- Aṅguttara Nikāya 10.115
- 12. Paccorohaṇivagga
Bản dịch
AN 10.115 — Phi Pháp
Tatiyaadhammasutta
TTC 1Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết; phi mục đích và mục đích cần phải hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và pháp, sau khi biết phi mục đích và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế nào, như thế ấy cần phải thực hành.
Thế Tôn thuyết như vậy. Thuyết như vậy xong, bậc Thiện Thệ từ chỗ ngồi đứng dậy và bước vào tinh xá.
TTC 2Rồi các Tỷ-kheo ấy, sau khi Thế Tôn đi không bao lâu, suy nghĩ như sau: “Này chư Hiền, Thế Tôn đã nói lên một cách vắn tắt lời tuyên bố này, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy, đã đi vào tinh xá: “Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết, phi mục đích và mục đích cần phải hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và pháp, sau khi biết phi mục đích và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế nào, như thế ấy cần phải thực hành.” Với lời tuyên bố này được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, ai là người có thể phân tích một cách rộng rãi? “ Rồi các Tỷ-kheo ấy suy nghĩ như sau: “Tôn giả Ananda được Thế Tôn tán thán, được các vị đồng Phạm hạnh có trí bắt chước. Tôn giả Ananda, với lời tuyên bố này được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, có thể phân tích một cách rộng rãi. Vậy chúng ta hãy đi đến Tôn giả Ananda, sau khi đến, sẽ hỏi Tôn giả Ananda về ý nghĩa này. Tôn giả Ananda trả lời cho chúng ta như thế nào, chúng ta sẽ như vậy thọ trì”.
TTC 3Rồi các Tỷ-kheo ấy đi đến Tôn giả Ananda, sau khi đến nói lên với Tôn giả Ananda những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy nói với Tôn giả Ananda:
—Thưa Hiền giả Ananda. Thế Tôn sau khi nói lên một cách vắn tắt lời tuyên bố này, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy, đã đi vào tinh xá: “Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết, phi mục đích và mục đích cần phải hiểu biết. Sau khi hiểu phi pháp và pháp, sau khi biết phi mục đích và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế nào, như thế ấy cần phải thực hành.” Này Hiền giả, sau khi Thế Tôn đi không bao lâu, chúng tôi suy nghĩ như sau: “Này chư Hiền, Thế Tôn sau khi nói lên một cách vắn tắt lời tuyên bố này, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy, đã đi vào tinh xá: “Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết, phi mục đích và mục đích cần phải hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và pháp, sau khi biết phi mục đích và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế nào, như thế ấy cần phải thực hành.” Với lời tuyên bố này được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi”, ai là người có thể phân tích một cách rộng rãi? Rồi thưa Hiền giả, chúng tôi suy nghĩ như sau: “Tôn giả Ananda được Thế Tôn tán thán, được các vị đồng Phạm hạnh có trí bắt chước. Tôn giả Ananda, với lời tuyên bố này được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, có thể phân tích một cách rộng rãi. Vậy chúng ta hãy đi đến Tôn giả Ananda, sau khi đến, sẽ hỏi Tôn giả Ananda về ý nghĩa này. Tôn giả Ananda trả lời cho chúng ta như thế nào, chúng ta sẽ như vậy thọ trì”. Thưa Tôn giả Ananda, hãy phân tích cho.
TTC 4Chư Hiền, cũng ví như một người cần thiết lõi cây, tìm lõi cây, đi khắp mọi nơi tìm lõi cây, đến một cây to lớn, đứng thẳng và có lõi cây. Người này bỏ qua rễ, bỏ qua thân cây, nghĩ rằng: “Phải tìm lõi cây ở nơi cành lá”. Cũng vậy, là hành động của chư Tôn giả, đứng trước mặt Thế Tôn, quí vị bỏ qua Thế Tôn, nghĩ rằng: “Cần phải hỏi tôi về ý nghĩa này”. Chư Hiền, Thế Tôn biết những gì cần phải biết, thấy những gì cần phải thấy. Ngài đã trở thành vị có mắt, trở thành vị có trí, trở thành Chánh pháp, trở thành Phạm thiên, vị thuyết giả, vị diễn giả, vị đem lại mục tiêu, vị trao cho bất tử, vị Pháp chủ. Thế Tôn giải thích quý vị như thế nào, quí vị hãy như vậy thọ trì.
