- Aṅguttara Nikāya 10.18
- 2. Nāthavagga
Dutiyanāthasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Dutiyanāthasutta
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, hãy trú với vị hộ trì, chớ trú không có vị hộ trì. Ðau khổ, này các Tỷ-kheo, là người trú không có vị hộ trì. Này các Tỷ-kheo, có mười pháp tác thành vị hộ trì này. Thế nào là mười?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là người có giới… chấp nhận và học tập trong các hoc pháp, nghĩ rằng: “Thật sự có giới là Tỷ-kheo này. Vị này trú, được bảo vệ với sự bảo vệ của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp”. Các trưởng lão Tỷ-kheo nghĩ đến Tỷ-kheo ấy đáng nói đến, đáng được giáo giới… Các trung niên Tỷ-kheo… Các tân học Tỷ-kheo nghĩ đến Tỷ-kheo ấy đáng được nói đến, đáng được giáo giới. Với vị ấy, được các trưởng lão thương tưởng, được các trung niên thương tưởng, được các tân học thương tưởng, chờ đợi là sự lớn mạnh trong các thiện pháp, không phải là sự tổn giảm, đây là pháp tác thành vị hộ trì.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là vị nghe nhiều… khéo thông đạt nhờ chánh kiến, nghĩ rằng: “Thật sự Tỷ-kheo này là vị nghe nhiều, thọ trì những gì đã nghe, chất chứa những gì đã nghe. Những pháp ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Những pháp ấy, vị ấy đã nghe nhiều, đã thọ trì, đã tụng đọc bằng lời, đã quán sát bằng ý, khéo thông đạt nhờ chánh kiến”. Các trưởng lão Tỷ-kheo… Các trung niên Tỷ-kheo… Các tân học Tỷ-kheo nghĩ đến Tỷ-kheo ấy đáng được nói đến, đáng được giáo giới. Với vị ấy, được các trưởng lão thương tưởng, được các trung niên thương tưởng, được các tân học thương tưởng, chờ đợi là sự lớn mạnh trong các thiện pháp, không phải là sự tổn giảm. Ðây là pháp tác thành sự hộ trì.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo làm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện, nghĩ rằng: “Thật sự Tỷ-kheo này làm bạn với hiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện”. Các Tỷ-kheo trưởng lão… Các tân học Tỷ-kheo ấy đáng được nói đến, đáng được giáo giới. Với vị ấy… tác thành vị hộ trì.
TTC 5Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo dễ nói, thành tựu những pháp tác thành người dễ nói, kham nhẫn và khéo chấp nhận những lời giáo giới nghĩ rằng: “Thật sự Tỷ-kheo này, dễ nói, thành tựu những pháp tác thành người dễ nói, kham nhẫn và khéo chấp nhận những lời giáo giới”. Các Tỷ-kheo trưởng lão… Các trung niên Tỷ-kheo… Các tân học Tỷ-kheo nghĩ đến Tỷ-kheo ấy đáng được nói đến, đáng được giáo giới. Với vị ấy… tác thành vị hộ trì.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo, phàm có những công việc gì cần phải làm hoặc lớn hoặc nhỏ, đối với các đồng Phạm hạnh, ở đây vị ấy khéo léo và tinh cần, thành tựu suy tư đến các phương tiện vừa đủ để làm, vừa đủ để tổ chức. Các trưởng lão Tỷ-kheo… Các trung niên Tỷ-niên… Các tân học Tỷ-kheo nghĩ đến Tỷ-kheo ấy đáng được nói đến, đáng được giáo giới… Ðây là pháp tác thành vị hộ trì.
TTC 7Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ưa pháp, cùng nói chuyện một cách dễ thương, hân hoan trong thắng Pháp, thắng Luật nghĩ rằng: “ Thật sự vị Tỷ-kheo này ưa Pháp, cùng nói chuyện một cách dễ thương, hân hoan trong thắng Pháp, thắng Luật”. Các trưởng lão Tỷ-kheo… Các trung niên Tỷ-kheo… Các tân học Tỷ-kheo nghĩ đến Tỷ-kheo ấy đáng được nói đến, đáng được giáo giới… tác thành vị hộ trì.
