- Aṅguttara Nikāya 10.75
- 8. Ākaṅkhavagga
Bản dịch
AN 10.75 — Migasàlà
Migasālāsutta
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anathapindika. Rồi Tôn giả Ananda vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát đi đến trú xứ của nữ cư sĩ Migasàlà; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi nữ cư sĩ Migasàlà đi đến Tôn giả Ananda, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ananda rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, nữ cư sĩ Magasàlà bạch Tôn giả Ananda:
TTC 2—Thưa Tôn giả Ananada, như thế nào cần phải hiểu pháp được Thế Tôn thuyết giảng, rằng người sống phạm hạnh và người sống không phạm hạnh, cả hai sẽ đồng một chỗ thọ sanh trong đời sau? Thưa Tôn giả, phụ thân con Puràna sống phạm hạnh, sống viễn ly, từ bỏ dâm dục hèn hạ. Vị ấy, khi mệnh chung được Thế Tôn trả lời: “Là bậc Nhất lai, sanh với thân ở Tusita”. Còn Isidatta, cậu của con, thưa Tôn giả, sống không Phạm hạnh, tự bằng lòng với vợ mình, sau khi mệnh chung, được Thế Tôn trả lời: “Là bậc Nhất lai, sanh với thân ở Tusita”. Như thế nào, thế nào, thưa Tôn giả Ananda, cần phải hiểu pháp này do Thế Tôn tuyên thuyết (nói rằng): “Cả hai, sống phạm hạnh và sống không phạm hạnh đều đồng đẳng về sanh thú trong tương lai”?
—Này Chị, chính như vậy là câu trả lời của Thế Tôn.
TTC 3Rồi Tôn giả Ananda, sau khi nhận đồ khất thực tại nhà của nữ cư sĩ Migasàlà, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra đi. Rồi Tôn giả Ananda sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, vào buổi sáng, con đắp y, cầm y bát đi đến trú xứ của nữ cư sĩ Migasàlà, sau khi đến, con ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi nữ cư sĩ Migasàlà đi đến con, sau khi đến, đảnh lễ con ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, bạch Thế Tôn, nữ cư sĩ Magasàlà thưa với con:
—“Như thế nào, thế nào, thưa Tôn giả Ananda, cần phải hiểu pháp này do Thế Tôn thuyết (nói rằng): “Cả hai, sống phạm hạnh và sống không phạm hạnh đều đồng đẳng về sanh thú trong tương lai.”?. “Puràna thân phụ con, thưa Tôn giả, sống phạm hạnh, sống viễn ly, tránh xa dâm dục hạ liệt, khi mệnh chung, được Thế Tôn trả lời: “Là bậc Nhất Lai, sanh với thân ở Tusita”. Còn Isidatta, cậu của con, thưa Tôn giả, sống không Phạm hạnh, tự bằng lòng với vợ mình, sau khi mệnh chung, được Thế Tôn trả lời: “Là bậc Nhất Lai, sanh với thân ở Tusita.” Như thế nào, thế nào, thưa Tôn giả Ananda, cần phải hiểu pháp này do Thế Tôn tuyên thuyết (nói rằng): “Cả hai, sống phạm hạnh và sống không phạm hạnh đều đồng đẳng về sanh thú trong tương lai”? Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con nói với nữ cư sĩ Migasàlà:
—“Này Chị, chính như vậy là câu trả lời của Thế Tôn”.
—Nhưng này Ananda, ai là nữ cư sĩ Migasàlà, lại ngu si, kém thông minh, với thân như bà mẹ, với trí như bà mẹ, để có thể hiểu biết sự thắng liệt giữa các người.
Này Ananda, có mười hạng người, có mặt hiện hữu ở đời. Thế nào là mười?
TTC 4Ở đây, này Ananda, có hạng người ác giới, không như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, ác giới ấy của người ấy được diệt trừ, không có dư tàn. Người ấy không có nghe pháp, không có học nhiều, không có thể nhập với chánh kiến, không chứng được nhất thời giải thoát. Người ấy sau khi thân hoại mạnh chung, hướng về thối đọa, không về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi về thù thắng.
TTC 5Nhưng ở đây, này Ananda, có hạng người ác giới, như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, ác giới ấy của người được trừ diệt, không có dư tàn. Người ấy có nghe pháp, có học nhiều, có khéo thể nhập với chánh kiến, chứng được nhất thời giải thoát. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa, chỉ đi đến thù thắng, không đi đến thối đọa.
Ở đây, này Ananda, ai là người đo lường, đo như sau: “Những pháp ấy có mặt trong người này, những pháp ấy cũng có mặt trong người kia. Vì sao, giữa hai người ấy, một là hạ liệt, một là thù thắng?”. Nhận xét như vậy đem lại đau khổ lâu dài cho họ. Ở đây này Ananda, người này là ác giới và như vậy rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, chính ở nơi đây, ác giới ấy của người ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Với vị ấy, có nghe pháp, có học hỏi nhiều, có khéo thể nhập với chánh kiến, chứng được nhất thời giải thoát. Này Ananda, hạng người này, so sánh với hạng người trước là vi diệu hơn, là thù thắng hơn. Vì sao? Vì dòng pháp đưa người này ra phía trước. Nhưng ai ngoài Như Lai có thể biết được sự khác biệt? Do vậy, này Ananda, chớ có làm người đo lường các hạng người. Chớ có làm sự đo lường các hạng người. Tự đào hố cho mình là người đi làm sự đo lường các hạng người. Chỉ có Ta, này Ananda, mới có thể làm sự đo lường các hạng người. Ai có thể được như Ta?
