- Aṅguttara Nikāya 10.177
- 17. Jāṇussoṇivagga
Bản dịch
AN 10.177 — Jànussoni
Jāṇussoṇisutta
TTC 1Rồi Bà-la-môn Jànussoni đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Jànussoni bạch Thế Tôn:
—Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi Bà-la-môn, cho bố thí, làm các lễ cúng cho người chết. Mong rằng, bố thí này cho bà con huyết thống đã chết được lợi ích! Mong rằng các bà con huyết thống đã chết, thọ hưởng bố thí này! Thưa Tôn giả Gotama, bố thí có lợi ích gì cho các bà con huyết thống đã chết không? Các bà con huyết thống đã chết có được thọ hưởng bố thí ấy hay không?
—Này Bà-la-môn, nếu có tương ưng xứ, thời có lợi ích, không có lợi ích nếu không có tương ưng xứ.
—Thưa Tôn giả Gotama, thế nào là tương ưng xứ, thế nào là không tương ưng xứ?
TTC 2Ở đây, này Bà-la-môn, có người sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, có tham ái, có sân, có tà kiến. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào địa ngục. Món ăn của chúng sanh ở địa ngục ăn, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là không tương ưng xứ, trú ở nơi đây, vị ấy không được lợi ích của bố thí ấy.
TTC 3Ở đây, này Bà-la-môn, có người sát sanh… có tà kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sanh vào loại bàng sanh. Món ăn của chúng sanh ở bàng sanh ăn, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là không tương ưng xứ; trú ở đây, vị ấy không được lợi ích của bố thí ấy.
TTC 4Ở đây, này Bà-la-môn, có người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham ái, không có tâm sân hận, có chánh kiến. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh cộng trú với loài Người. Món ăn của loài người như thế nào, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là không tương ưng xứ, trú ở đây, vị ấy không được lợi ích của bố thí ấy.
TTC 5Ở đây, này Bà-la-môn, có người từ bỏ sát sanh… có chánh kiến. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cộng trú với chư Thiên. Món ăn của chư Thiên như thế nào, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn đây là không tương ưng xứ, trú ở đây, vị ấy không được lợi ích của bố thí ấy.
TTC 6Ở đây, này Bà-la-môn, có người từ bỏ sát sanh… có tà kiến. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi ngạ quỷ. Món ăn của chúng sanh ngạ quỷ như thế nào, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Món ăn nào các bạn bè , hoặc thân hữu, hoặc bà con, hoặc người cùng huyết thống từ đấy muốn hướng cúng cho vị ấy, tại đấy vị ấy sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là tương ưng xứ, trú ở đây, vị ấy được lợi ích của bố thí ấy.
TTC 7Thưa Tôn giả Gotama, nếu bà con huyết thống ấy đã chết, không sanh vào chỗ ấy, thời ai hưởng bố thí ấy?
—Này Bà-la-môn, các bà con huyết thống khác đã chết, được sanh vào chỗ ấy, những người ấy được hưởng bố thí ấy.
—Thưa Tôn giả Gotama, nếu bà con huyết thống đã chết, không sanh vào chỗ ấy, và các bà con huyết thống khác cũng không sanh vào chỗ ấy, thời ai hưởng bố thí ấy?
—Không có trường hợp ấy, không có cơ hội ấy, này Bà-la-môn, rằng chỗ ấy có thể trống không trong một thời gian dài, không có người bà con huyết thống đã chết. Nhưng này Bà-la-môn, người bố thí không phải không có hưởng quả.
—Có phải Tôn giả Gotama nói một giả thuyết không thể xảy ra?