TTC 8Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ưa sống tinh cần, tinh tấn, đoạn trừ các pháp bất thiện, làm cho đầy đủ các thiện pháp, nỗ lực, kiên trì, không bỏ rơi gánh nặng đối với các thiện pháp, nghĩ rằng: “Thật sự Tỷ-kheo này sống tinh cần, tinh tấn, đoạn trừ các pháp bất thiện, làm cho đầy đủ các thiện pháp, nỗ lực, kiên trì, không bỏ rơi gánh nặng đối với các thiện pháp”. Các trưởng lão Tỷ-kheo… Các trung niên Tỷ-kheo ấy đáng được nói đến, đáng được giáo giới… tác thành vị hộ trì.
TTC 9Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết đủ với các vật dụng như y, ẩm thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, nghĩ rằng: “Thật sự Tỷ-kheo này biết đủ với các vật dụng như y, ẩm thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh”. Các Tỷ-kheo trưởng lão… nghĩ đến Tỷ-kheo ấy đáng được nói đến, đáng được giáo giới… tác thành vị hộ trì.
TTC 10Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chánh niệm, thành tựu niệm tuệ tối thắng, ức niệm, tùy niệm việc đã làm, đã nói từ lâu, nghĩ rằng: “Thật sự Tỷ-kheo này chánh niệm, thành tựu niệm tuệ tối thắng… đã làm, đã nói từ lâu”. Các Tỷ-kheo trưởng lão… Các trung niên Tỷ-kheo… Các tân học Tỷ-kheo ấy đáng được nói đến, đáng được giáo giới… tác thành vị hộ trì.
TTC 11Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt, thể nhập Thánh quyết trạch, đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau, nghĩ rằng: “ Thật sự Tỷ-kheo này có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt, thể nhập Thánh quyết trạch đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau”. Các Tỷ-kheo trưởng lão nghĩ đến Tỷ-kheo đáng được nói đến, đáng được giáo giới. Các trung niên Tỷ-kheo nghĩ đến Tỷ-kheo ấy được nói đến, đáng được giáo giới. Các tân học Tỷ-kheo ấy đáng được nói đến, đáng được giáo giới. Với vị ấy được các trưởng lão thương tưởng, được các trung niên thương tưởng, được các tân học thương tưởng, chờ đợi là sự lớn mạnh trong các thiện pháp, không phải là sự tổn giảm. Ðây là pháp tác thành vị hộ trì.
Này các Tỷ-kheo, hãy trú có vị hộ trì, chớ trú không có vị hộ trì. Ðau khổ, này các Tỷ-kheo, là người trú không có vị hộ trì.
Này các Tỷ-kheo, đây là mười pháp tác thành vị hộ trì.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
8. Kinh Người Hộ Trì (thứ hai)
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
18. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú tại Sāvatthī, trong vườn của ông Anāthapiṇḍika, tại Jetavana. Tại đó, Thế Tôn gọi các Tỳ khưu: “Này các Tỳ khưu.” “Bạch Thế Tôn,” các Tỳ khưu ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
“Sanāthā, bhikkhave, viharatha, mā anāthā. Dukkhaṁ, bhikkhave, anātho viharati. Dasayime, bhikkhave, nāthakaraṇā dhammā. Katame dasa? Idha, bhikkhave, bhikkhu sīlavā hoti …pe… samādāya sikkhati sikkhāpadesu. ‘Sīlavā vatāyaṁ bhikkhu pātimokkhasaṁvarasaṁvuto viharati ācāragocarasampanno aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya sikkhati sikkhāpadesū’ti therāpi naṁ bhikkhū vattabbaṁ anusāsitabbaṁ maññanti, majjhimāpi bhikkhū … navāpi bhikkhū vattabbaṁ anusāsitabbaṁ maññanti. Tassa therānukampitassa majjhimānukampitassa navānukampitassa vuddhiyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu, no parihāni. Ayampi dhammo nāthakaraṇo.