TTC 6Ở đây, này Ananda, có hạng người có giới nhưng không như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, giới ấy của người ấy được đoạn diệt, không có dư tàn. Người ấy không có nghe pháp, không có học hỏi nhiều, không có thể nhập với chánh kiến, nên không chứng được nhất thời giải thoát. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, hướng về thối đọa, không huớng về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi đến thù thắng.
TTC 7Nhưng ở đây này Ananda, có hạng người có giới và như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, giới ấy của người ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Vị ấy có nghe pháp, có học hỏi nhiều, và khéo thể nhập với chánh kiến, vị ấy chứng được nhất thời giải thoát. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa. Chỉ đi đến thù thắng, không đi đến thối đọa. Ở đây, này Ananda… Chỉ có Ta, này Ananda, mới có thể làm sự đo lường các hạng người. Ai có thể được như Ta?
TTC 8Nhưng ở đây, này Ananda, có hạng người có tham rất sắc sảo, người ấy không như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, tham ấy của người ấy được trừ diệt, không có tàn dư. Người này không có nghe pháp, không có học hỏi nhiều, không có thể nhập với chánh kiến, không có chứng được nhất thời giải thoát. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, hướng về thối đọa, không hướng về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi đến thù thắng.
TTC 9Nhưng ở đây, này Ananda, có hạng người có tham rất sắc sảo, người ấy như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, ở đây, lòng tham ấy của người ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Người ấy nghe pháp, học hỏi nhiều, khéo thể nhập với chánh kiến, chứng được nhất thời giải thoát. Vị ấy sau khi thân họai mạng chung, hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa, chỉ đi đến thù thắng, không đi đến thối đọa. Ở đây, này Ananda… Chỉ có Ta, này Ananda, mới có thể làm sự đo lường các hạng người. Ai có thể được như Ta?
TTC 10Nhưng ở đây, này Ananda, có hạng người phẫn nộ, không như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, lòng phẫn nộ ấy của người ấy được trừ diệt trừ, không có tàn dư. Vị ấy không có nghe pháp, không có học hỏi nhiều, không có thể nhập với chánh kiến, không chứng được nhất thời giải thoát. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, hướng về thối đọa, không hướng về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi đến thù thắng.
TTC 11Nhưng ở đây, này Ananda, có hạng người có phẫn nộ và như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, lòng phẫn nộ ấy của người ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Vị ấy lại nghe pháp, học hỏi nhiều, và khéo thể nhập với chánh kiến, chứng được nhất thời giải thoát. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa, chỉ đi đến thù thắng, không đi đến thối đọa. Ở đây, này Ananda… Chỉ có Ta, này Ananda, mới có thể làm sự đo lường các hạng người. Ai có thể được như Ta?
TTC 12Nhưng ở đây, này Ananda, có hạng người có trạo cử, nhưng không như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, trạo cử của người ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Người ấy không có nghe pháp, không có học hỏi nhiều, không có thể nhập với chánh kiến, không chứng được nhất thời giải thoát. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, hướng về thối đọa, không hướng về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi đến thù thắng.
TTC 13Nhưng ở đây, này Ananda, có hạng người có trạo cử, và như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, trạo cử của người ấy được trừ diệt, không có tàn dư. Và vị này có nghe pháp, có học hỏi nhiều, khéo thể nhập với chánh kiến, chứng được nhất thời giải thoát. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa, chỉ đi đến thù thắng, không hướng về thối đọa. Ở đây, này Ananda, ai là người đo lường, đo lường như sau: “Những pháp ấy có mặt trong người này, những pháp ấy cũng có mặt trong người kia. Vì sao giữa hai người ấy, một là hạ liệt, một là thù diệu? “ Nhận xét như vậy, đem lại đau khổ lâu dài cho họ. Ở đây, này Ananda, người này là trạo cử, và như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, chính ở đây, trạo cử của người ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Và vị ấy có nghe pháp, có học hỏi nhiều, có khéo thể nhập với chánh kiến, chứng được nhất thời giải thoát. Này Ananda, hạng người này so sánh với hạng người trước, là vi diệu hơn, là thù thắng hơn. Vì sao? Vì dòng pháp đưa người này ra phía trước. Nhưng ai ngoài Như Lai có thể biết được sự khác biệt? Do vậy, này Ananda, chớ có làm người đo lường các hạng người. Chớ có làm sự đo lường các hạng người. Tự đào hố cho mình là người làm sự đo lường các hạng người. Chỉ có Ta, này Ananda, mới có thể làm sự đo lường các hạng người. Ai có thể được như Ta?
