- Aṅguttara Nikāya 10.68
- 7. Yamakavagga
Bản dịch
AN 10.68 — Nalakapàna (2)
Dutiyanaḷakapānasutta
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Nalakapàna, tại Palàsavana. Lúc bấy giờ, Thế Tôn trong ngày trai giới Uposatha, đang ngồi có chúng Tỷ-kheo đoanh vây…
(Kinh này giống như Kinh 67, chỉ khác là các pháp đề cập có khác nhau. Trong kinh trước, các pháp được đề cập là không có lòng tin trong thiện pháp, không có xấu hổ… không có sợ hãi… không có tinh tấn, không có trí tuệ, phẫn nộ, hiềm hận, ác dục, ác bằng hữu, tà kiến. Trong kinh này, các pháp được đề cập là: không có lòng tin trong các thiện pháp, không có xấu hổ, không có sợ hãi, không có trì pháp, không có trí tuệ, không có lắng tai, không có trì pháp, không có suy tư ý nghĩa, không có thực hành đúng pháp, không có phóng dật trong các thiện pháp) …
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 10.68
- 7. Pairs
At Naḷakapāna (2nd)
8. Kinh Naḷakapāna Thứ Hai
Ekaṁ samayaṁ bhagavā naḷakapāne viharati palāsavane.
Tena kho pana samayena bhagavā tadahuposathe bhikkhusaṅghaparivuto nisinno hoti. Atha kho bhagavā bahudeva rattiṁ bhikkhūnaṁ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā tuṇhībhūtaṁ tuṇhībhūtaṁ bhikkhusaṅghaṁ anuviloketvā āyasmantaṁ sāriputtaṁ āmantesi:
At one time the Buddha stayed near Naḷakapāna in the grove of flame-of-the-forest trees.
Now, at that time it was the sabbath, and the Buddha was sitting surrounded by the Saṅgha of monks. The Buddha spent much of the night educating, encouraging, firing up, and inspiring the monks with a Dhamma talk. Then he looked around the Saṅgha of monks, who were so very silent. He addressed Venerable Sāriputta,
68. Một thời, Thế Tôn trú tại Naḷakapāna, trong rừng Palāsa. Lúc bấy giờ, vào ngày Uposatha hôm đó, Thế Tôn đang ngồi, được Tăng chúng vây quanh. Rồi Thế Tôn, sau khi đã chỉ dạy, khuyến khích, làm cho hăng hái, làm cho hoan hỷ các vị tỳ khưu bằng pháp thoại suốt đêm dài, Ngài nhìn quanh Tăng chúng đang im lặng, hoàn toàn im lặng, rồi gọi Tôn giả Sāriputta:
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā sāriputto bhagavato paccassosi.
“Yes, sir,” Sāriputta replied.
– Này Sāriputta, Tăng chúng này đã không còn hôn trầm thụy miên. Này Sāriputta, mong rằng ông hãy thuyết một bài pháp thoại cho các vị tỳ khưu. Lưng của ta bị mỏi; ta sẽ duỗi nó ra. – Vâng, bạch Thế Tôn. – Tôn giả Sāriputta đã vâng đáp Thế Tôn.
Atha kho bhagavā catugguṇaṁ saṅghāṭiṁ paññāpetvā dakkhiṇena passena sīhaseyyaṁ kappesi pāde pādaṁ accādhāya sato sampajāno uṭṭhānasaññaṁ manasi karitvā.
Tatra kho āyasmā sāriputto bhikkhū āmantesi: “āvuso bhikkhave”ti.
“Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato sāriputtassa paccassosuṁ. Āyasmā sāriputto etadavoca:
And then the Buddha spread out his outer robe folded in four and laid down in the lion’s posture—on the right side, placing one foot on top of the other—mindful and aware, and focused on the time of getting up.
There Sāriputta addressed the monks: “Reverends, monks!”
