- Aṅguttara Nikāya 10.93
- 10. Upālivagga
Bản dịch
AN 10.93 — Kiến
Kiṁdiṭṭhikasutta
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại khu vườn Anàthapindika. Bấy giờ có Gia chủ Anàthapindika, vào buổi sáng thật sớm đi ra khỏi Sàvatthi để yết kiến Thế Tôn. Rồi Gia chủ Anàthapindika suy nghĩ: “Nay không phải thời để yết kiến Thế Tôn. Thế Tôn đang Thiền tịnh. Cũng không phải thời để yến kiến các vị Tỷ-kheo đang tu tập về ý, các Tỷ-kheo tu tập về ý đang Thiền tịnh. Vậy ta hãy đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo”. Rồi Gia chủ Anàthapindika đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo.
TTC 2Lúc bấy giờ, các du sĩ ngoại đạo đang ngồi hội họp, đang tụ họp ồn ào, cao tiếng, lớn tiếng bàn luận những vấn đề phù phiếm. Các du sĩ ngoại đạo ấy thấy Gia chủ Anàthapindika từ xa đi đến, khi thấy vậy liền dặn dò bảo với nhau: “Hãy bớt ồn ào, các Tôn giả chớ có làm ồn, các Tôn giả. Gia chủ Anàthapindika này đang đến, một đệ tử của Sa-môn Gotama, trong những đệ tử của Sa-môn Gotama có gia đình mặc áo trắng ở Sàvatthi, Gia chủ Anàthapindika là một trong những vị ấy. Các vị ấy ít ưa ồn ào, được huấn luyện trong ít ồn ào, tán thán ít ồn ào. Nếu vị ấy thấy hội chúng ít ồn ào, vị ấy có thể nghĩ đến thăm ở đây”. Rồi các du sĩ ngoại đạo ấy giữ im lặng.
TTC 3Rồi Gia chủ Anàthapinidika đi đến các du sĩ đạo ấy, sau khi đến, nói lên với các du sĩ ngoại đạo ấy những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Các du sĩ ngoại đạo ấy nói với Gia chủ Anàthapidika đang ngồi một bên:
—Này Gia chủ, hãy nói lên Sa-môn Gotama có kiến gì?
—Thưa các Tôn giả, tôi không biết tất cả kiến của Thế Tôn.
—Này Gia chủ, Gia chủ có thể không biết tất cả kiến của Sa-môn Gotama. Nhưng này Gia chủ, hãy nói các Tỷ-kheo có kiến gì?
—Thưa các Tôn giả, tôi không biết tất cả kiến của các Tỷ-kheo.
—Này Gia chủ, Gia chủ có thể không biết tất cả kiến của Sa-môn Gotama, Gia chủ có thể không biết tất cả kiến của các Tỷ-kheo. Vậy này Gia chủ, hãy nói về kiến của Gia chủ.
—Thưa các Tôn giả, thật không khó gì để chúng tôi trả lời về kiến của chúng tôi. Nhưng các Tôn giả hãy trả lời về kiến của các Tôn giả trước. Rồi sau thật không khó gì để chúng tôi trả lời về kiến của chúng tôi.
TTC 4Khi được nói vậy, một du sĩ ngoại đạo nói với Gia chủ Anàthapindika: “Thường còn là thế giới. Kiến này là sự thật. Kiến nào khác là hư vọng. Này Gia chủ, như vậy là kiến của tôi”. Một du sĩ ngoại đạo khác nói với Gia chủ Anàthapindika: “Vô thường là thế giới. Kiến này là sự thật. Kiến nào khác là hư vọng. Như vậy là kiến của tôi.” Rồi một du sĩ ngoại đạo khác nói với Gia chủ Anàthapindika: “Có biên tế là thế giới… không có biên tế là thế giới… mạng sống và thân thể là một… mạng sống và thân thể là khác… Như Lai có tồn tại sau khi chết… Như Lai không có tồn tại sau khi chết… Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau khi chết… Như Lai không có tồn tại và không không có tồn tại sau khi chết. Kiến này là sự thật. Kiến nào khác là hư vọng. Này Gia chủ, như vậy là kiến của tôi”.