Nhưng này Ananda, ai là nữ cư sĩ Migasàlà lại ngu si, kém thông minh, với thân như bà mẹ, với trí như bà mẹ, để có thể hiểu biết sự thắng liệt giữa các người?
Này Ananda, có mười hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời.
Giới như thế nào, này Ananda, Puràna được thành tựu, giới ấy Isidatta chưa thành tựu. Do vậy, ở đây, Puràna có sanh thú khác với sanh thú của Isidatta. Tuệ như thế nào, này Ananda, Isidatta được thành tựu, tuệ ấy Puràna chưa thành tựu. Do vậy, ở đây, Isidatta có sanh thú khác với sanh thú của Puràna. Như vậy, này Ananda, cả hai người này đều có thể thiếu sót một chi phần.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 10.75
- 8. If You Want
With Migasālā
5. Kinh Migasālā
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Atha kho āyasmā ānando pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena migasālāya upāsikāya nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Atha kho migasālā upāsikā yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnā kho migasālā upāsikā āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery. Then Venerable Ānanda robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to the home of the laywoman Migasālā, where he sat down on the seat spread out. Then the laywoman Migasālā went up to Ānanda, bowed, sat down to one side, and said to him:
75. Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Bấy giờ, vào buổi sáng, Tôn giả Ānanda đắp y, mang y bát, đi đến nhà của nữ cư sĩ Migasālā; đến nơi, ngài ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Bấy giờ, nữ cư sĩ Migasālā đi đến chỗ Tôn giả Ānanda; đến nơi, đảnh lễ Tôn giả Ānanda rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, nữ cư sĩ Migasālā bạch với Tôn giả Ānanda điều này:
“Kathaṁ kathaṁ nāmāyaṁ, bhante ānanda, bhagavatā dhammo desito aññeyyo, yatra hi nāma brahmacārī ca abrahmacārī ca ubho samasamagatikā bhavissanti abhisamparāyaṁ. Pitā me, bhante, purāṇo brahmacārī hoti ārācārī virato methunā gāmadhammā. So kālaṅkato bhagavatā byākato: ‘sakadāgāmī satto tusitaṁ kāyaṁ upapanno’ti. Pitāmaho me, bhante, isidatto abrahmacārī ahosi sadārasantuṭṭho. Sopi kālaṅkato bhagavatā byākato: ‘sakadāgāmī satto tusitaṁ kāyaṁ upapanno’ti.
Kathaṁ kathaṁ nāmāyaṁ, bhante ānanda, bhagavatā dhammo desito aññeyyo, yatra hi nāma brahmacārī ca abrahmacārī ca ubho samasamagatikā bhavissanti abhisamparāyan”ti?
“Evaṁ kho panetaṁ, bhagini, bhagavatā byākatan”ti.
Atha kho āyasmā ānando migasālāya upāsikāya nivesane piṇḍapātaṁ gahetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
“Honorable Ānanda, how on earth are we supposed to understand the teaching taught by the Buddha, when the chaste and the unchaste are both reborn in exactly the same place in the next life? My father Purāṇa was chaste, set apart, refraining from the vulgar act of sex. When he passed away the Buddha declared that, since he was a once-returner, he was reborn in the host of joyful gods. But my uncle Isidatta was not chaste; he lived content with his wife. When he passed away the Buddha declared that, since he too was a once-returner, he was reborn in the host of joyful gods.
How on earth are we supposed to understand the teaching taught by the Buddha, when the chaste and the unchaste are both reborn in exactly the same place in the next life?”
“You’re right, sister, but that’s how the Buddha declared it.”
Then Ānanda, after receiving almsfood at Migasālā’s home, rose from his seat and left.
“Thưa Tôn giả Ānanda, làm thế nào để có thể hiểu được giáo pháp này do Thế Tôn thuyết giảng, khi mà cả người sống phạm hạnh và người không sống phạm hạnh, cả hai đều có cùng một cảnh giới như nhau trong đời sau? Thưa Tôn giả, cha của con là Purāṇa, đã sống phạm hạnh, sống xa lìa, từ bỏ dâm dục là pháp của thế gian. Khi ông mệnh chung, Thế Tôn đã thọ ký: ‘Là một vị Nhất lai, đã sanh vào cõi trời Tusita.’ Thưa Tôn giả, ông nội của con là Isidatta, không sống phạm hạnh, chỉ biết đủ với vợ mình. Khi ông mệnh chung, Thế Tôn cũng đã thọ ký: ‘Là một vị Nhất lai, đã sanh vào cõi trời Tusita.’