—Này Bà-la-môn, Ta nói một giả thuyết không thể xảy ra. Ở đây, này Bà-la-môn, có người sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, có tham ái, có sân tâm, có tà kiến. Người ấy bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn, các món ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, phấn sáp, các giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Người ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với các loài voi. Tại đây, vị ấy được đồ ăn, đồ uống, vòng hoa, các loại trang sức khác. Vì rằng, ở đây, này Bà-la-môn, có sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, có tham ái, có sân tâm, có tà kiến, do vậy người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với các loài voi. Vì rằng vị ấy có bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, phấn sáp, các giường nằm, trú xứ, đèn đuốc; do vậy, tại đấy vị ấy được các món ăn, các đồ uống, vòng hoa, các đồ trang sức khác. Ở đây, này Bà-la-môn, có người sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, có tham ái, có sân tâm, có tà kiến. Người ấy có bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn, các món ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sanh cộng trú với các loài ngựa… sanh cộng trú với các loài bò… Cộng trú với các loài gia cầm. Vị ấy tại đấy, được các món ăn, các đồ uống, vòng hoa, các đồ trang sức khác. Vì rằng, này Bà-la-môn, có sát sanh, có lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, có nói láo, có nói hai lưỡi, có nói lời độc ác, có nói lời phù phiếm, có tham ái, có sân tâm, có tà kiến. Do vậy, sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sanh vào cộng trú với các loài gia cầm. Vì rằng vị ấy có bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn với các đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, các giường nằm, trú xứ, đèn đuốc, nên tại đấy vị ấy được đồ ăn, đồ uống, vòng hoa, các loại trang sức khác. Ở đây, này Bà-la-môn, có hạng người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, từ bỏ tham ái, từ bỏ sân tâm, có chánh kiến. Người ấy có bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn các món ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với loài Người. Tại đấy, vị ấy được năm loại dục công đức sai khác, thuộc về loài Người. Vì rằng, này Bà-la-môn, vị ấy từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham ái, không có sân tâm, có chánh kiến, sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy được sanh cộng trú với loài Người. Vì rằng vị ấy có bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn các đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm, các trú xứ, đèn đuốc; do vậy, ở đấy vị ấy được năm dục công đức của loài Người. Ở đây, này Bà-la-môn, có người từ bỏ sát sanh… có chánh kiến, người ấy bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn các đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Người ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên. Vị ấy tại đấy được năm loại dục công đức của chư Thiên. Vì rằng ở đây có từ bỏ sát sanh… có chánh kiến, cho nên sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy được sanh cộng trú với chư Thiên. Vì rằng vị ấy có bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn các đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Do vậy, tại đấy vị ấy được năm dục công đức của chư Thiên. Như vậy, này Bà-la-môn, người bố thí không phải không có kết quả.
TTC 8Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật hy hữu thay, Tôn giả Gotama! Cho đến như thế này, thưa Tôn giả Gotama, là vừa đủ để bố thí, là vừa đủ để tổ chức các tín thí. Vì rằng, ở đấy, người bố thí không phải không có kết quả (như đã được nói).
—Như vậy, này Bà-la-môn, người bố thí này không phải không có kết quả.
—Thật kỳ diệu thay, Tôn giả Gotama… Xin Tôn giả Gotama hãy nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 10.177
- 17. With Jānussoṇi
With Jānussoṇi
11. Kinh Jāṇussoṇi
Atha kho jāṇussoṇi brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho jāṇussoṇi brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
Then the brahmin Jānussoṇi went up to the Buddha, and exchanged greetings with him.
When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the Buddha,
177. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Jāṇussoṇi đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, ông cùng với Thế Tôn nói lên lời chào hỏi. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu, ông ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Bà-la-môn Jāṇussoṇi bạch với Thế Tôn rằng:
“Ṭhāne kho, brāhmaṇa, upakappati, no aṭṭhāne”ti.
“It aids them if the conditions are right, brahmin, but not if the conditions are wrong.”
“Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi là những người Bà-la-môn. Chúng tôi bố thí, chúng tôi làm các lễ cúng dường với ý nghĩ: ‘Mong rằng của bố thí này sẽ đến được với các bà con huyết thống đã quá vãng! Mong rằng các bà con huyết thống đã quá vãng sẽ hưởng dụng của bố thí này!’ Thưa Tôn giả Gotama, vậy của bố thí ấy có đến được với các bà con huyết thống đã quá vãng không? Các bà con huyết thống đã quá vãng có hưởng dụng được của bố thí ấy không?” “Này Bà-la-môn, có trường hợp thì đến được, có trường hợp thì không đến được.”
