- Aṅguttara Nikāya 10.9
- 1. Ānisaṁsavagga
Bản dịch
AN 10.9 — Tịch Tịnh Giải Thoát
Santavimokkhasutta
(Như kinh 8 ở trên, cho đến… là người ở rừng ở các trú xứ vắng…)
…. là người trì luật, nhưng không phải là người ở rừng, ở các trú xứ xa vắng … là người ở rừng, ở các trú xứ xa vắng, nhưng đối với các tịch tịnh giải thoát vượt khỏi các sắc, thuộc về vô sắc, vị ấy không cảm giác với thân và an trú, đối với các tịch tịnh giải thoát , vượt khỏi các sắc, thuộc về vô sắc, vị ấy có cảm giác với thân và an trú, nhưng không do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát; như vậy về chi phần này không viên mãn. Vị ấy cần phải làm cho viên mãn chi phần ấy, nghĩ rằng: “Làm thế nào, ta có lòng tin, có giới, có nghe nhiều, có thuyết pháp, thường tham gia với hội chúng, vô úy thuyết pháp cho hội chúng, trì luật, là người ở rừng, ở các trú xứ xa vắng, đối với các tịch tịnh giải thoát, vượt khỏi các sắc, thuộc về vô sắc, ta có cảm giác với thân và an trú; do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, ta chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát? “ Và này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo có lòng tin, có giới, có nghe nhiều, có thuyết pháp thường tham gia với hội chúng, vô úy thuyết pháp cho hội chúng, là vị trì luật, là vị ở rừng, ở các trú xứ xa vắng, đối với các tịch tịnh giải thoát, vượt khỏi các sắc, thuộc về vô sắc, vị ấy có cảm giác với thân và an trú; do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại tự mình với thắng trí, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát; như vậy về chi phần này, vị ấy được viên mãn.
Thành tựu mười pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tịnh tín một cách phổ biến, và viên mãn trong mọi phương diện.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 10.9
- 1. Benefits
Inspiring All Around: the Peaceful Liberations
9. Kinh Tịch Tịnh Giải Thoát
“Saddho ca, bhikkhave, bhikkhu hoti, no ca sīlavā …pe… sīlavā ca, no ca bahussuto … bahussuto ca, no ca dhammakathiko … dhammakathiko ca, no ca parisāvacaro … parisāvacaro ca, no ca visārado parisāya dhammaṁ deseti … visārado ca parisāya dhammaṁ deseti, no ca vinayadharo … vinayadharo ca, no ca āraññiko pantasenāsano … āraññiko ca pantasenāsano, no ca ye te santā vimokkhā atikkamma rūpe āruppā te kāyena phusitvā viharati … ye te santā vimokkhā atikkamma rūpe āruppā te ca kāyena phusitvā viharati, no ca āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati. Evaṁ so tenaṅgena aparipūro hoti. Tena taṁ aṅgaṁ paripūretabbaṁ: ‘kintāhaṁ saddho ca assaṁ, sīlavā ca, bahussuto ca, dhammakathiko ca, parisāvacaro ca, visārado ca parisāya dhammaṁ deseyyaṁ, vinayadharo ca, āraññiko ca pantasenāsano, ye te santā vimokkhā atikkamma rūpe āruppā te ca kāyena phusitvā vihareyyaṁ, āsavānañca khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyyan’ti.
“A mendicant is faithful, but not ethical. … they’re not learned. … they’re not a Dhamma speaker … they don’t frequent assemblies … they don’t teach Dhamma to the assembly with assurance … they’re not an expert in the training … they don’t stay in the wilderness, in remote lodgings … they don’t have direct meditative experience of the peaceful liberations that are formless, transcending form … they don’t realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom, and live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements. So they’re incomplete in that respect, and should fulfill it, thinking: ‘How can I become faithful, ethical, and learned, a Dhamma speaker, one who frequents assemblies, one who teaches Dhamma to the assembly with assurance, an expert in the training, one who lives in the wilderness, in remote lodgings, one who gets the formless liberations, and one who lives having realized the ending of defilements?’
9. “Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu có đức tin, nhưng không có giới hạnh... (v.v.)... có giới hạnh, nhưng không đa văn... có đa văn, nhưng không phải là người thuyết pháp... là người thuyết pháp, nhưng không quen thuộc hội chúng... quen thuộc hội chúng, nhưng không dạn dĩ thuyết pháp trong hội chúng... dạn dĩ thuyết pháp trong hội chúng, nhưng không phải là người trì luật... là người trì luật, nhưng không sống ở nơi trú ẩn xa xôi trong rừng... sống ở nơi trú ẩn xa xôi trong rừng, nhưng không thể nhập và an trú bằng thân các pháp giải thoát thanh tịnh, vô sắc, vượt qua các sắc... có thể nhập và an trú bằng thân các pháp giải thoát thanh tịnh, vô sắc, vượt qua các sắc, nhưng không do đoạn tận các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát không còn lậu hoặc ngay trong hiện tại. Như vậy, vị ấy không trọn vẹn về chi phần ấy. Vị ấy phải làm cho trọn vẹn chi phần ấy: ‘Làm thế nào để ta vừa có đức tin, vừa có giới hạnh, vừa đa văn, vừa là người thuyết pháp, vừa quen thuộc hội chúng, vừa dạn dĩ thuyết pháp trong hội chúng, vừa là người trì luật, vừa sống ở nơi trú ẩn xa xôi trong rừng, vừa có thể nhập và an trú bằng thân các pháp giải thoát thanh tịnh, vô sắc, vượt qua các sắc, và do đoạn tận các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát không còn lậu hoặc ngay trong hiện tại?’”
Yato ca kho, bhikkhave, bhikkhu saddho ca hoti, sīlavā ca, bahussuto ca, dhammakathiko ca, parisāvacaro ca, visārado ca parisāya dhammaṁ deseti, vinayadharo ca, āraññiko ca pantasenāsano, ye te santā vimokkhā atikkamma rūpe āruppā te ca kāyena phusitvā viharati, āsavānañca khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati; evaṁ so tenaṅgena paripūro hoti. Imehi kho, bhikkhave, dasahi dhammehi samannāgato bhikkhu samantapāsādiko ca hoti sabbākāraparipūro cā”ti.
Navamaṁ.
When they’re faithful, ethical, and learned, a Dhamma speaker, one who frequents assemblies, one who teaches Dhamma to the assembly with assurance, an expert in the monastic law, one who lives in the wilderness, in remote lodgings, one who gets the formless liberations, and one who lives having realized the ending of defilements, they’re complete in that respect. A mendicant who possesses these ten qualities is impressive all around, and is complete in every respect.”
“Này các Tỳ khưu, khi nào vị Tỳ khưu vừa có đức tin, vừa có giới hạnh, vừa đa văn, vừa là người thuyết pháp, vừa quen thuộc hội chúng, vừa dạn dĩ thuyết pháp trong hội chúng, vừa là người trì luật, vừa sống ở nơi trú ẩn xa xôi trong rừng, vừa có thể nhập và an trú bằng thân các pháp giải thoát thanh tịnh, vô sắc, vượt qua các sắc, và do đoạn tận các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát không còn lậu hoặc ngay trong hiện tại; như vậy, vị ấy trọn vẹn về chi phần ấy. Này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu nào thành tựu mười pháp này thì có được sự tín nhiệm hoàn toàn và trọn vẹn về mọi phương diện.” Hết bài kinh thứ chín.