- Aṅguttara Nikāya 10.50
- 5. Akkosavagga
Bản dịch
AN 10.50 — Ðấu Tranh
Bhaṇḍanasutta
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, trong khu vườn của ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, một số đông Tỷ-kheo sau buổi ăn, sau khi đi khất thực trở về, cùng nhau ngồi hội họp trong hội trường, cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, sống đả thương nhau với binh khí miệng lưỡi. Rồi Thế Tôn vào buổi chiều, từ chỗ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến hội trường, sau khi đến. Ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi xuống, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:
TTC 2—Này các Tỷ-kheo, nay các thầy họp, bàn đến vấn đề gì? Câu chuyện gì giữa các Thầy đã bị gián đoạn?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con sau buổi ăn, sau khi đi khất thực trở về, chúng con ngồi hội họp trong hội trường, cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, sống đả thương nhau với binh khí miệng lưỡi.
—Này các Tỷ-kheo, thật là không xứng đáng cho các Thầy, các thiện nam tử, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, lại sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau với binh khí miệng lưỡi. Này các Tỷ-kheo, có mười pháp này, cần phải ghi nhớ tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí. Thế nào là mười?
TTC 3Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có giới, sống được chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Patimokkha, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Phàm vị Tỷ-kheo nào có giới, sống chế ngự… trong các học pháp: Ðây là pháp cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính hòa hợp, nhất trí.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ kheo có nghe nhiều, thọ trì điều đã được nghe, cất giữ điều đã nghe. Những pháp gì, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, tán thán Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh, các pháp như vậy, vị ấy nghe nhiều, thọ trì, đã đọc tụng bằng lời, đã quan sát với ý, đã khéo thông đạt nhờ chánh kiến. Này các Tỷ-kheo, phàm vị Tỷ-kheo nào có nghe nhiều, thọ trì điều đã được nghe… khéo thông đạt nhờ chánh kiến. Ðây là pháp cần phải ghi nhớ…….. hòa hợp, nhất trí.
TTC 5Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo làm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện. Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo nào làm bạn với thiện… giao thiệp với thiện. Ðây là pháp cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái……. hòa hợp, nhất trí.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo dễ nói, thành tựu những pháp tác thành người dễ nói, kham nhẫn và khéo chấp nhận những lời giáo giới. Này các Tỷ-kheo, vì rằng vị Tỷ-kheo nào dễ nói… khéo chấp nhận những lời giáo giới. Ðây là pháp cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái… hòa hợp, nhất trí.
TTC 7Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phàm có những công việc cần phải làm, hoặc lớn, hoặc nhỏ đối với các đồng Phạm hạnh. Ở đây, vị ấy khéo léo và tinh cần, thành tựu sự suy tư đến các phương tiện, vừa đủ để làm, vừa đủ để tổ chức. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào phàm có những công việc gì… vừa đủ để tổ chức….. tương ái… hòa hợp, nhất trí.
TTC 8Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ưa pháp, cùng nói chuyện một cách dễ thương, vô cùng hân hoan trong thắng Pháp, trong thắng Luật. Này các Tỷ-kheo, phàm Tỷ-kheo nào ưa Pháp… trong thắng Luật. Ðây là pháp cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái.. hòa hợp, nhất trí.
TTC 9Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống tinh cần, tinh tấn, đoạn trừ các pháp bất thiện, làm cho đầy đủ các thiện pháp, nỗ lực kiên trì, không bỏ rơi gánh nặng đối với các thiện pháp. Này các Tỷ-kheo, phàm Tỷ-kheo nào sống tinh cần, tinh tấn… đối với các thiện pháp. Ðây là pháp cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái… hòa hợp, nhất trí.
TTC 10Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết đủ đối với các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Này các Tỷ-kheo, phàm Tỷ-kheo nào biết đủ… dược phẩm trị bệnh. Ðây là pháp cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái… hòa hợp, nhất trí.