“Katamaṁ pana, bho gotama, ṭhānaṁ, katamaṁ aṭṭhānan”ti?
“Idha, brāhmaṇa, ekacco pāṇātipātī hoti, adinnādāyī hoti, kāmesumicchācārī hoti, musāvādī hoti, pisuṇavāco hoti, pharusavāco hoti, samphappalāpī hoti, abhijjhālu hoti, byāpannacitto hoti, micchādiṭṭhiko hoti. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā nirayaṁ upapajjati. Yo nerayikānaṁ sattānaṁ āhāro, tena so tattha yāpeti, tena so tattha tiṭṭhati.
“Then, worthy Gotama, what are the right and wrong conditions?”
“Brahmin, take someone who kills living creatures, steals, and commits sexual misconduct. They use speech that’s false, backbiting, harsh, or nonsensical. And they’re covetous, malicious, with wrong view. When their body breaks up, after death, they’re reborn in hell. There they survive feeding on the food of the hell beings.
“Thưa Tôn giả Gotama, thế nào là trường hợp đến được, thế nào là trường hợp không đến được?” “Này Bà-la-môn, ở đây, có người sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói dối, nói đâm thọc, nói thô ác, nói phù phiếm, tham lam, có tâm sân hận, có tà kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào địa ngục. Người ấy sống và tồn tại ở đấy bằng vật thực của chúng sanh địa ngục. Này Bà-la-môn, đây là trường hợp không đến được, nơi mà của bố thí không đến được với người đã trú ở đấy.
Idha pana, brāhmaṇa, ekacco pāṇātipātī …pe… micchādiṭṭhiko hoti. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā tiracchānayoniṁ upapajjati. Yo tiracchānayonikānaṁ sattānaṁ āhāro, tena so tattha yāpeti, tena so tattha tiṭṭhati. Idampi kho, brāhmaṇa, aṭṭhānaṁ yattha ṭhitassa taṁ dānaṁ na upakappati.
Take someone else who kills living creatures … and has wrong view. When their body breaks up, after death, they’re reborn in the animal realm. There they survive feeding on the food of the beings in the animal realm. The conditions there too are wrong, so the gift does not aid the one who lives there.
“Lại nữa, này Bà-la-môn, ở đây, có người sát sanh... có tà kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào loài bàng sanh. Người ấy sống và tồn tại ở đấy bằng vật thực của chúng sanh bàng sanh. Này Bà-la-môn, đây cũng là trường hợp không đến được, nơi mà của bố thí không đến được với người đã trú ở đấy.
Idha pana, brāhmaṇa, ekacco pāṇātipātā paṭivirato hoti, adinnādānā paṭivirato hoti, kāmesumicchācārā paṭivirato hoti, musāvādā paṭivirato hoti, pisuṇāya vācāya paṭivirato hoti, pharusāya vācāya paṭivirato hoti, samphappalāpā paṭivirato hoti, anabhijjhālu hoti, abyāpannacitto hoti, sammādiṭṭhiko hoti. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā manussānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Yo manussānaṁ āhāro, tena so tattha yāpeti, tena so tattha tiṭṭhati. Idampi kho, brāhmaṇa, aṭṭhānaṁ yattha ṭhitassa taṁ dānaṁ na upakappati.
Take someone else who doesn’t kill living creatures, steal, or commit sexual misconduct. They don’t use speech that’s false, backbiting, harsh, or nonsensical. And they’re contented, kind-hearted, with right view. When their body breaks up, after death, they’re reborn in the human realm. There they survive feeding on human food. The conditions there too are wrong, so the gift does not aid the one who lives there.