Rồi Tôn giả Ānanda, sau khi thọ thực tại nhà của nữ cư sĩ Migasālā, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Rồi Tôn giả Ānanda, sau bữa ăn, sau khi đi khất thực về, đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ānanda bạch với Thế Tôn điều này:
“Idhāhaṁ, bhante, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena migasālāya upāsikāya nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdiṁ. Atha kho, bhante, migasālā upāsikā yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnā kho, bhante, migasālā upāsikā maṁ etadavoca:
‘Bạch Thế Tôn, ở đây, vào buổi sáng, sau khi con đắp y, mang y bát, con đã đi đến nhà của nữ cư sĩ Migasālā; sau khi đến, con đã ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được soạn sẵn. Rồi, bạch Thế Tôn, nữ cư sĩ Migasālā đã đi đến chỗ con; sau khi đến, đã đảnh lễ con rồi ngồi xuống một bên. Bạch Thế Tôn, sau khi ngồi một bên, nữ cư sĩ Migasālā đã nói với con điều này:
‘Kathaṁ kathaṁ nāmāyaṁ, bhante ānanda, bhagavatā dhammo desito aññeyyo, yatra hi nāma brahmacārī ca abrahmacārī ca ubho samasamagatikā bhavissanti abhisamparāyaṁ. Pitā me, bhante, purāṇo brahmacārī ahosi ārācārī virato methunā gāmadhammā. So kālaṅkato bhagavatā byākato sakadāgāmī satto tusitaṁ kāyaṁ upapannoti. Pitāmaho me, bhante, isidatto abrahmacārī ahosi sadārasantuṭṭho. Sopi kālaṅkato bhagavatā byākato—sakadāgāmī satto tusitaṁ kāyaṁ upapannoti.
‘Bạch ngài Ānanda, làm thế nào, làm thế nào mà Pháp này do Thế Tôn thuyết giảng lại có thể được hiểu biết, khi mà ở đây người sống phạm hạnh và người không sống phạm hạnh, cả hai sẽ có cùng một cảnh giới như nhau ở đời sau. Bạch ngài, cha của con là Purāṇa đã sống phạm hạnh, sống viễn ly, từ bỏ việc hành dâm là pháp của dân làng. Ông ấy sau khi mệnh chung đã được Thế Tôn tuyên bố rằng: ‘Là bậc Nhất Lai, đã sanh vào cõi trời Tusita (Đâu-suất).’ Bạch ngài, ông nội của con là Isidatta đã không sống phạm hạnh, chỉ biết đủ với vợ của mình. Ông ấy sau khi mệnh chung cũng được Thế Tôn tuyên bố rằng: ‘Là bậc Nhất Lai, đã sanh vào cõi trời Tusita (Đâu-suất).’
Kathaṁ kathaṁ nāmāyaṁ, bhante ānanda, bhagavatā dhammo desito aññeyyo, yatra hi nāma brahmacārī ca abrahmacārī ca ubho samasamagatikā bhavissanti abhisamparāyan’ti? Evaṁ vutte, ahaṁ, bhante, migasālaṁ upāsikaṁ etadavocaṁ: ‘evaṁ kho panetaṁ, bhagini, bhagavatā byākatan’”ti.
Bạch ngài Ānanda, làm thế nào, làm thế nào mà Pháp này do Thế Tôn thuyết giảng lại có thể được hiểu biết, khi mà ở đây người sống phạm hạnh và người không sống phạm hạnh, cả hai sẽ có cùng một cảnh giới như nhau ở đời sau?’ Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, con đã nói với nữ cư sĩ Migasālā điều này: ‘Này hiền muội, quả thật điều này đã được Thế Tôn tuyên bố như vậy.’”
“Kā cānanda, migasālā upāsikā bālā abyattā ammakā ammakapaññā, ke ca purisapuggalaparopariye ñāṇe?
“Ānanda, who is this laywoman Migasālā, a foolish incompetent aunty, with an aunty’s wit? And who is it that knows how to assess individual persons?
“Này Ānanda, nữ cư sĩ Migasālā là gì chứ? Ngu dốt, không khéo léo, là phụ nữ, có trí tuệ của phụ nữ. Còn (các vị Như Lai) thì thế nào về trí tuệ biết được sự hơn kém các căn của các hạng người nam?”
Dasayime, ānanda, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ. Katame dasa? Idhānanda, ekacco puggalo dussīlo hoti. Tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti, yatthassa taṁ dussilyaṁ aparisesaṁ nirujjhati. Tassa savanenapi akataṁ hoti, bāhusaccenapi akataṁ hoti, diṭṭhiyāpi appaṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ na labhati. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā hānāya pareti, no visesāya; hānagāmīyeva hoti, no visesagāmī.
These ten individuals are found in the world. What ten? Take a certain individual who is unethical. And they don’t truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where that unethical conduct ceases without remainder. And they’ve not listened or learned or penetrated theoretically or found even temporary freedom. When their body breaks up, after death, they depart for a lower place, not a higher. They’re going to a lower place, not a higher.
“Này Ānanda, có mười hạng người này hiện hữu, có mặt ở trên đời. Mười hạng nào? Này Ānanda, ở đây, có hạng người ác giới. Và người ấy không biết như thật về tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, nơi mà sự ác giới của người ấy được đoạn diệt không còn dư tàn. Người ấy không thực hành việc nghe pháp, không thực hành việc đa văn, không thông đạt bằng chánh kiến, và cũng không đạt được sự giải thoát nhất thời. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, đi đến chỗ suy thoái, không đi đến chỗ thù thắng; chỉ đi đến chỗ suy thoái, không đi đến chỗ thù thắng.”