TTC 5Khi nghe nói vậy, Gia chủ Anàthapindika nói với các du sĩ ngoại đạo ấy:
—Thưa các Tôn giả, Tôn giả nào nói như sau: “Thường còn là thế giới. Kiến này là sự thật. Kiến nào khác là hư vọng. Này Gia chủ, như vậy là kiến của tôi”. Kiến này của Tôn giả ấy, hoặc nhân tự mình tác ý không hợp lý, hay do duyên nghe tiếng người khác nói. Kiến ấy như vậy được sanh, được tác thành (hữu vi) do tâm suy tư, do duyên khởi lên. Và cái gì được sanh, được tác thành, do tâm suy tư, do duyên khởi lên, cái ấy là vô thường; cái gì vô thường, cái ấy là khổ; cái (khổ) ấy, Tôn giả chấp trước (dính vào); cái (khổ) ấy, Tôn giả chấp nhận. Thưa các Tôn giả, Tôn giả nào nói như sau: “Vô thường là thế giới này… có biên tế là thế giới này… không biên tế là thế giới này…sinh mạng và thân thể là một… sinh mạng và thân thể là khác… Như Lai có tồn tại sau khi chết… Như Lai không tồn tại sau khi chết… Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết. Kiến này là sự thật. Kiến nào khác là hư vọng. Này Gia chủ, như vậy là kiến của tôi”. Kiến này của Tôn giả ấy, hoặc nhân tự mình tác ý không hợp lý, hoặc do duyên nghe tiếng người khác nói. Kiến như vậy được sanh, được tác thành, do tâm suy tư, do duyên khởi lên. Và cái gì được sanh, được tác thành, do tâm suy tư, do duyên khởi lên, cái ấy là vô thường; cái gì vô thường, cái ấy là khổ; cái (khổ) ấy, Tôn giả chấp trước; cái khổ ấy, Tôn giả chấp nhận.
TTC 6Khi được nói vậy, các du sĩ ngoại đạo ấy nói với Gia chủ Anàthapindika:
—Này Gia chủ, tất cả kiến của chúng tôi đã được nói lên. Này Gia chủ, hãy nói lên kiến của Gia chủ là gì?
—Thưa các Tôn giả, phàm cái gì được sanh, được tác thành do tâm suy tư, do duyên được khởi lên, cái ấy là vô thường. Cái gì vô thường, cái ấy là khổ. Cái gì là khổ, cái ấy là “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.” Tôi có kiến như vậy, thưa các Tôn giả.
—Này Gia chủ, phàm cái gì được sanh, được tác thành, do tâm suy tư, do duyên được khởi lên, cái ấy là vô thường. Cái gì vô thường, cái ấy là khổ. Cái gì là khổ, cái ấy, này Gia chủ, Gia chủ lại chấp trước, cái ấy, này Gia chủ, Gia chủ lại chấp nhận.
—Thưa các Tôn giả, phàm cái gì được sanh, được tác thành, do tâm suy tư, do duyên được khởi lên, cái ấy là vô thường. Cái gì vô thường, cái ấy là khổ. Cái gì khổ, cái ấy là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Như vậy là như thật khéo thấy với chánh trí tuệ. Và từ nơi khổ ấy, tôi như thật rõ biết sự xuất ly hơn thế nữa.
Khi nghe nói như vậy, các du sĩ ngoại đạo ấy ngồi im lặng, hoang mang, thụt vai, cúi đầu, sửng sờ, không nói lên lời.
TTC 7Rồi Gia chủ Anàthapinika, sau khi biết các du sĩ ngoại đạo ấy im lặng, hoang mang, thụt vai, cúi đầu, sửng sờ, không nói lên lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Gia chủ Anàthapindika, câu chuyện với các du sĩ ngoại đạo ấy như thế nào, đều thuật lại tất cả cho Thế Tôn rõ.
—“Lành thay, lành thay, này Gia chủ. Như vậy, này Gia chủ, những kẻ ngu si ấy thường cần phải được bác bỏ với sự khéo bác bỏ nhờ Chánh pháp”. Rồi Thế Tôn với một bài pháp thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ Gia chủ Anàthapindika. Rồi Gia chủ Anàthapindika, sau khi được Thế Tôn với bài pháp thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
TTC 8Rồi Thế Tôn, sau khi Gia chủ Anàthapindika ra đi không bao lâu, bảo các vị Tỷ-kheo:
—Tỷ-kheo nào dầu đã được đầy đủ 100 năm an cư mùa mưa trong Pháp và Luật này, vị ấy cần phải như vậy, thường thường bác bỏ các du sĩ ngoại đạo, với sự khéo bác bỏ nhờ Chánh pháp, như Gia chủ Anàhtapindika đã khéo bác bỏ.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 10.93
- 10. With Upāli
What is Your View?