Này Bà-la-môn, ở đây, có người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không tham lam, tâm không sân hận, có chánh kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh làm bạn với loài người. Với loại vật thực nào của loài người, người ấy sống nhờ vào vật thực ấy, người ấy tồn tại ở đấy nhờ vào vật thực ấy. Này Bà-la-môn, đây cũng là phi xứ, nơi mà sự bố thí kia không thể đến được với người đã trú ở đấy.
Idha pana, brāhmaṇa, ekacco pāṇātipātā paṭivirato hoti …pe… sammādiṭṭhiko hoti. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā devānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Yo devānaṁ āhāro, tena so tattha yāpeti, tena so tattha tiṭṭhati. Idampi, brāhmaṇa, aṭṭhānaṁ yattha ṭhitassa taṁ dānaṁ upakappati.
Take someone else who doesn’t kill living creatures … and has right view. When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of the gods. There they survive feeding on the food of the gods. The conditions there too are wrong, so the gift does not aid the one who lives there.
Này Bà-la-môn, ở đây, có người từ bỏ sát sanh, ... có chánh kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh làm bạn với chư thiên. Với loại vật thực nào của chư thiên, người ấy sống nhờ vào vật thực ấy, người ấy tồn tại ở đấy nhờ vào vật thực ấy. Này Bà-la-môn, đây cũng là phi xứ, nơi mà sự bố thí kia không thể đến được với người đã trú ở đấy.
Idha pana, brāhmaṇa, ekacco pāṇātipātī hoti …pe… micchādiṭṭhiko hoti. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā pettivisayaṁ upapajjati. Yo pettivesayikānaṁ sattānaṁ āhāro, tena so tattha yāpeti, tena so tattha tiṭṭhati, yaṁ vā panassa ito anuppavecchanti mittāmaccā vā ñātisālohitā vā, tena so tattha yāpeti, tena so tattha tiṭṭhati. Idaṁ kho, brāhmaṇa, ṭhānaṁ yattha ṭhitassa taṁ dānaṁ upakappatī”ti.
Take someone else who kills living creatures … and has wrong view. When their body breaks up, after death, they’re reborn in the ghost realm. There they survive feeding on the food of the beings in the ghost realm. Or else they survive feeding on what friends and colleagues, relatives and kin provide them with from here. The conditions there are right, so the gift aids the one who lives there.”
Này Bà-la-môn, ở đây, có người sát sanh, ... có tà kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cảnh giới ngạ quỷ. Với loại vật thực nào của các chúng sanh trong cảnh giới ngạ quỷ, người ấy sống nhờ vào vật thực ấy, người ấy tồn tại ở đấy nhờ vào vật thực ấy. Hoặc là, với vật thí nào mà bạn bè, người thân, hoặc huyết thống quyến thuộc từ đây gửi đến cho người ấy, người ấy sống nhờ vào vật thí ấy, người ấy tồn tại ở đấy nhờ vào vật thí ấy. Này Bà-la-môn, đây chính là xứ, nơi mà sự bố thí kia có thể đến được với người đã trú ở đấy.”
“Sace pana, bho gotama, so peto ñātisālohito taṁ ṭhānaṁ anupapanno hoti, ko taṁ dānaṁ paribhuñjatī”ti?
“Aññepissa, brāhmaṇa, petā ñātisālohitā taṁ ṭhānaṁ upapannā honti, te taṁ dānaṁ paribhuñjantī”ti.
“But worthy Gotama, who partakes of that gift if the departed relative is not reborn in that place?”
“Other departed relatives reborn there will partake of that gift.”
“Thưa Tôn giả Gotama, nhưng nếu người ngạ quỷ huyết thống quyến thuộc ấy không sanh vào xứ ấy, ai sẽ thọ dụng vật bố thí ấy?” “Này Bà-la-môn, những người ngạ quỷ huyết thống quyến thuộc khác của người ấy đã sanh vào xứ ấy, họ sẽ thọ dụng vật bố thí ấy.”
“Sace pana, bho gotama, so ceva peto ñātisālohito taṁ ṭhānaṁ anupapanno hoti aññepissa ñātisālohitā petā taṁ ṭhānaṁ anupapannā honti, ko taṁ dānaṁ paribhuñjatī”ti?