“Mendicants, you should live with a protector, not without one. Living without a protector is suffering. There are ten qualities that serve as protector. What ten? Firstly, a mendicant is ethical, restrained in the monastic code, conducting themselves well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, they keep the rules they’ve undertaken. Knowing this, the mendicants—whether senior, middle, or junior—think that mendicant is worth advising and instructing. Being treated with such kindness by the senior, middle, and junior mendicants, that mendicant can expect only growth, not decline. This is a quality that serves as protector.
“Này các tỳ khưu, hãy sống có nơi nương tựa, đừng sống không nơi nương tựa. Này các tỳ khưu, người không nơi nương tựa sống trong đau khổ. Này các tỳ khưu, có mười pháp tạo ra nơi nương tựa này. Mười pháp ấy là gì? Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu có giới hạnh... (như trên)... thọ trì và tu tập các học giới. ‘Vị tỳ khưu này quả thật có giới hạnh, sống được thu thúc bởi sự thu thúc của giới bổn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi và nơi hành xứ, thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và tu tập các học giới,’ các vị tỳ khưu trưởng lão cũng nghĩ rằng vị ấy đáng được nói đến, đáng được chỉ dạy; các vị tỳ khưu trung niên... các vị tỳ khưu tân học cũng nghĩ rằng vị ấy đáng được nói đến, đáng được chỉ dạy. Đối với vị ấy, người được các trưởng lão, trung niên, và tân học thương tưởng, chỉ có sự tăng trưởng trong các thiện pháp được mong đợi, không có sự suy giảm. Pháp này cũng là pháp tạo ra nơi nương tựa.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu bahussuto hoti …pe… diṭṭhiyā suppaṭividdhā. ‘Bahussuto vatāyaṁ bhikkhu sutadharo sutasannicayo, ye te dhammā ādikalyāṇā majjhekalyāṇā pariyosānakalyāṇā sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ abhivadanti, tathārūpāssa dhammā bahussutā honti dhātā vacasā paricitā manasānupekkhitā diṭṭhiyā suppaṭividdhā’ti therāpi naṁ bhikkhū vattabbaṁ anusāsitabbaṁ maññanti, majjhimāpi bhikkhū … navāpi bhikkhū vattabbaṁ anusāsitabbaṁ maññanti. Tassa therānukampitassa majjhimānukampitassa navānukampitassa vuddhiyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu, no parihāni. Ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Furthermore, a mendicant is very learned, remembering and keeping what they’ve learned. These teachings are good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased, describing a spiritual practice that’s entirely full and pure. They are very learned in such teachings, remembering them, reinforcing them by recitation, mentally scrutinizing them, and penetrating them theoretically. Knowing this, the mendicants—whether senior, middle, or junior—think that mendicant is worth advising and instructing. Being treated with such kindness by the senior, middle, and junior mendicants, that mendicant can expect only growth, not decline. This too is a quality that serves as protector.
“Lại nữa, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu là người đa văn... (như trên)... đã được thấu triệt rõ ràng bằng trí tuệ. ‘Vị tỳ khưu này quả thật là người đa văn, ghi nhớ những gì đã nghe, tích lũy những gì đã nghe. Những pháp nào toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú, tuyên thuyết phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch, những pháp như vậy đã được vị ấy nghe nhiều, ghi nhớ, quen thuộc bằng lời nói, quán xét bằng ý, và thấu triệt rõ ràng bằng trí tuệ,’ các vị tỳ khưu trưởng lão cũng nghĩ rằng vị ấy đáng được nói đến, đáng được chỉ dạy; các vị tỳ khưu trung niên... các vị tỳ khưu tân học cũng nghĩ rằng vị ấy đáng được nói đến, đáng được chỉ dạy. Đối với vị ấy, người được các trưởng lão, trung niên, và tân học thương tưởng, chỉ có sự tăng trưởng trong các thiện pháp được mong đợi, không có sự suy giảm. Pháp này cũng là pháp tạo ra nơi nương tựa.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu kalyāṇamitto hoti kalyāṇasahāyo kalyāṇasampavaṅko. ‘Kalyāṇamitto vatāyaṁ bhikkhu kalyāṇasahāyo kalyāṇasampavaṅko’ti therāpi naṁ bhikkhū vattabbaṁ anusāsitabbaṁ maññanti, majjhimāpi bhikkhū … navāpi bhikkhū vattabbaṁ anusāsitabbaṁ maññanti. Tassa therānukampitassa majjhimānukampitassa navānukampitassa vuddhiyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu, no parihāni. Ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Furthermore, a mendicant has good friends, companions, and associates. Knowing this, the mendicants—whether senior, middle, or junior—think that mendicant is worth advising and instructing. Being treated with such kindness by the senior, middle, and junior mendicants, that mendicant can expect only growth, not decline. This too is a quality that serves as protector.