3. Kinh Kiṃdiṭṭhika
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati divā divassa sāvatthiyā nikkhami bhagavantaṁ dassanāya. Atha kho anāthapiṇḍikassa gahapatissa etadahosi: “akālo kho tāva bhagavantaṁ dassanāya. Paṭisallīno bhagavā. Manobhāvanīyānampi bhikkhūnaṁ akālo dassanāya. Paṭisallīnā manobhāvanīyā bhikkhū. Yannūnāhaṁ yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkameyyan”ti.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.
Then the householder Anāthapiṇḍika left Sāvatthī in the middle of the day to see the Buddha. Then it occurred to him, “It’s the wrong time to see the Buddha, as he’s in retreat. And it’s the wrong time to see the esteemed mendicants, as they’re in retreat. Why don’t I visit the monastery for the wanderers of other religions?”
93. Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Bấy giờ, gia chủ Anāthapiṇḍika vào ban ngày rời khỏi Sāvatthī để đến yết kiến Thế Tôn. Rồi gia chủ Anāthapiṇḍika suy nghĩ thế này: ‘Nay không phải thời để yết kiến Thế Tôn. Thế Tôn đang độc cư. Cũng không phải thời để yết kiến các vị Tỳ khưu đáng tu tập tâm. Các vị Tỳ khưu đáng tu tập tâm đang độc cư. Vậy ta hãy đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo.’
Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkami. Tena kho pana samayena aññatitthiyā paribbājakā saṅgamma samāgamma unnādino uccāsaddamahāsaddā anekavihitaṁ tiracchānakathaṁ kathentā nisinnā honti.
Addasaṁsu kho te aññatitthiyā paribbājakā anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ dūratova āgacchantaṁ. Disvāna aññamaññaṁ saṇṭhāpesuṁ: “appasaddā bhonto hontu, mā bhonto saddamakattha. Ayaṁ anāthapiṇḍiko gahapati ārāmaṁ āgacchati samaṇassa gotamassa sāvako. Yāvatā kho pana samaṇassa gotamassa sāvakā gihī odātavasanā sāvatthiyaṁ paṭivasanti, ayaṁ tesaṁ aññataro anāthapiṇḍiko gahapati. Appasaddakāmā kho pana te āyasmanto appasaddavinītā appasaddassa vaṇṇavādino. Appeva nāma appasaddaṁ parisaṁ viditvā upasaṅkamitabbaṁ maññeyyā”ti.
Then he went to the monastery for the wanderers of other religions. Now at that time, the wanderers of other religions had come together, making an uproar, a colossal racket as they sat and talked about all kinds of low topics.
They saw Anāthapiṇḍika coming off in the distance, and stopped each other, saying, “Be quiet, good fellows, don’t make a sound. The householder Anāthapiṇḍika, a disciple of the ascetic Gotama, is coming into our monastery. He is included among the white-clothed lay disciples of the ascetic Gotama, who is residing in Sāvatthī. Such venerables like the quiet, are educated to be quiet, and praise the quiet. Hopefully if he sees that our assembly is quiet he’ll see fit to approach.”
Rồi gia chủ Anāthapiṇḍika đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo. Bấy giờ, các du sĩ ngoại đạo ấy đang tụ tập, hội họp, nói chuyện ồn ào, với tiếng la lớn, tiếng huyên náo, và đang ngồi nói nhiều loại chuyện vô ích. Các du sĩ ngoại đạo ấy thấy gia chủ Anāthapiṇḍika từ xa đi đến. Thấy vậy, họ bảo nhau im lặng: ‘Quý vị hãy im lặng, quý vị chớ có làm ồn. Vị gia chủ Anāthapiṇḍika này, một đệ tử của Sa-môn Gotama, đang đi đến khu vườn. Trong số các đệ tử tại gia mặc áo trắng của Sa-môn Gotama đang sống ở Sāvatthī, vị gia chủ Anāthapiṇḍika này là một trong số đó. Các vị tôn giả ấy ưa thích sự yên tĩnh, được huấn luyện trong sự yên tĩnh, là những người tán thán sự yên tĩnh. Có lẽ, khi biết hội chúng đang yên tĩnh, vị ấy sẽ nghĩ là nên đến gần.’