“Reverend,” they replied. Sāriputta said this:
Rồi Thế Tôn, sau khi trải tấm tăng-già-lê gấp bốn, đã thực hiện tư thế nằm của sư tử về phía bên phải, chân này gác lên chân kia, chánh niệm tỉnh giác, tác ý đến tưởng khởi dậy. Bấy giờ, Tôn giả Sāriputta gọi các vị tỳ khưu: – Này chư hiền, các tỳ khưu! – Thưa hiền giả! – các vị tỳ khưu ấy đã vâng đáp Tôn giả Sāriputta. Tôn giả Sāriputta đã nói điều này:
“Yassa kassaci, āvuso, saddhā natthi kusalesu dhammesu, hirī natthi … ottappaṁ natthi … vīriyaṁ natthi … paññā natthi … sotāvadhānaṁ natthi … dhammadhāraṇā natthi … atthūpaparikkhā natthi … dhammānudhammappaṭipatti natthi … appamādo natthi kusalesu dhammesu, tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, hāniyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu no vuddhi. Seyyathāpi, āvuso, kāḷapakkhe candassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, hāyateva vaṇṇena hāyati maṇḍalena hāyati ābhāya hāyati ārohapariṇāhena; evamevaṁ kho, āvuso, yassa kassaci saddhā natthi kusalesu dhammesu, hirī natthi … ottappaṁ natthi … vīriyaṁ natthi … paññā natthi … sotāvadhānaṁ natthi … dhammadhāraṇā natthi … atthūpaparikkhā natthi … dhammānudhammappaṭipatti natthi … appamādo natthi kusalesu dhammesu, tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, hāniyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu no vuddhi.
“Reverends, whoever has no faith, conscience, prudence, energy, and wisdom; who doesn’t want to listen, doesn’t memorize the teachings, examine their meaning, or practice accordingly, and is negligent when it comes to skillful qualities can expect decline, not growth, in skillful qualities, whether by day or by night. It’s like the moon in the waning fortnight. Whether by day or by night, its beauty, roundness, luminosity, and diameter and circumference only decline. In the same way, whoever has no faith, conscience, prudence, energy, and wisdom; who doesn’t want to listen, doesn’t memorize the teachings, examine their meaning, or practice accordingly, and is negligent when it comes to skillful qualities can expect decline, not growth, in skillful qualities, whether by day or by night.
– Này chư hiền, bất cứ người nào không có đức tin vào các thiện pháp, không có hổ thẹn... không có ghê sợ... không có tinh tấn... không có trí tuệ... không có sự lắng nghe... không có sự ghi nhớ pháp... không có sự thẩm sát ý nghĩa... không có sự thực hành pháp và tùy pháp... không có sự không dể duôi trong các thiện pháp, đối với người ấy, mỗi khi đêm hay ngày đến, chỉ có thể mong đợi sự suy giảm trong các thiện pháp, chứ không có sự tăng trưởng. Này chư hiền, ví như mặt trăng trong kỳ hắc nguyệt, mỗi khi đêm hay ngày đến, nó chỉ suy giảm về màu sắc, suy giảm về vòng tròn, suy giảm về ánh sáng, suy giảm về chiều cao và chu vi; cũng vậy, này chư hiền, bất cứ người nào không có đức tin vào các thiện pháp, không có hổ thẹn... không có ghê sợ... không có tinh tấn... không có trí tuệ... không có sự lắng nghe... không có sự ghi nhớ pháp... không có sự thẩm sát ý nghĩa... không có sự thực hành pháp và tùy pháp... không có sự không dể duôi trong các thiện pháp, đối với người ấy, mỗi khi đêm hay ngày đến, chỉ có thể mong đợi sự suy giảm trong các thiện pháp, chứ không có sự tăng trưởng.