“Lại nữa, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu có bạn lành, có đồng bạn tốt, có khuynh hướng về bạn lành. ‘Vị tỳ khưu này quả thật có bạn lành, có đồng bạn tốt, có khuynh hướng về bạn lành,’ các vị tỳ khưu trưởng lão cũng nghĩ rằng vị ấy đáng được nói đến, đáng được chỉ dạy; các vị tỳ khưu trung niên... các vị tỳ khưu tân học cũng nghĩ rằng vị ấy đáng được nói đến, đáng được chỉ dạy. Đối với vị ấy, người được các trưởng lão, trung niên, và tân học thương tưởng, chỉ có sự tăng trưởng trong các thiện pháp được mong đợi, không có sự suy giảm. Pháp này cũng là pháp tạo ra nơi nương tựa.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu suvaco hoti sovacassakaraṇehi dhammehi samannāgato, khamo padakkhiṇaggāhī anusāsaniṁ. ‘Suvaco vatāyaṁ bhikkhu sovacassakaraṇehi dhammehi samannāgato, khamo padakkhiṇaggāhī anusāsanin’ti therāpi naṁ bhikkhū vattabbaṁ anusāsitabbaṁ maññanti, majjhimāpi bhikkhū … navāpi bhikkhū vattabbaṁ anusāsitabbaṁ maññanti. Tassa therānukampitassa majjhimānukampitassa navānukampitassa vuddhiyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu, no parihāni. Ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Furthermore, a mendicant is easy to admonish, having qualities that make them easy to admonish. They’re patient, and take instruction respectfully. Knowing this, the mendicants—whether senior, middle, or junior—think that mendicant is worth advising and instructing. Being treated with such kindness by the senior, middle, and junior mendicants, that mendicant can expect only growth, not decline. This too is a quality that serves as protector.
“Lại nữa, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu là người dễ nói, sở hữu các pháp làm cho dễ nói, kham nhẫn, và tiếp thu lời chỉ dạy một cách trân trọng. ‘Vị tỳ khưu này quả thật là người dễ nói, sở hữu các pháp làm cho dễ nói, kham nhẫn, và tiếp thu lời chỉ dạy một cách trân trọng,’ các vị tỳ khưu trưởng lão cũng nghĩ rằng vị ấy đáng được nói đến, đáng được chỉ dạy; các vị tỳ khưu trung niên... các vị tỳ khưu tân học cũng nghĩ rằng vị ấy đáng được nói đến, đáng được chỉ dạy. Đối với vị ấy, người được các trưởng lão, trung niên, và tân học thương tưởng, chỉ có sự tăng trưởng trong các thiện pháp được mong đợi, không có sự suy giảm. Pháp này cũng là pháp tạo ra nơi nương tựa.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu yāni tāni sabrahmacārīnaṁ uccāvacāni kiṅkaraṇīyāni, tattha dakkho hoti analaso, tatrūpāyāya vīmaṁsāya samannāgato, alaṁ kātuṁ alaṁ saṁvidhātuṁ. ‘Yāni tāni sabrahmacārīnaṁ uccāvacāni kiṅkaraṇīyāni, tattha dakkho vatāyaṁ bhikkhu analaso, tatrūpāyāya vīmaṁsāya samannāgato, alaṁ kātuṁ alaṁ saṁvidhātun’ti therāpi naṁ bhikkhū vattabbaṁ anusāsitabbaṁ maññanti, majjhimāpi bhikkhū … navāpi bhikkhū vattabbaṁ anusāsitabbaṁ maññanti. Tassa therānukampitassa majjhimānukampitassa navānukampitassa vuddhiyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu, no parihāni. Ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Furthermore, a mendicant is deft and tireless in a diverse spectrum of duties for their spiritual companions, understanding how to go about things in order to complete and organize the work. Knowing this, the mendicants—whether senior, middle, or junior—think that mendicant is worth advising and instructing. Being treated with such kindness by the senior, middle, and junior mendicants, that mendicant can expect only growth, not decline. This too is a quality that serves as protector.