“Aṭṭhānaṁ kho etaṁ, brāhmaṇa, anavakāso yaṁ taṁ ṭhānaṁ vivittaṁ assa iminā dīghena addhunā yadidaṁ petehi ñātisālohitehi. Api ca, brāhmaṇa, dāyakopi anipphalo”ti.
“But who partakes of the gift when neither that relative nor other relatives have been reborn in that place?”
“It’s impossible, brahmin, it cannot happen that that place is vacant of departed relatives in all this long time. It’s never fruitless for the donor.”
“Thưa Tôn giả Gotama, nhưng nếu chính người ngạ quỷ huyết thống quyến thuộc ấy không sanh vào xứ ấy, và những người ngạ quỷ huyết thống quyến thuộc khác của người ấy cũng không sanh vào xứ ấy, ai sẽ thọ dụng vật bố thí ấy?” “Này Bà-la-môn, điều này là phi xứ, là vô cơ hội, rằng trong suốt khoảng thời gian dài lâu này mà xứ ấy lại trống không, tức là không có những người ngạ quỷ huyết thống quyến thuộc. Hơn nữa, này Bà-la-môn, người bố thí cũng không phải là không có kết quả.”
“Aṭṭhānepi bhavaṁ gotamo parikappaṁ vadatī”ti?
“Aṭṭhānepi kho ahaṁ, brāhmaṇa, parikappaṁ vadāmi. Idha, brāhmaṇa, ekacco pāṇātipātī hoti, adinnādāyī hoti, kāmesumicchācārī hoti, musāvādī hoti, pisuṇavāco hoti, pharusavāco hoti, samphappalāpī hoti, abhijjhālu hoti, byāpannacitto hoti, micchādiṭṭhiko hoti; so dātā hoti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā hatthīnaṁ sahabyataṁ upapajjati. So tattha lābhī hoti annassa pānassa mālānānālaṅkārassa.
“Does the worthy Gotama propose this even when the conditions are wrong?”
“I propose this even when the conditions are wrong. Take someone who kills living creatures, steals, and commits sexual misconduct. They use speech that’s false, backbiting, harsh, or nonsensical. And they’re covetous, malicious, with wrong view. They give to ascetics or brahmins such things as food, drink, clothing, vehicles; garlands, fragrance, and makeup; and bed, house, and lighting. When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of elephants. There they get to have food and drink, garlands and various adornments.
“Tôn giả Gotama có tuyên thuyết về quả báo ngay cả ở phi xứ không?” “Này Bà-la-môn, Ta có tuyên thuyết về quả báo ngay cả ở phi xứ. Này Bà-la-môn, ở đây, có người sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói dối, nói hai lưỡi, nói lời thô ác, nói lời phù phiếm, tham lam, tâm có sân hận, có tà kiến; người ấy là người bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn về vật thực, thức uống, y phục, xe cộ, vòng hoa, hương thơm, vật thoa phết, giường nằm, trú sở, đèn dầu. Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh làm bạn với loài voi. Ở đấy, người ấy nhận được vật thực, thức uống, vòng hoa và các loại trang sức khác nhau.”
Yaṁ kho, brāhmaṇa, idha pāṇātipātī adinnādāyī kāmesumicchācārī musāvādī pisuṇavāco pharusavāco samphappalāpī abhijjhālu byāpannacitto micchādiṭṭhiko, tena so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā hatthīnaṁ sahabyataṁ upapajjati. Yañca kho so dātā hoti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ, tena so tattha lābhī hoti annassa pānassa mālānānālaṅkārassa.
Since in this life they killed living creatures … and had wrong view, they were reborn in the company of elephants. Since they gave to ascetics or brahmins … they get to have food and drink, garlands and various adornments.