Atha kho te aññatitthiyā paribbājakā tuṇhī ahesuṁ. Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati yena te aññatitthiyā paribbājakā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā tehi aññatitthiyehi paribbājakehi saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ te aññatitthiyā paribbājakā etadavocuṁ: “vadehi, gahapati, kiṁdiṭṭhiko samaṇo gotamo”ti?
“Na kho ahaṁ, bhante, bhagavato sabbaṁ diṭṭhiṁ jānāmī”ti.
Then those wanderers of other religions fell silent. Then Anāthapiṇḍika went up to them, and exchanged greetings with those wanderers. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side. The wanderers said to him, “Tell us, householder, what is the view of the ascetic Gotama?”
“Sirs, I don’t know all his views.”
Bấy giờ, các vị du sĩ ngoại đạo ấy đã giữ im lặng. Rồi gia chủ Anāthapiṇḍika đi đến chỗ các vị du sĩ ngoại đạo ấy; sau khi đến, ông đã cùng với các vị du sĩ ngoại đạo ấy nói lời chào hỏi thân thiện. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện đáng ghi nhớ, ông ngồi xuống một bên. Các vị du sĩ ngoại đạo ấy đã nói điều này với gia chủ Anāthapiṇḍika đang ngồi một bên: 'Này gia chủ, hãy nói đi, Sa-môn Gotama có kiến giải gì?' 'Thưa các ngài, tôi quả thật không biết tất cả kiến giải của Đức Thế Tôn.'
“Iti kira tvaṁ, gahapati, na samaṇassa gotamassa sabbaṁ diṭṭhiṁ jānāsi; vadehi, gahapati, kiṁdiṭṭhikā bhikkhū”ti?
“Bhikkhūnampi kho ahaṁ, bhante, na sabbaṁ diṭṭhiṁ jānāmī”ti.
“Well then, since it seems you don’t know all the views of the ascetic Gotama, tell us, what are the views of the mendicants?”
“Sirs, I don’t know all the mendicants’ views.”
'Vậy ra, này gia chủ, ông không biết tất cả kiến giải của Sa-môn Gotama; hãy nói đi, này gia chủ, các vị tỳ khưu có kiến giải gì?' 'Thưa các ngài, tôi quả thật cũng không biết tất cả kiến giải của các vị tỳ khưu.'
“Iti kira tvaṁ, gahapati, na samaṇassa gotamassa sabbaṁ diṭṭhiṁ jānāsi napi bhikkhūnaṁ sabbaṁ diṭṭhiṁ jānāsi; vadehi, gahapati, kiṁdiṭṭhikosi tuvan”ti?
“Etaṁ kho, bhante, amhehi na dukkaraṁ byākātuṁ yaṁdiṭṭhikā mayaṁ. Iṅgha tāva āyasmanto yathāsakāni diṭṭhigatāni byākarontu, pacchāpetaṁ amhehi na dukkaraṁ bhavissati byākātuṁ yaṁdiṭṭhikā mayan”ti.
“Well then, since it seems you don’t know all the views of the ascetic Gotama or of the mendicants, tell us, householder, what is your view?”
“Sirs, it’s not hard for me to explain what my views are. But please, let the venerables explain their own convictions first. Afterwards it won’t be hard for me to explain my views.”
'Vậy ra, này gia chủ, ông không biết tất cả kiến giải của Sa-môn Gotama, cũng không biết tất cả kiến giải của các vị tỳ khưu; hãy nói đi, này gia chủ, ông có kiến giải gì?' 'Thưa các ngài, quả thật đối với chúng tôi, việc giải thích chúng tôi có kiến giải gì không phải là khó. Vậy thì, trước hết, mong các hiền giả hãy giải thích về các kiến chấp của riêng mình. Sau đó, việc giải thích chúng tôi có kiến giải gì sẽ không khó đối với chúng tôi.'
