- Aṅguttara Nikāya 10.175
- 17. Jāṇussoṇivagga
Bản dịch
AN 10.175 — Thoát Ly
Parikkamanasutta
TTC 1Pháp này, này các Tỷ-kheo, có con đường thoát ly, pháp này không phải không có con đường thoát ly. Và này các Tỷ-kheo, thế nào pháp này có con đường thoát ly, pháp này không phải không có con đường thoát ly?
TTC 2Từ bỏ sát sanh, này các Tỷ-kheo, là con đường thoát ly sát sanh. Từ bỏ lấy của không cho, này các Tỷ-kheo, là con đường thoát ly lấy của không cho. Từ bỏ tà hạnh trong các dục, này các Tỷ-kheo, là con đường thoát ly tà hạnh trong các dục. Từ bỏ nói láo, này các Tỷ-kheo, là con đường thoát ly nói láo. Từ bỏ nói hai lưỡi, là con đường thoát ly nói hai lưỡi. Từ bỏ nói lời độc ác, này các Tỷ-kheo, là con đường thoát ly nói lời độc ác. Từ bỏ nói lời phù phiếm, này các Tỷ-kheo, là con đường thoát ly nói lời phù phiếm. Không tham dục, này các Tỷ-kheo, là con đường thoát ly tham dục. Không sân, này các Tỷ-kheo, là con đường thoát ly sân. Chánh kiến, này các Tỷ-kheo, là con đường thoát ly tà kiến.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là con đường thoát ly.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, pháp này có con đường thoát ly, pháp này không phải không có con đường thoát ly.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 10.175
- 17. With Jānussoṇi
The Bypass
9. Kinh Về Sự Chuyển Hướng
“Saparikkamano ayaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo aparikkamano. Kathañca, bhikkhave, saparikkamano ayaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo aparikkamano? Pāṇātipātissa, bhikkhave, pāṇātipātā veramaṇī parikkamanaṁ hoti. Adinnādāyissa, bhikkhave, adinnādānā veramaṇī parikkamanaṁ hoti. Kāmesumicchācārissa, bhikkhave, kāmesumicchācārā veramaṇī parikkamanaṁ hoti. Musāvādissa, bhikkhave, musāvādā veramaṇī parikkamanaṁ hoti. Pisuṇavācassa, bhikkhave, pisuṇāya vācāya veramaṇī parikkamanaṁ hoti. Pharusavācassa, bhikkhave, pharusāya vācāya veramaṇī parikkamanaṁ hoti. Samphappalāpissa, bhikkhave, samphappalāpā veramaṇī parikkamanaṁ hoti. Abhijjhālussa, bhikkhave, anabhijjhā parikkamanaṁ hoti. Byāpannacittassa, bhikkhave, abyāpādo parikkamanaṁ hoti. Micchādiṭṭhissa, bhikkhave, sammādiṭṭhi parikkamanaṁ hoti. Evaṁ kho, bhikkhave, saparikkamano ayaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo aparikkamano”ti.
Navamaṁ.
“Mendicants, this teaching provides a bypass, it doesn’t lack a bypass. And how does this teaching provide a bypass, not lacking a bypass? Not killing living creatures bypasses killing living creatures. Not stealing bypasses stealing. Refraining from sexual misconduct bypasses sexual misconduct. Not lying bypasses lying. Refraining from divisive speech bypasses divisive speech. Refraining from harsh speech bypasses harsh speech. Refraining from talking nonsense bypasses talking nonsense. Contentment bypasses covetousness. Good will bypasses ill will. Right view bypasses wrong view. That’s how this teaching provides a bypass, it doesn’t lack a bypass.”
175. Này các Tỳ khưu, pháp này có sự chuyển hướng, pháp này không phải là không có sự chuyển hướng. Và này các Tỳ khưu, thế nào là pháp này có sự chuyển hướng, pháp này không phải là không có sự chuyển hướng? Này các Tỳ khưu, đối với người sát sanh, sự từ bỏ sát sanh là sự chuyển hướng. Đối với người lấy của không cho, sự từ bỏ lấy của không cho là sự chuyển hướng. Đối với người tà dâm trong các dục, sự từ bỏ tà dâm trong các dục là sự chuyển hướng. Đối với người nói dối, sự từ bỏ nói dối là sự chuyển hướng. Đối với người nói lời đâm thọc, sự từ bỏ nói lời đâm thọc là sự chuyển hướng. Đối với người nói lời thô ác, sự từ bỏ nói lời thô ác là sự chuyển hướng. Đối với người nói lời vô ích, sự từ bỏ nói lời vô ích là sự chuyển hướng. Đối với người có lòng tham ái, không tham ái là sự chuyển hướng. Đối với người có tâm sân hận, không sân hận là sự chuyển hướng. Đối với người có tà kiến, chánh kiến là sự chuyển hướng. Này các Tỳ khưu, như vậy, pháp này có sự chuyển hướng, pháp này không phải là không có sự chuyển hướng. (Kinh) thứ chín.