- Aṅguttara Nikāya 10.73
- 8. Ākaṅkhavagga
Bản dịch
AN 10.73 — Khả Lạc
Iṭṭhadhammasutta
TTC 1—Có mười pháp này khả lạc, khả hỷ, khả ý, khó tìm được ở đời. Thế nào là mười?
TTC 2Tài sản khả lạc, khả hỷ, khả ý, khó tìm được ở đời, dung sắc… không bệnh… các giới đức… Phạm hạnh… các bạn bè… nhiều trí…. các pháp… thiên giới, khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời.
Này các Tỷ-kheo, mười pháp khả lạc, khả lạc, khả hỷ, khả này khó tìm được ở đời.
TTC 3Này các Tỷ-kheo, đối với mười pháp khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời này, mười pháp là những chướng ngại. Thế nào là mười?
TTC 4Thụ động và không hăng hái là chướng ngại cho tài sản. Không trang sức, không tô điểm là chướng ngại cho dung sắc. Hành động không thích ứng là chướng ngại cho không bệnh. Ác bằng hữu là chướng ngại cho giới đức. Không chế ngự các căn là chướng ngại cho Phạm hạnh. Lừa dối là chướng ngại cho các bạn bè. Không học tập là chướng ngại cho nhiều trí. Không nghe, không hỏi là chướng ngại cho trí tuệ. Không có chú tâm, không có quán sát là chướng ngại cho các pháp. Tà hạnh là chướng ngại cho Thiên giới.
Này các Tỷ-kheo, đối với mười khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời này, mười pháp này là những chướng ngại.
TTC 5Này các Tỷ-kheo, đối với mười pháp khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời này, mười pháp là những thức ăn. Thế nào là mười?
TTC 6Không thụ động, hăng hái là món ăn cho các tài sản. Trang sức, tô điểm là món ăn cho dung sắc. Hành động thích ứng là món ăn cho không bệnh. Bạn bè với thiện bằng hữu là thức ăn cho các giới đức. Chế ngự các căn là thức ăn cho Phạm hạnh. Không có lừa dối là thức ăn cho bạn bè. Học tập là thức ăn cho trí tuệ. Chú tâm quán sát là thức ăn cho các pháp. Chánh hạnh là thức ăn cho Thiên giới.
Này các Tỷ-kheo, đối với mười pháp khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời này, mười pháp này là những thức ăn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 10.73
- 8. If You Want
Likable
3. Kinh Các Pháp Khả Hỷ
“Dasayime, bhikkhave, dhammā iṭṭhā kantā manāpā dullabhā lokasmiṁ. Katame dasa? Bhogā iṭṭhā kantā manāpā dullabhā lokasmiṁ; vaṇṇo iṭṭho kanto manāpo dullabho lokasmiṁ; ārogyaṁ iṭṭhaṁ kantaṁ manāpaṁ dullabhaṁ lokasmiṁ; sīlaṁ iṭṭhaṁ kantaṁ manāpaṁ dullabhaṁ lokasmiṁ; brahmacariyaṁ iṭṭhaṁ kantaṁ manāpaṁ dullabhaṁ lokasmiṁ; mittā iṭṭhā kantā manāpā dullabhā lokasmiṁ; bāhusaccaṁ iṭṭhaṁ kantaṁ manāpaṁ dullabhaṁ lokasmiṁ; paññā iṭṭhā kantā manāpā dullabhā lokasmiṁ; dhammā iṭṭhā kantā manāpā dullabhā lokasmiṁ; saggā iṭṭhā kantā manāpā dullabhā lokasmiṁ.
“Mendicants, these ten likable, desirable, and agreeable things are rare in the world. What ten? Wealth, beauty, health, ethical conduct, the spiritual life, friends, learning, wisdom, good qualities, and heaven are likable, desirable, and agreeable things that are rare in the world.
73. “Này các Tỳ khưu, có mười pháp này ở trên đời là khả hỷ, khả ái, khả ý, khó được. Mười pháp nào? Của cải là khả hỷ, khả ái, khả ý, khó được ở trên đời; sắc đẹp là khả hỷ, khả ái, khả ý, khó được ở trên đời; sức khỏe là khả hỷ, khả ái, khả ý, khó được ở trên đời; giới hạnh là khả hỷ, khả ái, khả ý, khó được ở trên đời; phạm hạnh là khả hỷ, khả ái, khả ý, khó được ở trên đời; bạn bè là khả hỷ, khả ái, khả ý, khó được ở trên đời; sự đa văn là khả hỷ, khả ái, khả ý, khó được ở trên đời; trí tuệ là khả hỷ, khả ái, khả ý, khó được ở trên đời; các pháp (thiện) là khả hỷ, khả ái, khả ý, khó được ở trên đời; các cõi trời là khả hỷ, khả ái, khả ý, khó được ở trên đời.