TTC 11Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chánh niệm, thành tựu niệm tuệ tối thắng, ức niệm, tùy niệm việc đã làm từ lâu, đã nói từ lâu… Này các Tỷ-kheo, phàm Tỷ-kheo nào chánh niệm… đã nói từ lâu. Ðây là pháp cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái… hòa hợp, nhất trí.
TTC 12Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có trí tuệ, thành tựu với trí tuệ về sanh diệt, trí tuệ thuộc bậc Thánh, thể nhập và hướng đến chơn chánh đoạn tận khổ đau. Này các Tỷ-kheo, phàm Tỷ-kheo nào có trí tuệ, thành tựu với trí tuệ về sanh diệt, trí tuệ thuộc bậc Thánh, thể nhập và hướng đến chơn chính đoạn tận khổ đau. Ðây là pháp cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 10.50
- 5. Abuse
Fights
10. Kinh Tranh Cãi
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tena kho pana samayena sambahulā bhikkhū pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkantā upaṭṭhānasālāyaṁ sannisinnā sannipatitā bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharanti.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery. Now at that time, after the meal, on return from almsround, several mendicants sat together in the assembly hall. They were fighting, quarreling, and disputing, wounding each other with barbed words.
50. Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, có nhiều Tỳ khưu, sau bữa ăn, đã đi khất thực về, đang ngồi tụ họp trong phòng hội, sanh ra tranh cãi, sanh ra cãi vã, rơi vào tranh luận, đang đả thương nhau bằng những ngọn giáo miệng.
Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yena upaṭṭhānasālā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Nisajja kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “kāya nuttha, bhikkhave, etarahi kathāya sannisinnā sannipatitā, kā ca pana vo antarākathā vippakatā”ti?
Then in the late afternoon, the Buddha came out of retreat and went to the assembly hall. He sat down on the seat spread out, and addressed the mendicants: “Mendicants, what were you sitting talking about just now? What conversation was left unfinished?”
Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, sau khi xuất khỏi nơi độc cư, đã đi đến phòng hội; sau khi đến, Ngài ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn gọi các Tỳ khưu: – Này các Tỳ khưu, hiện nay các con đang ngồi tụ họp với câu chuyện gì, và câu chuyện gì của các con đang nói dở dang?
“Idha mayaṁ, bhante, pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkantā upaṭṭhānasālāyaṁ sannisinnā sannipatitā bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharāmā”ti.
“Na kho panetaṁ, bhikkhave, tumhākaṁ patirūpaṁ kulaputtānaṁ saddhāya agārasmā anagāriyaṁ pabbajitānaṁ, yaṁ tumhe bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā vihareyyātha.
“Sir, after the meal, on return from almsround, we sat together in the assembly hall, fighting, quarreling, and disputing, wounding each other with barbed words.”
“Mendicants, this is not appropriate for you gentlemen who have gone forth out of faith from the lay life to homelessness.
– Bạch Thế Tôn, ở đây chúng con, sau bữa ăn, đã đi khất thực về, đang ngồi tụ họp trong phòng hội, sanh ra tranh cãi, sanh ra cãi vã, rơi vào tranh luận, đang đả thương nhau bằng những ngọn giáo miệng. – Này các Tỳ khưu, điều này không thích hợp với các con, những thiện nam tử đã vì lòng tin mà từ bỏ gia đình, sống không gia đình, việc các con sanh ra tranh cãi, sanh ra cãi vã, rơi vào tranh luận, đang đả thương nhau bằng những ngọn giáo miệng.
Dasayime, bhikkhave, dhammā sāraṇīyā piyakaraṇā garukaraṇā saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattanti. Katame dasa? Idha, bhikkhave, bhikkhu sīlavā hoti, pātimokkhasaṁvarasaṁvuto viharati ācāragocarasampanno aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya sikkhati sikkhāpadesu. Yampi, bhikkhave, bhikkhu sīlavā hoti …pe… samādāya sikkhati sikkhāpadesu, ayampi dhammo sāraṇīyo piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattati.
