- Aṅguttara Nikāya 10.66
- 7. Yamakavagga
Bản dịch
AN 10.66 — Lạc Và Khổ (2)
Dutiyasukhasutta
TTC 1Một thời, Tôn giả Sàriputta trú ở giữa dân chúng Magadha, tại Nàlalagàmaka. Rồi du sĩ Sàmandakàni đi đến Tôn giả Sàriputta sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, du sĩ Sámandakàni nói với Tôn giả Sàriputta:
—Thưa Hiền giả Sàriputta, trong Pháp và Luật này, thế nào là lạc, thế nào là khổ?
TTC 2—Không thích ý, này Hiền giả, trong Pháp và Luật này là khổ; thích ý là lạc.
Khi nào không thích ý có mặt, này Hiền giả, chờ đợi là khổ này: Khi đi không được lạc thú, khi đứng… khi ngồi… khi nằm… khi đi đến làng.. khi đi đến rừng… khi đi đến gốc cây… khi đi đến ngôi nhà trống… khi đi đến chỗ lộ thiên… khi đi đến giữa các Tỷ-kheo, không được lạc thú.
Khi nào không thích ý có mặt, này Hiền giả, chờ đợi là khổ này.
TTC 3Khi nào thích ý có mặt, này Hiền giả, chờ đợi là lạc này: Khi đi được lạc thú; khi đứng… khi ngồi… khi nằm… khi đi đến làng… khi đi đến rừng… khi đi đến gốc cây… khi đi đến ngôi nhà trống… khi đi đến chỗ lộ thiên… khi đi đến giữa các Tỷ-kheo, có được lạc thú.
Khi nào thích ý có mặt, này Hiền giả, chờ đợi là khổ này.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 10.66
- 7. Pairs
Happiness (2nd)
6. Kinh Hạnh Phúc (2)
Ekaṁ samayaṁ āyasmā sāriputto magadhesu viharati nālakagāmake. Atha kho sāmaṇḍakāni paribbājako yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā sāriputtena saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho sāmaṇḍakāni paribbājako āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
At one time Venerable Sāriputta was staying in the land of the Magadhans near the little village of Nālaka. Then the wanderer Sāmaṇḍakāni went up to Venerable Sāriputta and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, Sāmaṇḍakāni sat down to one side and said to Sāriputta:
66. Một thời, Tôn giả Sāriputta trú ở làng Nālaka, xứ Magadha. Bấy giờ, du sĩ Sāmaṇḍakāni đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta; sau khi đến, vị ấy đã chào hỏi thân mật với Tôn giả Sāriputta. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân mật, đáng ghi nhớ, vị ấy ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, du sĩ Sāmaṇḍakāni bạch với Tôn giả Sāriputta rằng:
“Kiṁ nu kho, āvuso, sāriputta, imasmiṁ dhammavinaye sukhaṁ, kiṁ dukkhan”ti?
“Anabhirati kho, āvuso, imasmiṁ dhammavinaye dukkhā, abhirati sukhā. Anabhiratiyā, āvuso, sati idaṁ dukkhaṁ pāṭikaṅkhaṁ—gacchantopi sukhaṁ sātaṁ nādhigacchati, ṭhitopi … nisinnopi … sayānopi … gāmagatopi … araññagatopi … rukkhamūlagatopi … suññāgāragatopi … abbhokāsagatopi … bhikkhumajjhagatopi sukhaṁ sātaṁ nādhigacchati. Anabhiratiyā, āvuso, sati idaṁ dukkhaṁ pāṭikaṅkhaṁ.
“Reverend Sāriputta, in this teaching and training, what is happiness and what is suffering?”
“Reverend, in this teaching and training dissatisfaction is suffering and satisfaction is happiness. When you’re dissatisfied, you can expect this kind of suffering. You find no happiness or pleasure while walking … standing … sitting … or lying down … or when in a village … a wilderness … at the root of a tree … an empty hut … the open air … or when among the mendicants. When you’re dissatisfied, this is the kind of suffering you can expect.
“Này hiền giả Sāriputta, trong Pháp và Luật này, cái gì là lạc, cái gì là khổ?” “Này hiền giả, trong Pháp và Luật này, không hoan hỷ là khổ, hoan hỷ là lạc. Này hiền giả, khi có sự không hoan hỷ, sự khổ này có thể được chờ đợi: dầu đi cũng không đạt được an lạc và thoải mái, dầu đứng... dầu ngồi... dầu nằm... dầu đi đến làng... dầu đi đến rừng... dầu đi đến gốc cây... dầu đi đến ngôi nhà trống... dầu đi đến ngoài trời... dầu đi đến giữa các tỳ khưu cũng không đạt được an lạc và thoải mái. Này hiền giả, khi có sự không hoan hỷ, sự khổ này có thể được chờ đợi.”
Abhiratiyā, āvuso, sati idaṁ sukhaṁ pāṭikaṅkhaṁ—gacchantopi sukhaṁ sātaṁ adhigacchati, ṭhitopi … nisinnopi … sayānopi … gāmagatopi … araññagatopi … rukkhamūlagatopi … suññāgāragatopi … abbhokāsagatopi … bhikkhumajjhagatopi sukhaṁ sātaṁ adhigacchati. Abhiratiyā, āvuso, sati idaṁ sukhaṁ pāṭikaṅkhan”ti.
Chaṭṭhaṁ.
When you’re satisfied, you can expect this kind of happiness. You find happiness or pleasure while walking … standing … sitting … or lying down … or when in a village … a wilderness … at the root of a tree … an empty hut … the open air … or when among the mendicants. When you’re satisfied, this is the kind of happiness you can expect.”
“Này hiền giả, khi có sự hoan hỷ, sự lạc này có thể được chờ đợi: dầu đi cũng đạt được an lạc và thoải mái, dầu đứng... dầu ngồi... dầu nằm... dầu đi đến làng... dầu đi đến rừng... dầu đi đến gốc cây... dầu đi đến ngôi nhà trống... dầu đi đến ngoài trời... dầu đi đến giữa các tỳ khưu cũng đạt được an lạc và thoải mái. Này hiền giả, khi có sự hoan hỷ, sự lạc này có thể được chờ đợi.” Hết kinh thứ sáu.