“Lại nữa, này các tỳ khưu, đối với các công việc lớn nhỏ cần làm cho các vị đồng phạm hạnh, vị tỳ khưu là người khéo léo, không lười biếng, có trí tuệ thẩm sát phù hợp với công việc ấy, có khả năng thực hiện, có khả năng sắp xếp. ‘Đối với các công việc lớn nhỏ cần làm cho các vị đồng phạm hạnh, vị tỳ khưu này quả thật là người khéo léo, không lười biếng, có trí tuệ thẩm sát phù hợp với công việc ấy, có khả năng thực hiện, có khả năng sắp xếp,’ các vị tỳ khưu trưởng lão cũng nghĩ rằng vị ấy đáng được nói đến, đáng được chỉ dạy; các vị tỳ khưu trung niên... các vị tỳ khưu tân học cũng nghĩ rằng vị ấy đáng được nói đến, đáng được chỉ dạy. Đối với vị ấy, người được các trưởng lão, trung niên, và tân học thương tưởng, chỉ có sự tăng trưởng trong các thiện pháp được mong đợi, không có sự suy giảm. Pháp này cũng là pháp tạo ra nơi nương tựa.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu dhammakāmo hoti piyasamudāhāro, abhidhamme abhivinaye uḷārapāmojjo. ‘Dhammakāmo vatāyaṁ bhikkhu piyasamudāhāro, abhidhamme abhivinaye uḷārapāmojjo’ti therāpi naṁ bhikkhū vattabbaṁ anusāsitabbaṁ maññanti, majjhimāpi bhikkhū … navāpi bhikkhū vattabbaṁ anusāsitabbaṁ maññanti. Tassa therānukampitassa majjhimānukampitassa navānukampitassa vuddhiyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu, no parihāni. Ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Furthermore, a mendicant loves the teachings and is a delight to converse with, being full of joy in the teaching and training. Knowing this, the mendicants—whether senior, middle, or junior—think that mendicant is worth advising and instructing. Being treated with such kindness by the senior, middle, and junior mendicants, that mendicant can expect only growth, not decline. This too is a quality that serves as protector.
“Lại nữa, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu là người yêu thích Pháp, có lời nói khả ái, có niềm hân hoan to lớn trong Thắng Pháp và Thắng Luật. ‘Vị tỳ khưu này quả thật là người yêu thích Pháp, có lời nói khả ái, có niềm hân hoan to lớn trong Thắng Pháp và Thắng Luật,’ các vị tỳ khưu trưởng lão cũng nghĩ rằng vị ấy đáng được nói đến, đáng được chỉ dạy; các vị tỳ khưu trung niên... các vị tỳ khưu tân học cũng nghĩ rằng vị ấy đáng được nói đến, đáng được chỉ dạy. Đối với vị ấy, người được các trưởng lão, trung niên, và tân học thương tưởng, chỉ có sự tăng trưởng trong các thiện pháp được mong đợi, không có sự suy giảm. Pháp này cũng là pháp tạo ra nơi nương tựa.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu āraddhavīriyo viharati akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya, kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadāya, thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu ‘āraddhavīriyo vatāyaṁ bhikkhu viharati akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya, kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadāya, thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesū’ti therāpi naṁ bhikkhū vattabbaṁ anusāsitabbaṁ maññanti, majjhimāpi bhikkhū … navāpi bhikkhū vattabbaṁ anusāsitabbaṁ maññanti. Tassa therānukampitassa majjhimānukampitassa navānukampitassa vuddhiyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu, no parihāni. Ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Furthermore, a mendicant lives with energy roused up for giving up unskillful qualities and embracing skillful qualities. They are strong, staunchly vigorous, not slacking off when it comes to developing skillful qualities. Knowing this, the mendicants—whether senior, middle, or junior—think that mendicant is worth advising and instructing. Being treated with such kindness by the senior, middle, and junior mendicants, that mendicant can expect only growth, not decline. This too is a quality that serves as protector.