There are ten warm-hearted qualities that make for fondness and respect, conducing to inclusion, harmony, and unity, without dispute. What ten? Firstly, a mendicant is ethical, restrained in the monastic code, conducting themselves well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, they keep the rules they’ve undertaken. When a mendicant is ethical, this warm-hearted quality makes for fondness and respect, conducing to inclusion, harmony, and unity, without dispute.
Này các Tỳ khưu, có mười pháp này đáng ghi nhớ, tạo ra sự thân ái, tạo ra sự kính trọng, đưa đến sự nhiếp phục, không tranh cãi, hòa hợp, hợp nhất. Mười pháp nào? Ở đây, này các Tỳ khưu, Tỳ khưu có giới, sống được phòng hộ bởi sự phòng hộ của Pātimokkha, đầy đủ oai nghi và hành xứ, thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và tu học trong các học giới. Này các Tỳ khưu, việc Tỳ khưu có giới... cho đến... thọ trì và tu học trong các học giới, pháp này cũng đáng ghi nhớ, tạo ra sự thân ái, tạo ra sự kính trọng, đưa đến sự nhiếp phục, không tranh cãi, hòa hợp, hợp nhất.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu bahussuto hoti sutadharo sutasannicayo, ye te dhammā ādikalyāṇā majjhekalyāṇā pariyosānakalyāṇā sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ abhivadanti, tathārūpāssa dhammā bahussutā honti dhātā vacasā paricitā manasānupekkhitā diṭṭhiyā suppaṭividdhā. Yampi, bhikkhave, bhikkhu bahussuto hoti …pe… diṭṭhiyā suppaṭividdhā, ayampi dhammo sāraṇīyo piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant is very learned, remembering and keeping what they’ve learned. These teachings are good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased, describing a spiritual practice that’s entirely full and pure. They are very learned in such teachings, remembering them, rehearsing them, mentally scrutinizing them, and penetrating them theoretically. …
Lại nữa, này các Tỳ khưu, Tỳ khưu là người đa văn, ghi nhớ những gì đã nghe, tích lũy những gì đã nghe. Những pháp nào toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú, tuyên thuyết phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch, những pháp như vậy vị ấy đã nghe nhiều, đã ghi nhớ, đã quen thuộc bằng lời, đã quán xét bằng ý, đã khéo thông đạt bằng trí tuệ. Này các Tỳ khưu, việc Tỳ khưu là người đa văn... cho đến... đã khéo thông đạt bằng trí tuệ, pháp này cũng đáng ghi nhớ, tạo ra sự thân ái, tạo ra sự kính trọng, đưa đến sự nhiếp phục, không tranh cãi, hòa hợp, hợp nhất.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu kalyāṇamitto hoti kalyāṇasahāyo kalyāṇasampavaṅko. Yampi, bhikkhave, bhikkhu kalyāṇamitto hoti kalyāṇasahāyo kalyāṇasampavaṅko, ayampi dhammo sāraṇīyo piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant has good friends, companions, and associates. …
Lại nữa, này các Tỳ khưu, Tỳ khưu có bạn lành, có bạn đồng hành tốt, có khuynh hướng theo bạn lành. Này các Tỳ khưu, việc Tỳ khưu có bạn lành, có bạn đồng hành tốt, có khuynh hướng theo bạn lành, pháp này cũng đáng ghi nhớ, tạo ra sự thân ái, tạo ra sự kính trọng, đưa đến sự nhiếp phục, không tranh cãi, hòa hợp, hợp nhất.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu suvaco hoti sovacassakaraṇehi dhammehi samannāgato khamo padakkhiṇaggāhī anusāsaniṁ. Yampi, bhikkhave, bhikkhu suvaco hoti sovacassakaraṇehi dhammehi samannāgato khamo padakkhiṇaggāhī anusāsaniṁ, ayampi dhammo sāraṇīyo piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant is easy to admonish, having qualities that make them easy to admonish. They’re patient, and take instruction respectfully. …