Này Bà-la-môn, do vì ở đây là người sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói dối, nói hai lưỡi, nói lời thô ác, nói lời phù phiếm, tham lam, tâm có sân hận, có tà kiến, nên sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh làm bạn với loài voi. Và do vì người ấy là người bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn về vật thực, thức uống, y phục, xe cộ, vòng hoa, hương thơm, vật thoa phết, giường nằm, trú sở, đèn dầu, nên ở đấy, người ấy nhận được vật thực, thức uống, vòng hoa và các loại trang sức khác nhau.
Idha pana, brāhmaṇa, ekacco pāṇātipātī hoti …pe… micchādiṭṭhiko hoti. So dātā hoti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā assānaṁ sahabyataṁ upapajjati …pe… gunnaṁ sahabyataṁ upapajjati …pe… kukkurānaṁ sahabyataṁ upapajjati. So tattha lābhī hoti annassa pānassa mālānānālaṅkārassa.
Take someone else who kills living creatures … and has wrong view. They give to ascetics or brahmins … When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of horses. … cattle … dogs. There they get to have food and drink, garlands and various adornments.
Này Bà-la-môn, lại nữa, ở đây, có người sát sanh, ... có tà kiến. Người ấy là người bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn về vật thực, thức uống, y phục, xe cộ, vòng hoa, hương thơm, vật thoa phết, giường nằm, trú sở, đèn dầu. Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh làm bạn với loài ngựa, ... sanh làm bạn với loài bò, ... sanh làm bạn với loài chó. Ở đấy, người ấy nhận được vật thực, thức uống, vòng hoa và các loại trang sức khác nhau.
Yaṁ kho, brāhmaṇa, idha pāṇātipātī …pe… micchādiṭṭhiko, tena so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā kukkurānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Yañca kho so dātā hoti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ, tena so tattha lābhī hoti annassa pānassa mālānānālaṅkārassa.
Since in this life they killed living creatures … and had wrong view, they were reborn in the company of dogs. Since they gave to ascetics or brahmins … they get to have food and drink, garlands and various adornments.
Này Bà-la-môn, do vì ở đây là người sát sanh, ... có tà kiến, nên sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh làm bạn với loài chó. Và do vì người ấy là người bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn về vật thực, thức uống, y phục, xe cộ, vòng hoa, hương thơm, vật thoa phết, giường nằm, trú sở, đèn dầu, nên ở đấy, người ấy nhận được vật thực, thức uống, vòng hoa và các loại trang sức khác nhau.
Idha pana, brāhmaṇa, ekacco pāṇātipātā paṭivirato hoti …pe… sammādiṭṭhiko hoti. So dātā hoti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā manussānaṁ sahabyataṁ upapajjati. So tattha lābhī hoti mānusakānaṁ pañcannaṁ kāmaguṇānaṁ.
Take someone else who doesn’t kill living creatures, steal, or commit sexual misconduct. They don’t use speech that’s false, backbiting, harsh, or nonsensical. And they’re contented, kind-hearted, with right view. They give to ascetics or brahmins … When their body breaks up, after death, they’re reborn in the human realm. There they get to have the five kinds of human sensual stimulation.
Này Bà-la-môn, lại nữa, ở đây, có người từ bỏ sát sanh, ... có chánh kiến. Người ấy là người bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn về vật thực, thức uống, y phục, xe cộ, vòng hoa, hương thơm, vật thoa phết, giường nằm, trú sở, đèn dầu. Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh làm bạn với loài người. Ở đấy, người ấy nhận được năm loại dục lạc của con người.
Yaṁ kho, brāhmaṇa, idha pāṇātipātā paṭivirato hoti …pe… sammādiṭṭhiko, tena so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā manussānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Yañca kho so dātā hoti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ, tena so tattha lābhī hoti mānusakānaṁ pañcannaṁ kāmaguṇānaṁ.
Since in this life they didn’t kill living creatures … and had right view, they were reborn in the company of humans. Since they gave to ascetics or brahmins … they get to have the five kinds of human sensual stimulation.