Evaṁ vutte, aññataro paribbājako anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ etadavoca: “sassato loko, idameva saccaṁ moghamaññanti—evaṁdiṭṭhiko ahaṁ, gahapatī”ti.
When he said this, one of the wanderers said to him, “The cosmos is eternal. This is the only truth, anything else is futile. That’s my view, householder.”
Khi được nói như vậy, một vị du sĩ đã nói điều này với gia chủ Anāthapiṇḍika: 'Thế giới là thường hằng, chỉ có điều này là sự thật, điều khác là sai lầm – này gia chủ, tôi có kiến giải như vậy.'
Aññataropi kho paribbājako anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ etadavoca: “asassato loko, idameva saccaṁ moghamaññanti—evaṁdiṭṭhiko ahaṁ, gahapatī”ti.
Another wanderer said, “The cosmos is not eternal. This is the only truth, anything else is futile. That’s my view, householder.”
Một vị du sĩ khác cũng đã nói điều này với gia chủ Anāthapiṇḍika: 'Thế giới là vô thường, chỉ có điều này là sự thật, điều khác là sai lầm – này gia chủ, tôi có kiến giải như vậy.'
Aññataropi kho paribbājako anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ etadavoca: “antavā loko …pe… anantavā loko … taṁ jīvaṁ taṁ sarīraṁ … aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīraṁ … hoti tathāgato paraṁ maraṇā … na hoti tathāgato paraṁ maraṇā … hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā … neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññanti—evaṁdiṭṭhiko ahaṁ, gahapatī”ti.
Another wanderer said, “The cosmos is finite …” … “The cosmos is infinite …” … “The soul and the body are one and the same …” … “The soul is one thing, the body another …” … “A realized one still exists after death …” … “A realized one no longer exists after death …” … “A realized one both still exists and no longer exists after death …” … “A Realized One neither still exists nor no longer exists after death. This is the only truth, anything else is futile. That’s my view, householder.”
Một vị du sĩ khác cũng đã nói điều này với gia chủ Anāthapiṇḍika: 'Thế giới là hữu biên... cho đến... thế giới là vô biên... sinh mạng và thân thể là một... sinh mạng là khác, thân thể là khác... Như Lai có tồn tại sau khi chết... Như Lai không tồn tại sau khi chết... Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết... Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết, chỉ có điều này là sự thật, điều khác là sai lầm – này gia chủ, tôi có kiến giải như vậy.'
Evaṁ vutte, anāthapiṇḍiko gahapati te paribbājake etadavoca: “yvāyaṁ, bhante, āyasmā evamāha: ‘sassato loko, idameva saccaṁ moghamaññanti—evaṁdiṭṭhiko ahaṁ, gahapatī’ti, imassa ayamāyasmato diṭṭhi attano vā ayonisomanasikārahetu uppannā paratoghosapaccayā vā. Sā kho panesā diṭṭhi bhūtā saṅkhatā cetayitā paṭiccasamuppannā. Yaṁ kho pana kiñci bhūtaṁ saṅkhataṁ cetayitaṁ paṭiccasamuppannaṁ tadaniccaṁ. Yadaniccaṁ taṁ dukkhaṁ. Yaṁ dukkhaṁ tadeveso āyasmā allīno, tadeveso āyasmā ajjhupagato.
When this was said, Anāthapiṇḍika said this, “Sirs, regarding the venerable who said this: ‘The cosmos is eternal. This is the only truth, anything else is futile. That’s my view, householder.’ This view of his has either arisen from his own irrational application of mind, or is conditioned by what someone else says. But that view is created, conditioned, chosen, dependently originated. Whatever is created, conditioned, chosen, and dependently originated is impermanent. And what’s impermanent is suffering. What he clings to and holds to is just suffering.