“Lại nữa, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sống với tinh tấn đã được khởi sự để đoạn trừ các pháp bất thiện, để thành tựu các pháp thiện; là người có sức mạnh, có nỗ lực kiên trì, không từ bỏ gánh nặng trong các pháp thiện. ‘Vị tỳ khưu này quả thật sống với tinh tấn đã được khởi sự để đoạn trừ các pháp bất thiện, để thành tựu các pháp thiện; là người có sức mạnh, có nỗ lực kiên trì, không từ bỏ gánh nặng trong các pháp thiện,’ các vị tỳ khưu trưởng lão cũng nghĩ rằng vị ấy đáng được nói đến, đáng được chỉ dạy; các vị tỳ khưu trung niên... các vị tỳ khưu tân học cũng nghĩ rằng vị ấy đáng được nói đến, đáng được chỉ dạy. Đối với vị ấy, người được các trưởng lão, trung niên, và tân học thương tưởng, chỉ có sự tăng trưởng trong các thiện pháp được mong đợi, không có sự suy giảm. Pháp này cũng là pháp tạo ra nơi nương tựa.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu santuṭṭho hoti itarītaracīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārena. ‘Santuṭṭho vatāyaṁ bhikkhu itarītaracīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārenā’ti therāpi naṁ bhikkhū vattabbaṁ anusāsitabbaṁ maññanti, majjhimāpi bhikkhū … navāpi bhikkhū vattabbaṁ anusāsitabbaṁ maññanti. Tassa therānukampitassa majjhimānukampitassa navānukampitassa vuddhiyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu, no parihāni. Ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Furthermore, a mendicant is content with any kind of robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick. Knowing this, the mendicants—whether senior, middle, or junior—think that mendicant is worth advising and instructing. Being treated with such kindness by the senior, middle, and junior mendicants, that mendicant can expect only growth, not decline. This too is a quality that serves as protector.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu biết đủ với y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh tùy theo sở đắc. 'Vị Tỳ khưu này thật biết đủ với y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh tùy theo sở đắc', các vị Tỳ khưu trưởng lão cũng nghĩ rằng vị ấy đáng được nói đến, đáng được giáo huấn; các vị Tỳ khưu trung niên... các vị Tỳ khưu tân học cũng nghĩ rằng vị ấy đáng được nói đến, đáng được giáo huấn. Vị ấy được các trưởng lão thương tưởng, được các vị trung niên thương tưởng, được các vị tân học thương tưởng, chỉ có thể mong đợi sự tăng trưởng trong các thiện pháp, không có sự tổn giảm. Pháp này cũng là pháp tạo ra nơi nương tựa.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu satimā hoti paramena satinepakkena samannāgato, cirakatampi cirabhāsitampi saritā anussaritā. ‘Satimā vatāyaṁ bhikkhu paramena satinepakkena samannāgato, cirakatampi cirabhāsitampi saritā anussaritā’ti therāpi naṁ bhikkhū vattabbaṁ anusāsitabbaṁ maññanti, majjhimāpi bhikkhū … navāpi bhikkhū vattabbaṁ anusāsitabbaṁ maññanti. Tassa therānukampitassa majjhimānukampitassa navānukampitassa vuddhiyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu, no parihāni. Ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Furthermore, a mendicant is mindful. They have utmost mindfulness and alertness, and can remember and recall what was said and done long ago. Knowing this, the mendicants—whether senior, middle, or junior—think that mendicant is worth advising and instructing. Being treated with such kindness by the senior, middle, and junior mendicants, that mendicant can expect only growth, not decline. This too is a quality that serves as protector.