Yassa kassaci, āvuso, saddhā atthi kusalesu dhammesu, hirī atthi … ottappaṁ atthi … vīriyaṁ atthi … paññā atthi … sotāvadhānaṁ atthi … dhammadhāraṇā atthi … atthūpaparikkhā atthi … dhammānudhammappaṭipatti atthi … appamādo atthi kusalesu dhammesu, tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, vuddhiyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu no parihāni. Seyyathāpi, āvuso, juṇhapakkhe candassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, vaḍḍhateva vaṇṇena vaḍḍhati maṇḍalena vaḍḍhati ābhāya vaḍḍhati ārohapariṇāhena; evamevaṁ kho, āvuso, yassa kassaci saddhā atthi kusalesu dhammesu …pe… appamādo atthi kusalesu dhammesu, tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, vuddhiyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu no parihānī”ti.
Whoever has faith, conscience, prudence, energy, and wisdom; who wants to listen, memorizes the teachings, examines their meaning, practices accordingly, and is diligent when it comes to skillful qualities can expect growth, not decline, in skillful qualities, whether by day or by night. It’s like the moon in the waxing fortnight. Whether by day or by night, its beauty, roundness, luminosity, and diameter and circumference only grow. In the same way, whoever has faith, conscience, prudence, energy, and wisdom; who wants to listen, memorizes the teachings, examines their meaning, and practices accordingly, and is diligent when it comes to skillful qualities can expect growth, not decline, in skillful qualities, whether by day or by night.”
“Này chư hiền, bất cứ người nào có niềm tin vào các thiện pháp, có tàm, có quý, có tinh tấn, có trí tuệ, có sự lắng nghe, có sự ghi nhớ pháp, có sự thẩm sát ý nghĩa, có sự thực hành pháp tùy pháp, có sự không dể duôi trong các thiện pháp, đối với người ấy, đêm hay ngày nào đến, chỉ có sự tăng trưởng trong các thiện pháp được mong đợi, không có sự tổn giảm. Này chư hiền, ví như mặt trăng trong thượng tuần, đêm hay ngày nào đến, chỉ tăng trưởng về màu sắc, tăng trưởng về vòng tròn, tăng trưởng về ánh sáng, tăng trưởng về chiều cao và chu vi; cũng vậy, này chư hiền, bất cứ người nào có niềm tin vào các thiện pháp ... cho đến ... có sự không dể duôi trong các thiện pháp, đối với người ấy, đêm hay ngày nào đến, chỉ có sự tăng trưởng trong các thiện pháp được mong đợi, không có sự tổn giảm.”
Atha kho bhagavā paccuṭṭhāya āyasmantaṁ sāriputtaṁ āmantesi:
“sādhu sādhu, sāriputta. Yassa kassaci, sāriputta, saddhā natthi kusalesu dhammesu hirī natthi … ottappaṁ natthi … paññā natthi … vīriyaṁ natthi … sotāvadhānaṁ natthi … dhammadhāraṇā natthi … atthūpaparikkhā natthi … dhammānudhammappaṭipatti natthi … appamādo natthi kusalesu dhammesu tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, hāniyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu no vuddhi. Seyyathāpi, sāriputta, kāḷapakkhe candassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, hāyateva vaṇṇena hāyati maṇḍalena hāyati ābhāya hāyati ārohapariṇāhena; evamevaṁ kho, sāriputta, yassa kassaci saddhā natthi kusalesu dhammesu …pe… appamādo natthi kusalesu dhammesu, tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, hāniyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu no vuddhi.
Then the Buddha got up and said to Venerable Sāriputta:
“Good, good, Sāriputta! Whoever has no faith, conscience, prudence, energy, and wisdom; who doesn’t want to listen, doesn’t memorize the teachings, examine their meaning, or practice accordingly, and is negligent when it comes to skillful qualities can expect decline, not growth, in skillful qualities, whether by day or by night. It’s like the moon in the waning fortnight. Whether by day or by night, its beauty, roundness, luminosity, and diameter and circumference only decline. In the same way, whoever has no faith … and is negligent when it comes to skillful qualities can expect decline, not growth, in skillful qualities, whether by day or by night.
