- Aṅguttara Nikāya 10.83
- 9. Theravagga
Bản dịch
AN 10.83 — Punniya
Puṇṇiyasutta
TTC 1Rồi Tôn giả Punniya đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Punniya bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, có khi Thế Tôn thuyết pháp, có khi Thế Tôn không thuyết pháp?
TTC 2—Này Punniya, Tỷ-kheo có lòng tin, không đi đến yết kiến, Như Lai không có thuyết pháp. Khi nào, này Punniya, Tỷ-kheo có lòng tin , đi đến yết kiến, như vậy Thế Tôn thuyết pháp. Và này Punniya, Tỷ-kheo có lòng tin, có đi đến yết kiến, nhưng không có hầu hạ… có hầu hạ nhưng không hỏi.. có hỏi nhưng không có lóng tai nghe pháp… có lóng tai nghe pháp, nhưng sau khi nghe, không thọ trì pháp… sau khi nghe, có thọ trì pháp, nhưng không suy nghĩ ý nghĩa các pháp đã được thọ trì… suy nghĩ ý nghĩa các pháp đã được thọ trì, nhưng không có sau khi biết ý nghĩa, sau khi biết pháp, thực hành pháp đúng pháp… sau khi biết ý nghĩa, sau khi biết pháp, có thực hành pháp đúng pháp, nhưng không nói thiện, phát ngôn thiện, thành tựu các lời tao nhã, nói lên ý nghĩa phân biệt rõ ràng… khéo nói, khéo phát ngôn, thành tựu các lời tao nhã, nói lên ý nghĩa phân biệt rõ ràng, nhưng không có thuyết trình, không có khích lệ, không có làm cho phấn chấn, không có làm cho hoan hỷ các vị đồng Phạm hạnh, cho đến như vậy, Như Lai không thuyết pháp.
TTC 3Và này Punniya, Tỷ-kheo có lòng tin, có đi đến yết kiến, có hầu hạ, có hỏi, có lóng tai nghe; sau khi nghe, có thọ trì pháp, có suy nghĩ ý nghĩa các pháp đã được thọ trì; sau khi biết ý nghĩa, sau khi biết pháp, có thực hành pháp đúng pháp, khéo nói, khéo phát ngôn, thành tựu các lời tao nhã, nói lên ý nghĩa phân biệt rõ ràng và có thuyết trình, có khích lệ, có làm cho phấn chấn, có làm cho hoan hỷ các vị đồng Phạm hạnh, cho đến như vậy Như Lai có thuyết pháp.
Thành tựu mười pháp này, này Punniya, Như Lai thế nào cũng thuyết pháp.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 10.83
- 9. Senior Mendicants
With Puṇṇiya
3. Kinh Puṇṇiya
Atha kho āyasmā puṇṇiyo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā puṇṇiyo bhagavantaṁ etadavoca:
“ko nu kho, bhante, hetu ko paccayo yena appekadā tathāgataṁ dhammadesanā paṭibhāti appekadā nappaṭibhātī”ti?
Then Venerable Puṇṇiya went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
“Sir, what is the cause, what is the reason why sometimes the Realized One feels inspired to teach, and other times not?”
83. Rồi Tôn giả Puṇṇiya đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Puṇṇiya bạch với Thế Tôn rằng: “Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì mà có khi pháp thoại của Như Lai được tỏ tường, có khi lại không được tỏ tường?”
“Saddho ca, puṇṇiya, bhikkhu hoti, no ca upasaṅkamitā; neva tāva tathāgataṁ dhammadesanā paṭibhāti. Yato ca kho, puṇṇiya, bhikkhu saddho ca hoti upasaṅkamitā ca, evaṁ tathāgataṁ dhammadesanā paṭibhāti.
“Puṇṇiya, when a mendicant has faith but doesn’t approach, the Realized One doesn’t feel inspired to teach. But when a mendicant has faith and approaches, the Realized One feels inspired to teach.
“Này Puṇṇiya, vị tỳ khưu có lòng tin nhưng không đến gần; chừng ấy pháp thoại của Như Lai vẫn chưa được tỏ tường. Và này Puṇṇiya, khi nào vị tỳ khưu vừa có lòng tin, vừa đến gần, như vậy pháp thoại của Như Lai được tỏ tường.”
