- Aṅguttara Nikāya 10.34
- 4. Upālivagga
Bản dịch
AN 10.34 — Y Chỉ Sa Di
Upasampadāsutta
TTC 1—Thành tựu bao nhiêu pháp, bạch Thế Tôn, một Tỷ-kheo có thể trao truyền y chỉ,…có khả năng nuôi dưỡng Sa-di?
—Thành tựu mười pháp, này Upàli, này Upàli, một Tỷ-kheo có thể trao truyền y chỉ…có khả năng nuôi dưỡng Sa-di. Thế nào là mười?
TTC 2Ở đây, này Upàli, vị Tỷ-kheo có giới…chấp nhận và học tập trong các học pháp. Là vị nghe nhiều… khéo thể nhập với chánh kiến. Cả hai giới bổn Pàtimokkha, khéo truyền đạt một cách rộng rãi, khéo phân tích, khéo thông hiểu, khéo quyết định, theo kinh, theo chi tiết. Vị ấy có khả năng nuôi dưỡng bệnh nhân hay khiến người nuôi dưỡng; có khả năng làm cho tịnh chỉ bất mãn hay khiến người khác tịnh chỉ bất mãn; có khả năng đoạn trừ đúng pháp ác tác khởi lên; có khả năng phân tích chỉ trích tà kiến khởi lên; có khả năng khích lệ trong tăng thượng giới; có khả năng khích lệ trong tăng thượng tâm; có khả năng khích lệ trong tăng thượng tuệ.
Thành tựu mười pháp này, này Upàli., một Tỷ-kheo … có khả năng nuôi dưỡng Sa-di.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 10.34
- 4. With Upāli
Ordination
4. Kinh Cụ Túc Giới
“Katihi nu kho, bhante, dhammehi samannāgatena bhikkhunā upasampādetabban”ti?
“Dasahi kho, upāli, dhammehi samannāgatena bhikkhunā upasampādetabbaṁ. Katamehi dasahi? Idhupāli, bhikkhu sīlavā hoti, pātimokkhasaṁvarasaṁvuto viharati ācāragocarasampanno aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya sikkhati sikkhāpadesu; bahussuto hoti sutadharo sutasannicayo, ye te dhammā ādikalyāṇā majjhekalyāṇā pariyosānakalyāṇā sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ abhivadanti, tathārūpāssa dhammā bahussutā honti dhātā vacasā paricitā manasānupekkhitā diṭṭhiyā suppaṭividdhā; pātimokkhaṁ kho panassa vitthārena svāgataṁ hoti suvibhattaṁ suppavattaṁ suvinicchitaṁ suttaso anubyañjanaso; paṭibalo hoti gilānaṁ upaṭṭhātuṁ vā upaṭṭhāpetuṁ vā; paṭibalo hoti anabhiratiṁ vūpakāsetuṁ vā vūpakāsāpetuṁ vā; paṭibalo hoti uppannaṁ kukkuccaṁ dhammato vinodetuṁ; paṭibalo hoti uppannaṁ diṭṭhigataṁ dhammato vivecetuṁ; paṭibalo hoti adhisīle samādapetuṁ; paṭibalo hoti adhicitte samādapetuṁ; paṭibalo hoti adhipaññāya samādapetuṁ. Imehi kho, upāli, dasahi dhammehi samannāgatena bhikkhunā upasampādetabban”ti.
Catutthaṁ.
“Sir, how many qualities should a mendicant have to give ordination?”
“Upāli, a mendicant should have ten qualities to give ordination. What ten? It’s when a mendicant is ethical, restrained in the monastic code, conducting themselves well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, they keep the rules they’ve undertaken. They’re very learned, remembering and keeping what they’ve learned. These teachings are good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased, describing a spiritual practice that’s entirely full and pure. They are very learned in such teachings, remembering them, rehearsing them, mentally scrutinizing them, and penetrating them theoretically. Both monastic codes have been passed down to them in detail, well analyzed, well mastered, well evaluated in both the rules and accompanying material. They’re able to care for the sick or get someone else to do so. They’re able to settle dissatisfaction or get someone else to do so. They’re able to dispel remorse when it has come up. They’re able to rationally dissuade someone from misconceptions that come up. They’re able to encourage someone in the higher ethics, the higher mind, and the higher wisdom. A mendicant should possess these ten qualities to give ordination.”
34. – Bạch ngài, vị tỳ khưu thành tựu bao nhiêu pháp thì có thể cho thọ cụ túc giới? – Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu mười pháp thì có thể cho thọ cụ túc giới. Thế nào là mười? Này Upāli, ở đây vị tỳ khưu có giới đức, sống được thu thúc bởi sự thu thúc của giới bổn Pātimokkha, thành tựu oai nghi và nơi hành xứ, thấy sự đáng sợ trong các lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và tu học trong các học giới; là người đa văn, ghi nhớ điều đã nghe, tích lũy điều đã nghe, các pháp nào có sự tốt đẹp ở phần đầu, có sự tốt đẹp ở phần giữa, có sự tốt đẹp ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú, tuyên thuyết về phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và trong sạch, các pháp như thế ấy đã được vị ấy nghe nhiều, đã được ghi nhớ, đã được thực hành nhuần nhuyễn bằng lời nói, đã được quán xét bởi ý, đã được khéo thông suốt bởi chánh kiến; và còn nữa, giới bổn Pātimokkha đã được vị ấy thuộc lòng một cách chi tiết, được phân định rõ ràng, được thực hành tốt đẹp, được quyết trạch kỹ lưỡng theo từng điều khoản và theo từng chi tiết; có khả năng chăm sóc hoặc sắp xếp người chăm sóc người bệnh; có khả năng làm cho nguôi ngoai hoặc sắp xếp người làm cho nguôi ngoai sự không hoan hỷ; có khả năng loại trừ theo đúng Pháp sự hối tiếc đã sanh khởi; có khả năng phân giải theo đúng Pháp tà kiến đã sanh khởi; có khả năng làm cho an trú trong tăng thượng giới; có khả năng làm cho an trú trong tăng thượng tâm; có khả năng làm cho an trú trong tăng thượng tuệ. Này Upāli, vị tỳ khưu thành tựu mười pháp này thì có thể cho thọ cụ túc giới. (Kinh) thứ tư.