Imesaṁ kho, bhikkhave, dasannaṁ dhammānaṁ iṭṭhānaṁ kantānaṁ manāpānaṁ dullabhānaṁ lokasmiṁ dasa dhammā paripanthā—ālasyaṁ anuṭṭhānaṁ bhogānaṁ paripantho, amaṇḍanā avibhūsanā vaṇṇassa paripantho, asappāyakiriyā ārogyassa paripantho, pāpamittatā sīlānaṁ paripantho, indriyaasaṁvaro brahmacariyassa paripantho, visaṁvādanā mittānaṁ paripantho, asajjhāyakiriyā bāhusaccassa paripantho, asussūsā aparipucchā paññāya paripantho, ananuyogo apaccavekkhaṇā dhammānaṁ paripantho, micchāpaṭipatti saggānaṁ paripantho. Imesaṁ kho, bhikkhave, dasannaṁ iṭṭhānaṁ kantānaṁ manāpānaṁ dullabhānaṁ lokasmiṁ ime dasa dhammā paripanthā.
Ten things are roadblocks for these ten likable, desirable, and agreeable things that are rare in the world. Sloth and lack of initiative are a roadblock for wealth. Lack of adornment and decoration are a roadblock for beauty. Unsuitable activity is a roadblock for health. Bad friendship is a roadblock for ethical conduct. Lack of sense restraint is a roadblock for the spiritual life. Dishonesty is a roadblock for friends. Not rehearsing is a roadblock for learning. Not wanting to listen and ask questions are roadblocks for wisdom. Lack of commitment and reviewing are roadblocks for good qualities. Wrong practice hinders heaven. These ten things are roadblocks for these ten likable, desirable, and agreeable things that are rare in the world.
“Này các Tỳ khưu, đối với mười pháp này là khả hỷ, khả ái, khả ý, khó được ở trên đời, có mười pháp là chướng ngại – sự lười biếng, không nỗ lực là chướng ngại của của cải; không trang điểm, không trang sức là chướng ngại của sắc đẹp; việc làm không thích hợp là chướng ngại của sức khỏe; có bạn ác là chướng ngại của giới hạnh; không thu thúc các căn là chướng ngại của phạm hạnh; sự lừa dối là chướng ngại của bạn bè; không tụng đọc là chướng ngại của sự đa văn; không lắng nghe, không hỏi han là chướng ngại của trí tuệ; không thực hành, không quán xét là chướng ngại của các pháp (thiện); tà hạnh là chướng ngại của các cõi trời. Này các Tỳ khưu, đối với mười pháp này là khả hỷ, khả ái, khả ý, khó được ở trên đời, mười pháp này là chướng ngại.
Imesaṁ kho, bhikkhave, dasannaṁ dhammānaṁ iṭṭhānaṁ kantānaṁ manāpānaṁ dullabhānaṁ lokasmiṁ dasa dhammā āhārā—uṭṭhānaṁ anālasyaṁ bhogānaṁ āhāro, maṇḍanā vibhūsanā vaṇṇassa āhāro, sappāyakiriyā ārogyassa āhāro, kalyāṇamittatā sīlānaṁ āhāro, indriyasaṁvaro brahmacariyassa āhāro, avisaṁvādanā mittānaṁ āhāro, sajjhāyakiriyā bāhusaccassa āhāro, sussūsā paripucchā paññāya āhāro, anuyogo paccavekkhaṇā dhammānaṁ āhāro, sammāpaṭipatti saggānaṁ āhāro. Imesaṁ kho, bhikkhave, dasannaṁ dhammānaṁ iṭṭhānaṁ kantānaṁ manāpānaṁ dullabhānaṁ lokasmiṁ ime dasa dhammā āhārā”ti.
Tatiyaṁ.
Ten things nourish these ten likable, desirable, and agreeable things that are rare in the world. Application and initiative nourish wealth. Adornment and decoration nourish beauty. Suitable activity nourishes health. Good friendship nourishes ethical conduct. Sense restraint nourishes the spiritual life. Honesty nourishes friends. Rehearsing nourishes learning. Eagerness to listen and ask questions nourishes wisdom. Commitment and reviewing nourish good qualities. Right practice nourishes heaven. These ten things nourish these ten likable, desirable, and agreeable things that are rare in the world.”
“Này các Tỳ khưu, đối với mười pháp này là khả hỷ, khả ái, khả ý, khó được ở trên đời, có mười pháp là nhân duyên – sự nỗ lực, không lười biếng là nhân duyên của của cải; trang điểm, trang sức là nhân duyên của sắc đẹp; việc làm thích hợp là nhân duyên của sức khỏe; có bạn lành là nhân duyên của giới hạnh; thu thúc các căn là nhân duyên của phạm hạnh; không lừa dối là nhân duyên của bạn bè; tụng đọc là nhân duyên của sự đa văn; lắng nghe, hỏi han là nhân duyên của trí tuệ; thực hành, quán xét là nhân duyên của các pháp (thiện); chánh hạnh là nhân duyên của các cõi trời. Này các Tỳ khưu, đối với mười pháp này là khả hỷ, khả ái, khả ý, khó được ở trên đời, mười pháp này là nhân duyên.” Kinh thứ ba.