Idha panānanda, ekacco puggalo dussīlo hoti. Tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti yatthassa taṁ dussilyaṁ aparisesaṁ nirujjhati. Tassa savanenapi kataṁ hoti, bāhusaccenapi kataṁ hoti, diṭṭhiyāpi paṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ labhati. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā visesāya pareti, no hānāya; visesagāmīyeva hoti, no hānagāmī.
Take a certain individual who is unethical. But they truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where that unethical conduct ceases without remainder. And they’ve listened and learned and penetrated theoretically and found at least temporary freedom. When their body breaks up, after death, they depart for a higher place, not a lower. They’re going to a higher place, not a lower.
“Lại nữa, này Ānanda, ở đây có hạng người ác giới. Và người ấy biết như thật về tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, nơi mà sự ác giới của người ấy được đoạn diệt không còn dư tàn. Người ấy có thực hành việc nghe pháp, có thực hành việc đa văn, có thông đạt bằng chánh kiến, và có đạt được sự giải thoát nhất thời. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, đi đến chỗ thù thắng, không đi đến chỗ suy thoái; chỉ đi đến chỗ thù thắng, không đi đến chỗ suy thoái.”
Tatrānanda, pamāṇikā pamiṇanti: ‘imassapi teva dhammā, aparassapi teva dhammā. Kasmā nesaṁ eko hīno eko paṇīto’ti? Tañhi tesaṁ, ānanda, hoti dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya.
Judgmental people compare them, saying: ‘This one has just the same qualities as the other, so why is one worse and one better?’ This will be for their lasting harm and suffering.
“Này Ānanda, ở đây, những người hay đo lường đã đo lường rằng: ‘Vị này cũng có các pháp ấy, vị kia cũng có các pháp ấy. Tại sao trong số họ một người lại thấp kém, một người lại cao thượng?’ Này Ānanda, chính điều ấy sẽ đem lại bất hạnh, đau khổ lâu dài cho họ.”
Tatrānanda, yvāyaṁ puggalo dussīlo hoti. Tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti yatthassa taṁ dussilyaṁ aparisesaṁ nirujjhati. Tassa savanenapi kataṁ hoti, bāhusaccenapi kataṁ hoti, diṭṭhiyāpi paṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ labhati. Ayaṁ, ānanda, puggalo amunā purimena puggalena abhikkantataro ca paṇītataro ca. Taṁ kissa hetu? Imaṁ hānanda, puggalaṁ dhammasoto nibbahati. Tadantaraṁ ko jāneyya, aññatra tathāgatena. Tasmātihānanda, mā puggalesu pamāṇikā ahuvattha, mā puggalesu pamāṇaṁ gaṇhittha. Khaññati hānanda, puggalesu pamāṇaṁ gaṇhanto. Ahaṁ vā, ānanda, puggalesu pamāṇaṁ gaṇheyyaṁ yo vā panassa mādiso.
In this case, the individual who is unethical, but truly understands the freedom of heart … and has listened and learned and penetrated theoretically and found at least temporary freedom is better and finer than the other individual. Why is that? Because the stream of the teaching carries them along. But who knows the difference between them except a Realized One? So, Ānanda, don’t be judgmental about individuals. Don’t pass judgment on individuals. Those who pass judgment on individuals harm themselves. I, or someone like me, may pass judgment on people.
“Này Ānanda, trong hai hạng người ấy, hạng người ác giới mà biết như thật về tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, nơi mà sự ác giới của người ấy được đoạn diệt không còn dư tàn; người ấy có thực hành việc nghe pháp, có thực hành việc đa văn, có thông đạt bằng chánh kiến, và có đạt được sự giải thoát nhất thời. Này Ānanda, hạng người này thì tốt đẹp hơn và cao thượng hơn hạng người trước kia. Vì sao vậy? Này Ānanda, vì dòng Pháp đưa dẫn hạng người này. Ai có thể biết được sự khác biệt ấy, ngoại trừ Như Lai! Vì vậy, này Ānanda, các ngươi chớ có đo lường người khác, chớ có xét đoán người khác. Này Ānanda, người nào xét đoán người khác là tự làm hại mình. Này Ānanda, Ta có thể xét đoán người khác, hoặc người nào giống như Ta.”
Idha panānanda, ekacco puggalo sīlavā hoti. Tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti yatthassa taṁ sīlaṁ aparisesaṁ nirujjhati. Tassa savanenapi akataṁ hoti, bāhusaccenapi akataṁ hoti, diṭṭhiyāpi appaṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ na labhati. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā hānāya pareti, no visesāya; hānagāmīyeva hoti, no visesagāmī.
Take a certain individual who is ethical. But they don’t truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where that ethical conduct ceases without remainder. And they’ve not listened or learned or penetrated theoretically or found even temporary freedom. When their body breaks up, after death, they depart for a lower place, not a higher. They’re going to a lower place, not a higher.
“Lại nữa, này Ānanda, ở đây có hạng người có giới. Và người ấy không biết như thật về tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, nơi mà giới của người ấy được đoạn diệt không còn dư tàn. Người ấy không thực hành việc nghe pháp, không thực hành việc đa văn, không thông đạt bằng chánh kiến, và cũng không đạt được sự giải thoát nhất thời. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, đi đến chỗ suy thoái, không đi đến chỗ thù thắng; chỉ đi đến chỗ suy thoái, không đi đến chỗ thù thắng.”
