemn and denounce those fervent mortifiers who live rough?”
“No, sirs, the Buddha does not criticize all forms of mortification. Nor does he categorically condemn and denounce those fervent mortifiers who live rough. The Buddha criticizes where it is due, and praises where it is due. In doing so he is one who speaks after analyzing the question, and is not one-sided on this point.”
Bấy giờ, các du sĩ ngoại đạo ấy giữ im lặng. Bấy giờ, gia chủ Vajjiyamāhita đi đến chỗ các du sĩ ngoại đạo ấy; sau khi đến, đã trao đổi những lời chào hỏi thân thiện, đáng ghi nhớ với các du sĩ ngoại đạo ấy, rồi ngồi xuống một bên. Khi gia chủ Vajjiyamāhita đang ngồi một bên, các du sĩ ngoại đạo ấy nói với ông như sau: “Thưa gia chủ, có thật chăng Sa-môn Gotama chỉ trích mọi khổ hạnh, và hoàn toàn chê bai, khiển trách tất cả những người tu khổ hạnh, sống đạm bạc?” “Thưa quý ngài, Thế Tôn không chỉ trích mọi khổ hạnh, cũng không hoàn toàn chê bai, khiển trách tất cả những người tu khổ hạnh, sống đạm bạc. Thưa quý ngài, Thế Tôn chỉ trích điều đáng chỉ trích, và tán thán điều đáng tán thán. Thưa quý ngài, khi chỉ trích điều đáng chỉ trích và tán thán điều đáng tán thán, Thế Tôn là người có phân tích. Trong trường hợp này, Thế Tôn không phải là người nói một chiều.”
Evaṁ vutte, aññataro paribbājako vajjiyamāhitaṁ gahapatiṁ etadavoca: “āgamehi tvaṁ, gahapati, yassa tvaṁ samaṇassa gotamassa vaṇṇaṁ bhāsati, samaṇo gotamo venayiko appaññattiko”ti?
“Etthapāhaṁ, bhante, āyasmante vakkhāmi sahadhammena: ‘idaṁ kusalan’ti, bhante, bhagavatā paññattaṁ; ‘idaṁ akusalan’ti, bhante, bhagavatā paññattaṁ. Iti kusalākusalaṁ bhagavā paññāpayamāno sapaññattiko bhagavā; na so bhagavā venayiko appaññattiko”ti.
When he said this, one of the wanderers said to him, “Hold on, householder! That ascetic Gotama who you praise is an exterminator who refrains from making statements.”
“On this point, also, I reasonably respond to the venerables. The Buddha has stated ‘This is skillful’ and ‘This is unskillful’. So when it comes to what is skillful and unskillful the Buddha makes a statement. He is not an exterminator who refrains from making statements.”
Khi được nói như vậy, một du sĩ ngoại đạo nói với gia chủ Vajjiyamāhita: “Này gia chủ, hãy khoan đã. Vị Sa-môn Gotama mà ông tán thán ấy là người chủ trương hư vô, không có sự chế định.” “Thưa quý ngài, về điểm này, tôi sẽ nói với quý vị đúng với Chánh pháp. Thưa quý ngài, Thế Tôn đã chế định: ‘Đây là thiện’. Thưa quý ngài, Thế Tôn đã chế định: ‘Đây là bất thiện’. Như vậy, khi chế định thiện và bất thiện, Thế Tôn là người có sự chế định; Thế Tôn không phải là người chủ trương hư vô, không có sự chế định.”
Evaṁ vutte te paribbājakā tuṇhībhūtā maṅkubhūtā pattakkhandhā adhomukhā pajjhāyantā appaṭibhānā nisīdiṁsu. Atha kho vajjiyamāhito gahapati te paribbājake tuṇhībhūte maṅkubhūte pattakkhandhe adhomukhe pajjhāyante appaṭibhāne viditvā uṭṭhāyāsanā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho vajjiyamāhito gahapati yāvatako ahosi tehi aññatitthiyehi paribbājakehi saddhiṁ kathāsallāpo taṁ sabbaṁ bhagavato ārocesi.
When this was said, those wanderers sat silent, dismayed, shoulders drooping, downcast, depressed, with nothing to say. Seeing this, Vajjiyamāhita rose from his seat. He went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and informed the Buddha of all they had discussed.
Khi được nói như vậy, các du sĩ ngoại đạo ấy im lặng, bối rối, vai rũ xuống, mặt cúi gằm, trầm ngâm, không thể đối đáp, rồi ngồi xuống. Bấy giờ, gia chủ Vajjiyamāhita thấy các du sĩ ngoại đạo ấy im lặng, bối rối, vai rũ xuống, mặt cúi gằm, trầm ngâm, không thể đối đáp, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên xong, gia chủ Vajjiyamāhita trình lên Thế Tôn toàn bộ cuộc đối thoại đã diễn ra với các du sĩ ngoại đạo ấy.