Khi được nói như vậy, gia chủ Anāthapiṇḍika đã nói điều này với các vị du sĩ ấy: 'Thưa các ngài, vị hiền giả nào đã nói như vầy: ‘Thế giới là thường hằng, chỉ có điều này là sự thật, điều khác là sai lầm – này gia chủ, tôi có kiến giải như vậy,’ kiến giải này của vị hiền giả ấy đã sanh khởi hoặc do nhân là sự tác ý không như lý của tự thân, hoặc do duyên là âm thanh từ người khác. Và quả thật, kiến giải ấy là cái đã được sanh ra, được tạo tác, được chủ ý, là pháp do duyên sanh. Và bất cứ cái gì đã được sanh ra, được tạo tác, được chủ ý, là pháp do duyên sanh, cái ấy là vô thường. Cái gì vô thường, cái ấy là khổ. Cái gì là khổ, vị hiền giả ấy đã dính mắc vào chính cái đó, vị hiền giả ấy đã chấp thủ vào chính cái đó.
Yopāyaṁ, bhante, āyasmā evamāha: ‘asassato loko, idameva saccaṁ moghamaññanti—evaṁdiṭṭhiko ahaṁ, gahapatī’ti, imassāpi ayamāyasmato diṭṭhi attano vā ayonisomanasikārahetu uppannā paratoghosapaccayā vā. Sā kho panesā diṭṭhi bhūtā saṅkhatā cetayitā paṭiccasamuppannā. Yaṁ kho pana kiñci bhūtaṁ saṅkhataṁ cetayitaṁ paṭiccasamuppannaṁ tadaniccaṁ. Yadaniccaṁ taṁ dukkhaṁ. Yaṁ dukkhaṁ tadeveso āyasmā allīno, tadeveso āyasmā ajjhupagato.
Regarding the venerable who said this: ‘The cosmos is not eternal. This is the only truth, anything else is futile. That’s my view, householder.’ This view of his has either arisen from his own irrational application of mind, or is conditioned by what someone else says. But that view is created, conditioned, chosen, dependently originated. Whatever is created, conditioned, chosen, and dependently originated is impermanent. And what’s impermanent is suffering. What he clings to and holds to is just suffering.
'Thưa các ngài, và vị hiền giả nào đã nói như vầy: ‘Thế giới là vô thường, chỉ có điều này là sự thật, điều khác là sai lầm – này gia chủ, tôi có kiến giải như vậy,’ kiến giải này của vị hiền giả ấy cũng đã sanh khởi hoặc do nhân là sự tác ý không như lý của tự thân, hoặc do duyên là âm thanh từ người khác. Và quả thật, kiến giải ấy là cái đã được sanh ra, được tạo tác, được chủ ý, là pháp do duyên sanh. Và bất cứ cái gì đã được sanh ra, được tạo tác, được chủ ý, là pháp do duyên sanh, cái ấy là vô thường. Cái gì vô thường, cái ấy là khổ. Cái gì là khổ, vị hiền giả ấy đã dính mắc vào chính cái đó, vị hiền giả ấy đã chấp thủ vào chính cái đó.
Yopāyaṁ, bhante, āyasmā evamāha: ‘antavā loko …pe… anantavā loko … taṁ jīvaṁ taṁ sarīraṁ … aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīraṁ … hoti tathāgato paraṁ maraṇā … na hoti tathāgato paraṁ maraṇā … hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā … neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññanti—evaṁdiṭṭhiko ahaṁ, gahapatī’ti, imassāpi ayamāyasmato diṭṭhi attano vā ayonisomanasikārahetu uppannā paratoghosapaccayā vā. Sā kho panesā diṭṭhi bhūtā saṅkhatā cetayitā paṭiccasamuppannā. Yaṁ kho pana kiñci bhūtaṁ saṅkhataṁ cetayitaṁ paṭiccasamuppannaṁ tadaniccaṁ. Yadaniccaṁ taṁ dukkhaṁ. Yaṁ dukkhaṁ tadeveso āyasmā allīno, tadeveso āyasmā ajjhupagato”ti.
Regarding the venerable who said this: ‘The cosmos is finite …’ … ‘The cosmos is infinite …’ … ‘The soul and the body are one and the same …’ … ‘The soul is one thing, the body another …’ … ‘A realized one still exists after death …’ … ‘A realized one no longer exists after death …’ … ‘A realized one both still exists and no longer exists after death …’ … ‘A Realized One neither still exists nor no longer exists after death. This is the only truth, anything else is futile. That’s my view, householder.’ This view of his has either arisen from his own irrational application of mind, or is conditioned by what someone else says. But that view is created, conditioned, chosen, dependently originated. Whatever is created, conditioned, chosen, and dependently originated is impermanent. And what’s impermanent is suffering. What he clings to and holds to is just suffering.”