Idha panānanda, ekacco puggalo sīlavā hoti. Tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti yatthassa taṁ sīlaṁ aparisesaṁ nirujjhati. Tassa savanenapi kataṁ hoti, bāhusaccenapi kataṁ hoti, diṭṭhiyāpi paṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ labhati. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā visesāya pareti, no hānāya; visesagāmīyeva hoti, no hānagāmī.
Take a certain individual who is ethical. And they truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where that ethical conduct ceases without remainder. And they’ve listened and learned and penetrated theoretically and found at least temporary freedom. When their body breaks up, after death, they depart for a higher place, not a lower. They’re going to a higher place, not a lower.
“Lại nữa, này Ānanda, ở đây có hạng người có giới. Và người ấy biết như thật về tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, nơi mà giới của người ấy được đoạn diệt không còn dư tàn. Người ấy có thực hành việc nghe pháp, có thực hành việc đa văn, có thông đạt bằng chánh kiến, và có đạt được sự giải thoát nhất thời. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, đi đến chỗ thù thắng, không đi đến chỗ suy thoái; chỉ đi đến chỗ thù thắng, không đi đến chỗ suy thoái.”
Tatrānanda, pamāṇikā pamiṇanti …pe… ahaṁ vā, ānanda, puggalesu pamāṇaṁ gaṇheyyaṁ yo vā panassa mādiso.
Judgmental people compare them … I, or someone like me, may pass judgment on individuals.
“Này Ānanda, ở đây, những người hay đo lường đã đo lường... vân vân... Này Ānanda, Ta có thể xét đoán người khác, hoặc người nào giống như Ta.”
Idha panānanda, ekacco puggalo tibbarāgo hoti. Tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti yatthassa so rāgo apariseso nirujjhati. Tassa savanenapi akataṁ hoti, bāhusaccenapi akataṁ hoti, diṭṭhiyāpi appaṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ na labhati. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā hānāya pareti, no visesāya; hānagāmīyeva hoti, no visesagāmī.
Take a certain individual who is very lustful. And they don’t truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where that lust ceases without remainder. And they’ve not listened or learned or penetrated theoretically or found even temporary freedom. When their body breaks up, after death, they depart for a lower place, not a higher. They’re going to a lower place, not a higher.
Này Ānanda, ở đây, có hạng người có tham ái mãnh liệt. Và người ấy không biết như thật về tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, nơi mà tham ái của người ấy được đoạn diệt không còn dư tàn. Đối với người ấy, việc nghe pháp cũng không được thực hiện, việc đa văn cũng không được thực hiện, việc thâm nhập bằng trí tuệ cũng không được thực hiện, và cũng không chứng được sự giải thoát tạm thời. Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy đi đến chỗ thấp kém, không đi đến chỗ cao thượng; người ấy chỉ đi đến chỗ thấp kém, không đi đến chỗ cao thượng.
Idha panānanda, ekacco puggalo tibbarāgo hoti. Tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti yatthassa so rāgo apariseso nirujjhati. Tassa savanenapi kataṁ hoti, bāhusaccenapi kataṁ hoti, diṭṭhiyāpi paṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ labhati. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā visesāya pareti, no hānāya; visesagāmīyeva hoti, no hānagāmī.
Take a certain individual who is very lustful. But they truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where that lust ceases without remainder. And they’ve listened and learned and penetrated theoretically and found at least temporary freedom. When their body breaks up, after death, they depart for a higher place, not a lower. They’re going to a higher place, not a lower.
Này Ānanda, ở đây, có hạng người có tham ái mãnh liệt. Và người ấy biết như thật về tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, nơi mà tham ái của người ấy được đoạn diệt không còn dư tàn. Đối với người ấy, việc nghe pháp đã được thực hiện, việc đa văn đã được thực hiện, việc thâm nhập bằng trí tuệ đã được thực hiện, và chứng được sự giải thoát tạm thời. Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy đi đến chỗ cao thượng, không đi đến chỗ thấp kém; người ấy chỉ đi đến chỗ cao thượng, không đi đến chỗ thấp kém.
Tatrānanda, pamāṇikā pamiṇanti …pe… ahaṁ vā, ānanda, puggalesu pamāṇaṁ gaṇheyyaṁ yo vā panassa mādiso.
Judgmental people compare them … I, or someone like me, may pass judgment on individuals.
Này Ānanda, trong trường hợp đó, những người hay đo lường bèn đo lường... Này Ānanda, hoặc là Ta, hoặc là người nào giống như Ta, mới nên đo lường về các hạng người.
Idha panānanda, ekacco puggalo kodhano hoti. Tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti yatthassa so kodho apariseso nirujjhati. Tassa savanenapi akataṁ hoti, bāhusaccenapi akataṁ hoti, diṭṭhiyāpi appaṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ na labhati. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā hānāya pareti, no visesāya; hānagāmīyeva hoti, no visesagāmī.