Này Bà-la-môn, do vì ở đây là người từ bỏ sát sanh, ... có chánh kiến, nên sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh làm bạn với loài người. Và do vì người ấy là người bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn về vật thực, thức uống, y phục, xe cộ, vòng hoa, hương thơm, vật thoa phết, giường nằm, trú sở, đèn dầu, nên ở đấy, người ấy nhận được năm loại dục lạc của con người.
Idha pana, brāhmaṇa, ekacco pāṇātipātā paṭivirato hoti …pe… sammādiṭṭhiko hoti. So dātā hoti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ. So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā devānaṁ sahabyataṁ upapajjati. So tattha lābhī hoti dibbānaṁ pañcannaṁ kāmaguṇānaṁ.
Take someone else who doesn’t kill living creatures … and has right view. They give to ascetics or brahmins … When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of the gods. There they get to have the five kinds of heavenly sensual stimulation.
Này Bà-la-môn, ở đời này, có người từ bỏ sát sanh... cho đến... có chánh kiến. Vị ấy là người bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn các món ăn, thức uống, y phục, xe cộ, vòng hoa, hương thơm, vật thoa xức, giường nằm, trú xứ, đèn dầu. Sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy được sanh làm bạn đồng hành với chư thiên. Ở đấy, vị ấy được hưởng năm món dục công đức của chư thiên.
Yaṁ kho, brāhmaṇa, idha pāṇātipātā paṭivirato hoti …pe… sammādiṭṭhiko, tena so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā devānaṁ sahabyataṁ upapajjati. Yañca kho so dātā hoti samaṇassa vā brāhmaṇassa vā annaṁ pānaṁ vatthaṁ yānaṁ mālāgandhavilepanaṁ seyyāvasathapadīpeyyaṁ, tena so tattha lābhī hoti dibbānaṁ pañcannaṁ kāmaguṇānaṁ. Api ca, brāhmaṇa, dāyakopi anipphalo”ti.
Since in this life they didn’t kill living creatures … and had right view, they were reborn in the company of the gods. Since they gave to ascetics or brahmins … they get to have the five kinds of heavenly sensual stimulation. It’s never fruitless for the donor.”
Này Bà-la-môn, do vì ở đời này có người từ bỏ sát sanh... cho đến... có chánh kiến, nên sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy được sanh làm bạn đồng hành với chư thiên. Và do vì vị ấy là người bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn các món ăn, thức uống, y phục, xe cộ, vòng hoa, hương thơm, vật thoa xức, giường nằm, trú xứ, đèn dầu, nên ở đấy, vị ấy được hưởng năm món dục công đức của chư thiên. Và này Bà-la-môn, người bố thí không phải là không có kết quả.
“Acchariyaṁ, bho gotama, abbhutaṁ, bho gotama. Yāvañcidaṁ, bho gotama, alameva dānāni dātuṁ, alaṁ saddhāni kātuṁ, yatra hi nāma dāyakopi anipphalo”ti.
“Evametaṁ, brāhmaṇa, dāyakopi hi, brāhmaṇa, anipphalo”ti.
“It’s incredible, worthy Gotama, it’s amazing, This is quite enough to justify giving gifts and performing memorial rites for the dead, since it’s never fruitless for the donor.”
“That’s so true, brahmin. It’s never fruitless for the donor.”
Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thật hy hữu, thưa Tôn giả Gotama! Thưa Tôn giả Gotama, thật đáng để thực hiện việc bố thí, thật đáng để thực hiện các lễ cúng dường, vì rằng người bố thí không phải là không có kết quả. – Đúng vậy, này Bà-la-môn. Này Bà-la-môn, người bố thí không phải là không có kết quả.
“Abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama …pe… upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Ekādasamaṁ.
“Excellent, worthy Gotama! Excellent! … From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama! Thật tuyệt vời, thưa Tôn giả Gotama!... Mong Tôn giả Gotama hãy ghi nhận con là một người cận sự nam đã quy y Tam Bảo trọn đời, kể từ hôm nay. (Kinh) thứ mười một.
Jāṇussoṇivaggo dutiyo.
Phẩm Jāṇussoṇi thứ hai.