“Sādhu sādhu, gahapati. Evaṁ kho te, gahapati, moghapurisā kālena kālaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetabbā. Nāhaṁ, gahapati, sabbaṁ tapaṁ tapitabbanti vadāmi; na ca panāhaṁ, gahapati, sabbaṁ tapaṁ na tapitabbanti vadāmi; nāhaṁ, gahapati, sabbaṁ samādānaṁ samāditabbanti vadāmi; na panāhaṁ, gahapati, sabbaṁ samādānaṁ na samāditabbanti vadāmi; nāhaṁ, gahapati, sabbaṁ padhānaṁ padahitabbanti vadāmi; na panāhaṁ, gahapati, sabbaṁ padhānaṁ na padahitabbanti vadāmi; nāhaṁ, gahapati, sabbo paṭinissaggo paṭinissajjitabboti vadāmi. Na panāhaṁ, gahapati, sabbo paṭinissaggo na paṭinissajjitabboti vadāmi; nāhaṁ, gahapati, sabbā vimutti vimuccitabbāti vadāmi; na panāhaṁ, gahapati, sabbā vimutti na vimuccitabbāti vadāmi.
“Good, good, householder! That’s how you should legitimately and completely refute those futile men from time to time. Householder, I don’t say that all mortifications should be undergone. But I don’t say that no mortifications should be undergone. I don’t say that all observances should be undertaken. But I don’t say that no observances should be undertaken. I don’t say that all efforts should be tried. But I don’t say that no efforts should be tried. I don’t say that everything should be given up. But I don’t say that nothing should be given up. I don’t say that you should be liberated with all kinds of freedom. But I don’t say that you should not be liberated with any kind of freedom.
Lành thay, lành thay, này gia chủ! Này gia chủ, những kẻ ngu muội ấy thỉnh thoảng phải được khiển trách một cách khéo léo đúng với Chánh pháp như vậy. Này gia chủ, Ta không nói rằng tất cả khổ hạnh cần phải được thực hành; và này gia chủ, Ta cũng không nói rằng tất cả khổ hạnh không cần phải được thực hành. Này gia chủ, Ta không nói rằng tất cả sự chấp trì cần phải được chấp trì; và này gia chủ, Ta cũng không nói rằng tất cả sự chấp trì không cần phải được chấp trì. Này gia chủ, Ta không nói rằng tất cả sự tinh tấn cần phải được tinh tấn; và này gia chủ, Ta cũng không nói rằng tất cả sự tinh tấn không cần phải được tinh tấn. Này gia chủ, Ta không nói rằng tất cả sự từ bỏ cần phải được từ bỏ; và này gia chủ, Ta cũng không nói rằng tất cả sự từ bỏ không cần phải được từ bỏ. Này gia chủ, Ta không nói rằng tất cả sự giải thoát cần phải được giải thoát; và này gia chủ, Ta cũng không nói rằng tất cả sự giải thoát không cần phải được giải thoát.
Yañhi, gahapati, tapaṁ tapato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti, evarūpaṁ tapaṁ na tapitabbanti vadāmi. Yañca khvassa, gahapati, tapaṁ tapato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti, evarūpaṁ tapaṁ tapitabbanti vadāmi.
When undergoing certain mortifications, unskillful qualities grow while skillful qualities decline. I say that you shouldn’t undergo those mortifications. When undergoing certain mortifications, unskillful qualities decline while skillful qualities grow. I say that you should undergo those mortifications.
Này gia chủ, đối với khổ hạnh nào mà khi thực hành, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện suy giảm, Ta nói rằng loại khổ hạnh như vậy không nên thực hành. Và này gia chủ, đối với khổ hạnh nào mà khi thực hành, các pháp bất thiện suy giảm, các pháp thiện tăng trưởng, Ta nói rằng loại khổ hạnh như vậy nên được thực hành.
Yañhi, gahapati, samādānaṁ samādiyato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti, evarūpaṁ samādānaṁ na samāditabbanti vadāmi. Yañca khvassa, gahapati, samādānaṁ samādiyato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti, evarūpaṁ samādānaṁ samāditabbanti vadāmi.
When undertaking certain observances, unskillful qualities grow while skillful qualities decline. I say that you shouldn’t undertake those observances. When undertaking certain observances, unskillful qualities decline while skillful qualities grow. I say that you should undertake those observances.