Take a certain individual who is irritable. And they don’t truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where that anger ceases without remainder. And they’ve not listened or learned or penetrated theoretically or found even temporary freedom. When their body breaks up, after death, they depart for a lower place, not a higher. They’re going to a lower place, not a higher.
Này Ānanda, ở đây, có hạng người hay sân hận. Và người ấy không biết như thật về tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, nơi mà sân hận của người ấy được đoạn diệt không còn dư tàn. Đối với người ấy, việc nghe pháp cũng không được thực hiện, việc đa văn cũng không được thực hiện, việc thâm nhập bằng trí tuệ cũng không được thực hiện, và cũng không chứng được sự giải thoát tạm thời. Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy đi đến chỗ thấp kém, không đi đến chỗ cao thượng; người ấy chỉ đi đến chỗ thấp kém, không đi đến chỗ cao thượng.
Idha panānanda, ekacco puggalo kodhano hoti. Tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti yatthassa so kodho apariseso nirujjhati. Tassa savanenapi kataṁ hoti, bāhusaccenapi kataṁ hoti, diṭṭhiyāpi paṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ labhati. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā visesāya pareti, no hānāya; visesagāmīyeva hoti, no hānagāmī.
Take a certain individual who is irritable. But they truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where that anger ceases without remainder. And they’ve listened and learned and penetrated theoretically and found at least temporary freedom. When their body breaks up, after death, they depart for a higher place, not a lower. They’re going to a higher place, not a lower.
Này Ānanda, ở đây, có hạng người hay sân hận. Và người ấy biết như thật về tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, nơi mà sân hận của người ấy được đoạn diệt không còn dư tàn. Đối với người ấy, việc nghe pháp đã được thực hiện, việc đa văn đã được thực hiện, việc thâm nhập bằng trí tuệ đã được thực hiện, và chứng được sự giải thoát tạm thời. Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy đi đến chỗ cao thượng, không đi đến chỗ thấp kém; người ấy chỉ đi đến chỗ cao thượng, không đi đến chỗ thấp kém.
Tatrānanda, pamāṇikā pamiṇanti …pe… ahaṁ vā, ānanda, puggalesu pamāṇaṁ gaṇheyyaṁ yo vā panassa mādiso.
Judgmental people compare them … I, or someone like me, may pass judgment on individuals.
Này Ānanda, trong trường hợp đó, những người hay đo lường bèn đo lường... Này Ānanda, hoặc là Ta, hoặc là người nào giống như Ta, mới nên đo lường về các hạng người.
Idha panānanda, ekacco puggalo uddhato hoti. Tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti yatthassa taṁ uddhaccaṁ aparisesaṁ nirujjhati. Tassa savanenapi akataṁ hoti, bāhusaccenapi akataṁ hoti, diṭṭhiyāpi appaṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ na labhati. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā hānāya pareti, no visesāya; hānagāmīyeva hoti, no visesagāmī.
Take a certain individual who is restless. And they don’t truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where that restlessness ceases without remainder. And they’ve not listened or learned or penetrated theoretically or found even temporary freedom. When their body breaks up, after death, they depart for a lower place, not a higher. They’re going to a lower place, not a higher.
Này Ānanda, ở đây, có hạng người hay trạo cử. Và người ấy không biết như thật về tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, nơi mà sự trạo cử của người ấy được đoạn diệt không còn dư tàn. Đối với người ấy, việc nghe pháp cũng không được thực hiện, việc đa văn cũng không được thực hiện, việc thâm nhập bằng trí tuệ cũng không được thực hiện, và cũng không chứng được sự giải thoát tạm thời. Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy đi đến chỗ thấp kém, không đi đến chỗ cao thượng; người ấy chỉ đi đến chỗ thấp kém, không đi đến chỗ cao thượng.
Idha panānanda, ekacco puggalo uddhato hoti. Tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti yatthassa taṁ uddhaccaṁ aparisesaṁ nirujjhati. Tassa savanenapi kataṁ hoti, bāhusaccenapi kataṁ hoti, diṭṭhiyāpi paṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ labhati. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā visesāya pareti, no hānāya; visesagāmīyeva hoti, no hānagāmī.
Take a certain individual who is restless. But they truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where that restlessness ceases without remainder. And they’ve listened and learned and penetrated theoretically and found at least temporary freedom. When their body breaks up, after death, they depart for a higher place, not a lower. They’re going to a higher place, not a lower.
Này Ānanda, ở đây, có hạng người hay trạo cử. Và người ấy biết như thật về tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, nơi mà sự trạo cử của người ấy được đoạn diệt không còn dư tàn. Đối với người ấy, việc nghe pháp đã được thực hiện, việc đa văn đã được thực hiện, việc thâm nhập bằng trí tuệ đã được thực hiện, và chứng được sự giải thoát tạm thời. Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy đi đến chỗ cao thượng, không đi đến chỗ thấp kém; người ấy chỉ đi đến chỗ cao thượng, không đi đến chỗ thấp kém.