'Thưa các ngài, và vị hiền giả nào đã nói như vầy: ‘Thế giới là hữu biên … cho đến … Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết, chỉ có điều này là sự thật, điều khác là sai lầm – này gia chủ, tôi có kiến giải như vậy,’ kiến giải này của vị hiền giả ấy cũng đã sanh khởi hoặc do nhân là sự tác ý không như lý của tự thân, hoặc do duyên là âm thanh từ người khác. Và quả thật, kiến giải ấy là cái đã được sanh ra, được tạo tác, được chủ ý, là pháp do duyên sanh. Và bất cứ cái gì đã được sanh ra, được tạo tác, được chủ ý, là pháp do duyên sanh, cái ấy là vô thường. Cái gì vô thường, cái ấy là khổ. Cái gì là khổ, vị hiền giả ấy đã dính mắc vào chính cái đó, vị hiền giả ấy đã chấp thủ vào chính cái đó.'
Evaṁ vutte te paribbājakā anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ etadavocuṁ: “byākatāni kho, gahapati, amhehi sabbeheva yathāsakāni diṭṭhigatāni. Vadehi, gahapati, kiṁdiṭṭhikosi tuvan”ti?
“Yaṁ kho, bhante, kiñci bhūtaṁ saṅkhataṁ cetayitaṁ paṭiccasamuppannaṁ tadaniccaṁ. Yadaniccaṁ taṁ dukkhaṁ. ‘Yaṁ dukkhaṁ taṁ netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti—evaṁdiṭṭhiko ahaṁ, bhante”ti.
When he said this the wanderers said to him, “Householder, we’ve each explained our own convictions. Tell us, householder, what is your view?”
“Sirs, whatever is created, conditioned, chosen, and dependently originated is impermanent. And what’s impermanent is suffering. And what’s suffering is not mine, I am not this, this is not my self. That’s my view, sirs.”
Khi được nói như vậy, các vị du sĩ ấy đã nói điều này với gia chủ Anāthapiṇḍika: 'Này gia chủ, quả thật tất cả chúng tôi đã giải thích về các kiến chấp của riêng mình. Hãy nói đi, này gia chủ, ông có kiến giải gì?' 'Thưa các ngài, bất cứ cái gì đã được sanh ra, được tạo tác, được chủ ý, là pháp do duyên sanh, cái ấy là vô thường. Cái gì vô thường, cái ấy là khổ. Cái gì là khổ, (tôi thấy rằng) ‘cái ấy không phải của tôi, cái ấy không phải là tôi, cái ấy không phải là tự ngã của tôi’ – thưa các ngài, tôi có kiến giải như vậy.'
“Yaṁ kho, gahapati, kiñci bhūtaṁ saṅkhataṁ cetayitaṁ paṭiccasamuppannaṁ tadaniccaṁ. Yadaniccaṁ taṁ dukkhaṁ. Yaṁ dukkhaṁ tadeva tvaṁ, gahapati, allīno, tadeva tvaṁ, gahapati, ajjhupagato”ti.
“Householder, whatever is created, conditioned, chosen, and dependently originated is impermanent. And what’s impermanent is suffering. What you cling to and hold to is just suffering.”
'Này gia chủ, bất cứ cái gì đã được sanh ra, được tạo tác, được chủ ý, là pháp do duyên sanh, cái ấy là vô thường. Cái gì vô thường, cái ấy là khổ. Cái gì là khổ, này gia chủ, ông đã dính mắc vào chính cái đó, này gia chủ, ông đã chấp thủ vào chính cái đó.'
“Yaṁ kho, bhante, kiñci bhūtaṁ saṅkhataṁ cetayitaṁ paṭiccasamuppannaṁ tadaniccaṁ. Yadaniccaṁ taṁ dukkhaṁ. ‘Yaṁ dukkhaṁ taṁ netaṁ mama, nesohamasmi, nameso attā’ti—evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhaṁ. Tassa ca uttari nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ pajānāmī”ti.
“Sirs, whatever is created, conditioned, chosen, and dependently originated is impermanent. And what’s impermanent is suffering. And I’ve truly seen clearly with right wisdom that what’s suffering is not mine, I am not this, it’s not my self. And I truly understand the escape beyond that.”