Này gia chủ, đối với sự chấp trì nào mà khi chấp trì, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện suy giảm, Ta nói rằng loại chấp trì như vậy không nên chấp trì. Và này gia chủ, đối với sự chấp trì nào mà khi chấp trì, các pháp bất thiện suy giảm, các pháp thiện tăng trưởng, Ta nói rằng loại chấp trì như vậy nên được chấp trì.
Yañhi, gahapati, padhānaṁ padahato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti, evarūpaṁ padhānaṁ na padahitabbanti vadāmi. Yañca khvassa, gahapati, padhānaṁ padahato akusalā dhammā parihāyanti kusalā dhammā abhivaḍḍhanti, evarūpaṁ padhānaṁ padahitabbanti vadāmi.
When trying certain efforts, unskillful qualities grow while skillful qualities decline. I say that you shouldn’t try those efforts. When trying certain efforts, unskillful qualities decline while skillful qualities grow. I say that you should try those efforts.
Này gia chủ, đối với sự tinh tấn nào mà khi tinh tấn, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện suy giảm, Ta nói rằng loại tinh tấn như vậy không nên tinh tấn. Và này gia chủ, đối với sự tinh tấn nào mà khi tinh tấn, các pháp bất thiện suy giảm, các pháp thiện tăng trưởng, Ta nói rằng loại tinh tấn như vậy nên được tinh tấn.
Yañhi, gahapati, paṭinissaggaṁ paṭinissajjato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti, evarūpo paṭinissaggo na paṭinissajjitabboti vadāmi. Yañca khvassa, gahapati, paṭinissaggaṁ paṭinissajjato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti, evarūpo paṭinissaggo paṭinissajjitabboti vadāmi.
When giving up certain things, unskillful qualities grow while skillful qualities decline. I say that you shouldn’t give up those things. When giving up certain things, unskillful qualities decline while skillful qualities grow. I say that you should give up those things.
Này gia chủ, đối với sự từ bỏ nào mà khi từ bỏ, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện suy giảm, Ta nói rằng loại từ bỏ như vậy không nên từ bỏ. Và này gia chủ, đối với sự từ bỏ nào mà khi từ bỏ, các pháp bất thiện suy giảm, các pháp thiện tăng trưởng, Ta nói rằng loại từ bỏ như vậy nên được từ bỏ.
Yañhi, gahapati, vimuttiṁ vimuccato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti, evarūpā vimutti na vimuccitabbāti vadāmi. Yañca khvassa, gahapati, vimuttiṁ vimuccato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti, evarūpā vimutti vimuccitabbāti vadāmī”ti.
When being liberated with certain kinds of freedom, unskillful qualities grow while skillful qualities decline. I say that you shouldn’t be liberated with those kinds of freedom. When being liberated with certain kinds of freedom, unskillful qualities decline while skillful qualities grow. I say that you should be liberated with those kinds of freedom.”
Này gia chủ, đối với sự giải thoát nào mà khi giải thoát, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện suy giảm, Ta nói rằng loại giải thoát như vậy không nên giải thoát. Và này gia chủ, đối với sự giải thoát nào mà khi giải thoát, các pháp bất thiện suy giảm, các pháp thiện tăng trưởng, Ta nói rằng loại giải thoát như vậy nên được giải thoát.
Atha kho vajjiyamāhito gahapati bhagavatā dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
After Vajjiyamāhita had been educated, encouraged, fired up, and inspired with a Dhamma talk by the Buddha, he got up from his seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before leaving.
Bấy giờ, gia chủ Vajjiyamāhita, sau khi được Thế Tôn dùng pháp thoại chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh theo chiều bên phải rồi ra về.
Atha kho bhagavā acirapakkante vajjiyamāhite gahapatimhi bhikkhū āmantesi: “yopi so, bhikkhave, bhikkhu dīgharattaṁ apparajakkho imasmiṁ dhammavinaye, sopi evamevaṁ aññatitthiye paribbājake sahadhammena suniggahitaṁ niggaṇheyya yathā taṁ vajjiyamāhitena gahapatinā niggahitā”ti.
Catutthaṁ.
Then, not long after Vajjiyamāhita had left, the Buddha addressed the mendicants: “Mendicants, even a mendicant who for a long time has had little dust in their eye in this teaching and training would legitimately and completely refute those wanderers of other religions just as the householder Vajjiyamāhita did.”
Bấy giờ, sau khi gia chủ Vajjiyamāhita ra về không lâu, Thế Tôn gọi các Tỳ khưu: "Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nào ở trong Pháp và Luật này đã lâu ngày, ít bụi trần, vị ấy cũng nên khiển trách một cách khéo léo đúng với Chánh pháp đối với các du sĩ ngoại đạo, giống như gia chủ Vajjiyamāhita đã khiển trách vậy." Hết kinh thứ tư.