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu có chánh niệm, thành tựu niệm và tỉnh giác tối thượng, có thể nhớ lại, hồi tưởng lại những việc đã làm từ lâu, những lời đã nói từ lâu. 'Vị Tỳ khưu này thật có chánh niệm, thành tựu niệm và tỉnh giác tối thượng, có thể nhớ lại, hồi tưởng lại những việc đã làm từ lâu, những lời đã nói từ lâu', các vị Tỳ khưu trưởng lão cũng nghĩ rằng vị ấy đáng được nói đến, đáng được giáo huấn; các vị Tỳ khưu trung niên... các vị Tỳ khưu tân học cũng nghĩ rằng vị ấy đáng được nói đến, đáng được giáo huấn. Vị ấy được các trưởng lão thương tưởng, được các vị trung niên thương tưởng, được các vị tân học thương tưởng, chỉ có thể mong đợi sự tăng trưởng trong các thiện pháp, không có sự tổn giảm. Pháp này cũng là pháp tạo ra nơi nương tựa.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu paññavā hoti udayatthagāminiyā paññāya samannāgato ariyāya nibbedhikāya sammā dukkhakkhayagāminiyā. ‘Paññavā vatāyaṁ bhikkhu udayatthagāminiyā paññāya samannāgato ariyāya nibbedhikāya sammā dukkhakkhayagāminiyā’ti therāpi naṁ bhikkhū vattabbaṁ anusāsitabbaṁ maññanti, majjhimāpi bhikkhū … navāpi bhikkhū vattabbaṁ anusāsitabbaṁ maññanti. Tassa therānukampitassa …pe… no parihāni. Ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Furthermore, a mendicant is wise. They have the wisdom of arising and passing away which is noble, penetrative, and leads to the complete ending of suffering. Knowing this, the mendicants—whether senior, middle, or junior—think that mendicant is worth advising and instructing. Being treated with such kindness by the senior, middle, and junior mendicants, that mendicant can expect only growth, not decline. This too is a quality that serves as protector.
Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt, bậc Thánh, có khả năng thể nhập, đưa đến sự đoạn tận khổ đau một cách chơn chánh. 'Vị Tỳ khưu này thật có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt, bậc Thánh, có khả năng thể nhập, đưa đến sự đoạn tận khổ đau một cách chơn chánh', các vị Tỳ khưu trưởng lão cũng nghĩ rằng vị ấy đáng được nói đến, đáng được giáo huấn; các vị Tỳ khưu trung niên... các vị Tỳ khưu tân học cũng nghĩ rằng vị ấy đáng được nói đến, đáng được giáo huấn. Vị ấy được các trưởng lão thương tưởng... v.v... không có sự tổn giảm. Pháp này cũng là pháp tạo ra nơi nương tựa.
Sanāthā, bhikkhave, viharatha, mā anāthā. Dukkhaṁ, bhikkhave, anātho viharati. Ime kho, bhikkhave, dasa nāthakaraṇā dhammā”ti.
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
Aṭṭhamaṁ.
You should live with a protector, not without one. Living without a protector is suffering. These are the ten qualities that serve as protector.”
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Này các Tỳ khưu, hãy sống có nơi nương tựa, đừng sống không nơi nương tựa. Này các Tỳ khưu, người không nơi nương tựa sống trong đau khổ. Này các Tỳ khưu, đây chính là mười pháp tạo ra nơi nương tựa. Đức Thế Tôn đã nói như vậy. Các Tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Đức Thế Tôn. Kinh thứ tám.