Saddho ca, puṇṇiya, bhikkhu hoti upasaṅkamitā ca, no ca payirupāsitā …pe… payirupāsitā ca, no ca paripucchitā … paripucchitā ca, no ca ohitasoto dhammaṁ suṇāti … ohitasoto ca dhammaṁ suṇāti, no ca sutvā dhammaṁ dhāreti … sutvā ca dhammaṁ dhāreti, no ca dhātānaṁ dhammānaṁ atthaṁ upaparikkhati … dhātānañca dhammānaṁ atthaṁ upaparikkhati no ca atthamaññāya dhammamaññāya dhammānudhammappaṭipanno hoti … atthamaññāya dhammamaññāya dhammānudhammappaṭipanno ca hoti, no ca kalyāṇavāco hoti kalyāṇavākkaraṇo poriyā vācāya samannāgato vissaṭṭhāya anelagaḷāya atthassa viññāpaniyā … kalyāṇavāco ca hoti kalyāṇavākkaraṇo poriyā vācāya samannāgato vissaṭṭhāya anelagaḷāya atthassa viññāpaniyā, no ca sandassako hoti samādapako samuttejako sampahaṁsako sabrahmacārīnaṁ, neva tāva tathāgataṁ dhammadesanā paṭibhāti.
When a mendicant has faith and approaches, but doesn’t pay homage … they pay homage, but don’t ask questions … they ask questions, but don’t actively listen to the teaching … they actively listen to the teaching, but don’t remember the teaching they’ve heard … they remember the teaching they’ve heard, but don’t examine the meaning of the teachings they’ve remembered … they examine the meaning of the teachings they’ve remembered, but, not having understood the meaning and the teaching, they don’t practice in line with the principle of the teaching … they practice in line with the teaching, but they’re not a good speaker and do not enunciate well. Their voice is not polished, clear, articulate, and doesn’t express the meaning … They’re a good speaker who enunciates well, but they don’t educate, encourage, fire up, and inspire their spiritual companions. The Realized One doesn’t feel inspired to teach.
“Này Puṇṇiya, vị tỳ khưu có lòng tin, có đến gần, nhưng không hầu cận… … có hầu cận, nhưng không hỏi han… có hỏi han, nhưng không lắng tai nghe pháp… có lắng tai nghe pháp, nhưng sau khi nghe không ghi nhớ pháp… có ghi nhớ pháp, nhưng không thẩm sát ý nghĩa của các pháp đã ghi nhớ… có thẩm sát ý nghĩa của các pháp đã ghi nhớ, nhưng sau khi hiểu nghĩa, hiểu pháp, lại không thực hành pháp và tùy pháp… có thực hành pháp và tùy pháp, nhưng không có lời nói tốt đẹp, không có cách phát âm tốt đẹp, không thành tựu lời nói tao nhã, trong sáng, không ngọng nghịu, có khả năng làm sáng tỏ ý nghĩa… có lời nói tốt đẹp, có cách phát âm tốt đẹp, thành tựu lời nói tao nhã, trong sáng, không ngọng nghịu, có khả năng làm sáng tỏ ý nghĩa, nhưng không phải là người chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ các vị đồng phạm hạnh; chừng ấy pháp thoại của Như Lai vẫn chưa được tỏ tường.”
Yato ca kho, puṇṇiya, bhikkhu saddho ca hoti, upasaṅkamitā ca, payirupāsitā ca, paripucchitā ca, ohitasoto ca dhammaṁ suṇāti, sutvā ca dhammaṁ dhāreti, dhātānañca dhammānaṁ atthaṁ upaparikkhati, atthamaññāya dhammamaññāya dhammānudhammappaṭipanno ca hoti, kalyāṇavāco ca hoti kalyāṇavākkaraṇo poriyā vācāya samannāgato vissaṭṭhāya anelagaḷāya atthassa viññāpaniyā, sandassako ca hoti samādapako samuttejako sampahaṁsako sabrahmacārīnaṁ—evaṁ tathāgataṁ dhammadesanā paṭibhāti. Imehi kho, puṇṇiya, dasahi dhammehi samannāgatā ekantapaṭibhānā tathāgataṁ dhammadesanā hotī”ti.
Tatiyaṁ.
But when a mendicant has faith, approaches, pays homage, asks questions, actively listens to the teachings, remembers the teachings, examines the meaning, practices in line with the principle of the teaching, has a good voice, and encourages their spiritual companions, the Realized One feels inspired to teach. When someone possesses these ten qualities, the Realized One feels totally inspired to teach.”
“Và này Puṇṇiya, khi nào vị tỳ khưu vừa có lòng tin, vừa đến gần, vừa hầu cận, vừa hỏi han, vừa lắng tai nghe pháp, sau khi nghe vừa ghi nhớ pháp, vừa thẩm sát ý nghĩa của các pháp đã ghi nhớ, sau khi hiểu nghĩa, hiểu pháp, vừa thực hành pháp và tùy pháp, vừa có lời nói tốt đẹp, có cách phát âm tốt đẹp, thành tựu lời nói tao nhã, trong sáng, không ngọng nghịu, có khả năng làm sáng tỏ ý nghĩa, vừa là người chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ các vị đồng phạm hạnh – như vậy pháp thoại của Như Lai được tỏ tường. Này Puṇṇiya, khi thành tựu mười pháp này, pháp thoại của Như Lai trở nên hoàn toàn tỏ tường.” Hết kinh thứ ba.