Lại nữa, này các Tỳ khưu, Tỳ khưu là người dễ nói, có đầy đủ các pháp làm cho dễ nói, kham nhẫn, tiếp nhận lời giáo huấn một cách trân trọng. Này các Tỳ khưu, việc Tỳ khưu là người dễ nói, có đầy đủ các pháp làm cho dễ nói, kham nhẫn, tiếp nhận lời giáo huấn một cách trân trọng, pháp này cũng đáng ghi nhớ, tạo ra sự thân ái, tạo ra sự kính trọng, đưa đến sự nhiếp phục, không tranh cãi, hòa hợp, hợp nhất.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu yāni tāni sabrahmacārīnaṁ uccāvacāni kiṅkaraṇīyāni—tattha dakkho hoti analaso, tatrūpāyāya vīmaṁsāya samannāgato alaṁ kātuṁ alaṁ saṁvidhātuṁ. Yampi, bhikkhave, bhikkhu yāni tāni sabrahmacārīnaṁ uccāvacāni kiṅkaraṇīyāni—tattha dakkho hoti analaso tatrūpāyāya vīmaṁsāya samannāgato alaṁ kātuṁ alaṁ saṁvidhātuṁ,
Furthermore, a mendicant is deft and tireless in a diverse spectrum of duties for their spiritual companions, understanding how to go about things in order to complete and organize the work. …
Lại nữa, này các Tỳ khưu, Tỳ khưu đối với các công việc lớn nhỏ của các vị đồng phạm hạnh, những việc cần phải làm – vị ấy khéo léo, không lười biếng, có trí tuệ thẩm sát phương tiện thích hợp, có khả năng làm, có khả năng sắp xếp. Này các Tỳ khưu, việc Tỳ khưu đối với các công việc lớn nhỏ của các vị đồng phạm hạnh, những việc cần phải làm – vị ấy khéo léo, không lười biếng, có trí tuệ thẩm sát phương tiện thích hợp, có khả năng làm, có khả năng sắp xếp – pháp này cũng tạo ra sự thân ái, tạo ra sự kính trọng, đưa đến sự nhiếp phục, không tranh cãi, hòa hợp, hợp nhất.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu dhammakāmo hoti piyasamudāhāro, abhidhamme abhivinaye uḷārapāmojjo. Yampi, bhikkhave, bhikkhu dhammakāmo hoti piyasamudāhāro, abhidhamme abhivinaye uḷārapāmojjo, ayampi dhammo sāraṇīyo piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant loves the teachings and is a delight to converse with, being full of joy in the teaching and training. …
Lại nữa, này các Tỳ khưu, Tỳ khưu là người ham thích Pháp, có lời nói khả ái, có niềm vui lớn lao trong Thắng pháp và Thắng luật. Này các Tỳ khưu, việc Tỳ khưu là người ham thích Pháp, có lời nói khả ái, có niềm vui lớn lao trong Thắng pháp và Thắng luật, pháp này cũng đáng ghi nhớ, tạo ra sự thân ái, tạo ra sự kính trọng, đưa đến sự nhiếp phục, không tranh cãi, hòa hợp, hợp nhất.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu āraddhavīriyo viharati akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadāya, thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu. Yampi, bhikkhave, bhikkhu āraddhavīriyo viharati akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadāya, thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu, ayampi dhammo sāraṇīyo piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattati.
Furthermore, a mendicant lives with energy roused up for giving up unskillful qualities and embracing skillful qualities. They are strong, staunchly vigorous, not slacking off when it comes to developing skillful qualities. …
Lại nữa, này các Tỳ khưu, Tỳ khưu sống tinh cần tinh tấn để đoạn trừ các pháp bất thiện, để thành tựu các pháp thiện, có sức mạnh, kiên trì nỗ lực, không từ bỏ gánh nặng trong các pháp thiện. Này các Tỳ khưu, việc Tỳ khưu sống tinh cần tinh tấn để đoạn trừ các pháp bất thiện, để thành tựu các pháp thiện, có sức mạnh, kiên trì nỗ lực, không từ bỏ gánh nặng trong các pháp thiện, pháp này cũng đáng ghi nhớ, tạo ra sự thân ái, tạo ra sự kính trọng, đưa đến sự nhiếp phục, không tranh cãi, hòa hợp, hợp nhất.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu santuṭṭho hoti itarītaracīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārena. Yampi, bhikkhave, bhikkhu santuṭṭho hoti itarītaracīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārena, ayampi dhammo sāraṇīyo …pe… saṁvattati.