Rồi Thế Tôn, vào lúc sáng sớm, thức dậy và gọi Tôn giả Sāriputta: “Lành thay, lành thay, này Sāriputta! Này Sāriputta, bất cứ người nào không có niềm tin vào các thiện pháp, không có tàm, không có quý, không có trí tuệ, không có tinh tấn, không có sự lắng nghe, không có sự ghi nhớ pháp, không có sự thẩm sát ý nghĩa, không có sự thực hành pháp tùy pháp, không có sự không dể duôi trong các thiện pháp, đối với người ấy, đêm hay ngày nào đến, chỉ có sự tổn giảm trong các thiện pháp được mong đợi, không có sự tăng trưởng. Này Sāriputta, ví như mặt trăng trong hạ tuần, đêm hay ngày nào đến, chỉ tổn giảm về màu sắc, tổn giảm về vòng tròn, tổn giảm về ánh sáng, tổn giảm về chiều cao và chu vi; cũng vậy, này Sāriputta, bất cứ người nào không có niềm tin vào các thiện pháp ... cho đến ... không có sự không dể duôi trong các thiện pháp, đối với người ấy, đêm hay ngày nào đến, chỉ có sự tổn giảm trong các thiện pháp được mong đợi, không có sự tăng trưởng.
Yassa kassaci, sāriputta, saddhā atthi kusalesu dhammesu hirī atthi … ottappaṁ atthi … vīriyaṁ atthi … paññā atthi … sotāvadhānaṁ atthi … dhammadhāraṇā atthi … atthūpaparikkhā atthi … dhammānudhammappaṭipatti atthi … appamādo atthi kusalesu dhammesu, tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, vuddhiyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu no parihāni. Seyyathāpi, sāriputta, juṇhapakkhe candassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, vaḍḍhateva vaṇṇena vaḍḍhati maṇḍalena vaḍḍhati ābhāya vaḍḍhati ārohapariṇāhena; evamevaṁ kho, sāriputta, yassa kassaci saddhā atthi kusalesu dhammesu …pe… appamādo atthi kusalesu dhammesu, tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati, vuddhiyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu no parihānī”ti.
Aṭṭhamaṁ.
Whoever has faith, conscience, prudence, energy, and wisdom; who wants to listen, memorizes the teachings, examines their meaning, practices accordingly, and is diligent when it comes to skillful qualities can expect growth, not decline, in skillful qualities, whether by day or by night. It’s like the moon in the waxing fortnight. Whether by day or by night, its beauty, roundness, luminosity, and diameter and circumference only grow. In the same way, whoever has faith … and is diligent when it comes to skillful qualities can expect growth, not decline, in skillful qualities, whether by day or by night.”
“Này Sāriputta, bất cứ người nào có niềm tin vào các thiện pháp, có tàm, có quý, có tinh tấn, có trí tuệ, có sự lắng nghe, có sự ghi nhớ pháp, có sự thẩm sát ý nghĩa, có sự thực hành pháp tùy pháp, có sự không dể duôi trong các thiện pháp, đối với người ấy, đêm hay ngày nào đến, chỉ có sự tăng trưởng trong các thiện pháp được mong đợi, không có sự tổn giảm. Này Sāriputta, ví như mặt trăng trong thượng tuần, đêm hay ngày nào đến, chỉ tăng trưởng về màu sắc, tăng trưởng về vòng tròn, tăng trưởng về ánh sáng, tăng trưởng về chiều cao và chu vi; cũng vậy, này Sāriputta, bất cứ người nào có niềm tin vào các thiện pháp ... cho đến ... có sự không dể duôi trong các thiện pháp, đối với người ấy, đêm hay ngày nào đến, chỉ có sự tăng trưởng trong các thiện pháp được mong đợi, không có sự tổn giảm.” (Kinh) thứ tám.