Tatrānanda, pamāṇikā pamiṇanti: ‘imassapi teva dhammā, aparassapi teva dhammā. Kasmā nesaṁ eko hīno eko paṇīto’ti? Tañhi tesaṁ, ānanda, hoti dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya.
Judgmental people compare them, saying: ‘This one has just the same qualities as the other, so why is one worse and one better?’ This will be for their lasting harm and suffering.
Này Ānanda, trong trường hợp đó, những người hay đo lường bèn đo lường rằng: ‘Người này cũng có những pháp ấy, người kia cũng có những pháp ấy. Tại sao trong số họ, một người lại thấp kém, một người lại cao thượng?’ Này Ānanda, việc ấy của họ sẽ đưa đến bất hạnh, đau khổ trong một thời gian dài.
Tatrānanda, yvāyaṁ puggalo uddhato hoti tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti yatthassa taṁ uddhaccaṁ aparisesaṁ nirujjhati, tassa savanenapi kataṁ hoti, bāhusaccenapi kataṁ hoti, diṭṭhiyāpi paṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ labhati. Ayaṁ, ānanda, puggalo amunā purimena puggalena abhikkantataro ca paṇītataro ca. Taṁ kissa hetu? Imaṁ hānanda, puggalaṁ dhammasoto nibbahati. Tadantaraṁ ko jāneyya aññatra tathāgatena. Tasmātihānanda, mā puggalesu pamāṇikā ahuvattha; mā puggalesu pamāṇaṁ gaṇhittha. Khaññati hānanda, puggalesu pamāṇaṁ gaṇhanto. Ahaṁ vā, ānanda, puggalesu pamāṇaṁ gaṇheyyaṁ yo vā panassa mādiso.
In this case, the individual who is restless, but truly understands the freedom of heart … and has listened and learned and penetrated theoretically and found at least temporary freedom is better and finer than the other individual. Why is that? Because the stream of the teaching carries them along. But who knows the difference between them except a Realized One? So, Ānanda, don’t be judgmental about individuals. Don’t pass judgment on individuals. Those who pass judgment on individuals harm themselves. I, or someone like me, may pass judgment on individuals.
Này Ānanda, trong trường hợp đó, hạng người nào hay trạo cử và biết như thật về tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, nơi mà sự trạo cử của người ấy được đoạn diệt không còn dư tàn, đối với người ấy, việc nghe pháp đã được thực hiện, việc đa văn đã được thực hiện, việc thâm nhập bằng trí tuệ đã được thực hiện, và chứng được sự giải thoát tạm thời. Này Ānanda, hạng người này thì tốt đẹp hơn và cao thượng hơn hạng người trước kia. Vì cớ sao? Này Ānanda, vì dòng pháp đưa dắt hạng người này đi. Ai có thể biết được sự khác biệt ấy ngoài Như Lai! Vì vậy, này Ānanda, các ngươi chớ có là những người hay đo lường về các hạng người; chớ có đo lường về các hạng người. Này Ānanda, người đo lường về các hạng người là tự làm hại mình. Này Ānanda, hoặc là Ta, hoặc là người nào giống như Ta, mới nên đo lường về các hạng người.
Kā cānanda, migasālā upāsikā bālā abyattā ammakā ammakapaññā, ke ca purisapuggalaparopariye ñāṇe. Ime kho, ānanda, dasa puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Who is this laywoman Migasālā, a foolish incompetent aunty, with an aunty’s wit? And who is it that knows how to assess individual persons? These ten individuals are found in the world.
Này Ānanda, nữ cư sĩ Migasālā là ai chứ? Chỉ là người đàn bà ngu dốt, không khéo léo, có trí tuệ của đàn bà. Còn trí tuệ về sự hơn kém của các hạng người nam là gì chứ! Này Ānanda, mười hạng người này đang có mặt, hiện hữu ở trên đời.
Yathārūpena, ānanda, sīlena purāṇo samannāgato ahosi tathārūpena sīlena isidatto samannāgato abhavissa, nayidha purāṇo isidattassa gatimpi aññassa. Yathārūpāya cānanda, paññāya isidatto samannāgato ahosi tathārūpāya paññāya purāṇo samannāgato abhavissa, nayidha isidatto purāṇassa gatimpi aññassa. Iti kho, ānanda, ime puggalā ubho ekaṅgahīnā”ti.
Pañcamaṁ.
If Isidatta had achieved Purāṇa’s level of ethical conduct, Purāṇa could not have even known Isidatta’s destination. And if Purāṇa had achieved Isidatta’s level of wisdom, Isidatta could not have even known Purāṇa’s destination. So both individuals were lacking in one respect.”
Này Ānanda, nếu Isidatta đã được thành tựu giới hạnh giống như giới hạnh mà Purāṇa đã thành tựu, thì ở đây Purāṇa đã không thể biết được cảnh giới của Isidatta. Và này Ānanda, nếu Purāṇa đã được thành tựu trí tuệ giống như trí tuệ mà Isidatta đã thành tựu, thì ở đây Isidatta đã không thể biết được cảnh giới của Purāṇa. Này Ānanda, như vậy, cả hai hạng người này đều khiếm khuyết một chi phần. Hết phẩm thứ năm.