“Thưa quý ngài, bất cứ cái gì đã hiện hữu, được tạo tác, được tác ý, do duyên sanh khởi, cái ấy là vô thường. Cái gì vô thường, cái ấy là khổ. Cái gì là khổ, thì ‘cái ấy không phải của tôi, cái ấy không phải là tôi, cái ấy không phải là tự ngã của tôi’ – như vậy, điều này đã được tôi khéo thấy như thật bằng chánh trí tuệ. Và tôi biết như thật sự giải thoát cao hơn khỏi pháp ấy.”
Evaṁ vutte te paribbājakā tuṇhībhūtā maṅkubhūtā pattakkhandhā adhomukhā pajjhāyantā appaṭibhānā nisīdiṁsu. Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati te paribbājake tuṇhībhūte maṅkubhūte pattakkhandhe adhomukhe pajjhāyante appaṭibhāne viditvā uṭṭhāyāsanā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho anāthapiṇḍiko gahapati yāvatako ahosi tehi aññatitthiyehi paribbājakehi saddhiṁ kathāsallāpo taṁ sabbaṁ bhagavato ārocesi.
“Sādhu sādhu, gahapati. Evaṁ kho te, gahapati, moghapurisā kālena kālaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetabbā”ti.
When this was said, those wanderers sat silent, dismayed, shoulders drooping, downcast, depressed, with nothing to say. Seeing this, Anāthapiṇḍika rose from his seat. He went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and informed the Buddha of all they had discussed.
“Good, good, householder! That’s how you should legitimately and completely refute those futile men from time to time.”
Khi được nói như vậy, các du sĩ ngoại đạo ấy im lặng, bối rối, vai rũ, cúi mặt, trầm ngâm, không thể đối đáp, rồi ngồi xuống. Bấy giờ, gia chủ Anāthapiṇḍika, khi biết các du sĩ ngoại đạo ấy đang im lặng, bối rối, vai rũ, cúi mặt, trầm ngâm, không thể đối đáp, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, gia chủ Anāthapiṇḍika trình bày lại với Thế Tôn toàn bộ cuộc đối thoại đã xảy ra với các du sĩ ngoại đạo ấy. (Thế Tôn nói:) “Lành thay, lành thay, này gia chủ! Này gia chủ, những kẻ ngu muội ấy thỉnh thoảng nên được khéo nhiếp phục đúng với Chánh pháp như vậy.”
Atha kho bhagavā anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi. Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati bhagavatā dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Then the Buddha educated, encouraged, fired up, and inspired the householder Anāthapiṇḍika with a Dhamma talk, after which Anāthapiṇḍika got up from his seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before leaving.
Bấy giờ, Thế Tôn dùng pháp thoại chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ gia chủ Anāthapiṇḍika. Bấy giờ, gia chủ Anāthapiṇḍika, sau khi được Thế Tôn dùng pháp thoại chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu bên phải rồi ra về.
Atha kho bhagavā acirapakkante anāthapiṇḍike gahapatimhi bhikkhū āmantesi: “yopi so, bhikkhave, bhikkhu vassasatupasampanno imasmiṁ dhammavinaye, sopi evamevaṁ aññatitthiye paribbājake sahadhammena suniggahitaṁ niggaṇheyya yathā taṁ anāthapiṇḍikena gahapatinā niggahitā”ti.
Tatiyaṁ.
Then, not long after Anāthapiṇḍika had left, the Buddha addressed the mendicants: “Mendicants, even a mendicant who has ordained for a hundred years in this teaching and training would legitimately and completely refute those wanderers of other religions just as the householder Anāthapiṇḍika did.”
Bấy giờ, không lâu sau khi gia chủ Anāthapiṇḍika ra về, Thế Tôn gọi các Tỳ khưu: “Này các Tỳ khưu, cho dù có vị Tỳ khưu nào đã thọ cụ túc giới được một trăm năm trong Pháp và Luật này, vị ấy cũng nên khéo nhiếp phục các du sĩ ngoại đạo đúng với Chánh pháp, giống như cách gia chủ Anāthapiṇḍika đã nhiếp phục họ vậy.” Kinh thứ ba.