Furthermore, a mendicant is content with any kind of robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick. …
Lại nữa, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu biết tri túc với bất cứ (vật dụng nào) là y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Này các tỳ khưu, pháp nào mà vị tỳ khưu biết tri túc với bất cứ (vật dụng nào) là y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, đây cũng là pháp đáng ghi nhớ ... (như trên) ... đưa đến.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu satimā hoti, paramena satinepakkena samannāgato, cirakatampi cirabhāsitampi saritā anussaritā. Yampi, bhikkhave, bhikkhu satimā hoti, paramena satinepakkena samannāgato, cirakatampi cirabhāsitampi saritā anussaritā, ayampi dhammo sāraṇīyo …pe… saṁvattati.
Furthermore, a mendicant is mindful. They have utmost mindfulness and alertness, and can remember and recall what was said and done long ago. …
Lại nữa, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu có chánh niệm, thành tựu chánh niệm và tỉnh giác tối thượng, có thể nhớ lại, có thể hồi tưởng lại những việc đã làm từ lâu, những lời đã nói từ lâu. Này các tỳ khưu, pháp nào mà vị tỳ khưu có chánh niệm, thành tựu chánh niệm và tỉnh giác tối thượng, có thể nhớ lại, có thể hồi tưởng lại những việc đã làm từ lâu, những lời đã nói từ lâu, đây cũng là pháp đáng ghi nhớ ... (như trên) ... đưa đến.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu paññavā hoti, udayatthagāminiyā paññāya samannāgato ariyāya nibbedhikāya sammā dukkhakkhayagāminiyā. Yampi, bhikkhave, bhikkhu paññavā hoti, udayatthagāminiyā paññāya samannāgato ariyāya nibbedhikāya sammā dukkhakkhayagāminiyā, ayampi dhammo sāraṇīyo …pe… saṁvattati.
Ime kho, bhikkhave, dasa dhammā sāraṇīyā piyakaraṇā garukaraṇā saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattantī”ti.
Dasamaṁ.
Furthermore, a mendicant is wise. They have the wisdom of arising and passing away which is noble, penetrative, and leads to the complete ending of suffering. When a mendicant is wise, this warm-hearted quality makes for fondness and respect, helping the Saṅgha to live in harmony and unity, without quarreling.
These ten warm-hearted qualities make for fondness and respect, conducing to inclusion, harmony, and unity, without dispute.”
Lại nữa, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt, là trí tuệ bậc thánh, có khả năng thể nhập, đưa đến sự đoạn tận khổ đau một cách chơn chánh. Này các tỳ khưu, pháp nào mà vị tỳ khưu có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt, là trí tuệ bậc thánh, có khả năng thể nhập, đưa đến sự đoạn tận khổ đau một cách chơn chánh, đây cũng là pháp đáng ghi nhớ ... (như trên) ... đưa đến. Này các tỳ khưu, mười pháp này là những pháp đáng ghi nhớ, tạo sự thân ái, tạo sự kính trọng, đưa đến sự giúp đỡ, sự không tranh cãi, sự hòa hợp, sự hợp nhất. (Kinh) thứ mười.
Akkosavaggo pañcamo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Akkosavagga là phẩm thứ năm.
Vivādā dve ca mūlāni, kusinārapavesane; Sakko mahāli abhiṇhaṁ, sarīraṭṭhā ca bhaṇḍanāti.
Paṭhamo paṇṇāsako samatto.
Tranh cãi, hai kinh về Cội rễ, đi vào Kusinārā; Sakka, Mahāli, Thường xuyên, Tồn tại trong thân, và Gây gổ.