TTC 5Hiền giả Ananda, chắc chắn Thế Tôn biết những gì cần phải biết, thấy những gì cần phải thấy. Ngài đã trở thành vị có mắt, trở thành vị có trí, trở thành Chánh pháp, trở thành Phạm thiên, vị thuyết giả, vị diễn giả, vị đem lại mục tiêu, vị trao cho bất tử, vị Pháp chủ, Như Lai. Chúng tôi phải tùy thời hỏi Thế Tôn ý nghĩa này. Những gì Thế Tôn giải thích cho chúng tôi, chúng tôi sẽ như vậy thọ trì. nhưng Hiền giả Ananda được Thế Tôn tán thán, được các vị đồng Phạm hạnh có trí bắt chước. Hiền giả Ananda có thể giải thích rộng rãi ý nghĩa lời giảng dạy được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt mà không có phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi. Mong Hiền giả Ananda giải thích, nếu không có sự gì phiền muộn.
TTC 6Vậy chư Hiền, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, tôi sẽ giảng.
—Thưa vâng Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ananda. Tôn giả Ananda giảng như sau:
—Thưa chư Hiền, Thế Tôn sau khi nói lên lời tuyên bố một cách vắn tắt mà không có phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, đã từ chỗ ngồi đứng dậy và đi vào tinh xá: “Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết, phi mục đích và mục đích cần phải hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và pháp, sau khi biết phi mục đích và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế nào, như thế ấy cần phải thực hành.” Và này chư Hiền, thế nào là phi pháp, thế nào là pháp, thế nào là phi mục đích và thế nào là mục đích?
TTC 7Tà kiến, này chư Hiền, là phi pháp; chánh kiến là pháp, những pháp ác bất thiện gì do duyên tà kiến khởi lên, đây là phi mục đích. Và những pháp thiện gì đi đến viên mãn trong tu tập, đây là mục đích. Tà tư duy, này chư Hiền, là phi pháp; chánh tư duy là pháp… Tà ngữ là phi pháp; chánh ngữ là pháp… Tà nghiệp là phi pháp; chánh nghiệp là pháp… Tà mạng là phi pháp; chánh mạng là pháp… Tà tinh tấn là phi pháp; chánh tinh tấn là pháp… Tà niệm là phi pháp; chánh niệm là pháp… Tà định là phi pháp; chánh định là pháp… Tà trí là phi pháp; chánh trí là pháp… Tà giải thoát là phi pháp; chánh giải thoát là pháp. Và những pháp ác bất thiện nào do duyên chánh giải thoát khởi lên đây là phi mục đích, và những thiện pháp do duyên chánh giải thoát đi đến viên mãn trong tu tập, đây là mục đích. Thưa các Hiền giả, Thế Tôn sau khi nói lên lời tuyên bố này một cách vắn tắt mà không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy, đã đi vào tinh xá: “Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết, phi mục đích và mục đích cần phải hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và pháp, sau khi biết phi mục đích và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế nào, như thế ấy cần phải thực hành.” Thưa các Hiền giả, lời tuyên bố vắn tắt này của Thế Tôn mà không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, tôi hiểu ý nghĩa rộng rãi như vậy. Thưa chư Hiền, nếu chư Hiền muốn, hãy đi đến Thế Tôn và hỏi ý nghĩa này. Thế Tôn trả lời như thế nào, hãy như vậy thọ trì.
—Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Tôn giả Ananda, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
TTC 8Bạch Thế Tôn, Thế Tôn sau khi nói lên lời tuyên bố một cách vắn tắt mà không có phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy và đi vào tinh xá: “Phi pháp và pháp, này các Tỷ-kheo, cần phải hiểu biết, phi mục đích và mục đích cần phải hiểu biết. Sau khi biết phi pháp và pháp, sau khi biết phi mục đích và mục đích, pháp như thế nào, mục đích như thế nào, như thế ấy cần phải thực hành”. Bạch Thế Tôn, sau khi Thế Tôn đi không bao lâu, chúng con suy nghĩ như sau: “Này chư Hiền, Thế Tôn sau khi nói lên lời tuyên bố một cách vắn tắt mà không có phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tinh xá: “Phi pháp và pháp cần phải hiểu biết… hãy như thế ấy mà thực hành”. Với lời tuyên bố vắn tắt này của Thế Tôn, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, ai là người có thể phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi? “ Rồi bạch Thế Tôn, chúng con suy nghĩ như sau: “Tôn giả Ananda được Thế Tôn tán thán, được các vị đồng Phạm hạnh có trí bắt chước. Tôn giả Ananda với lời tuyên bố này được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, có thể phân tích một cách rộng rãi. Vậy chúng ta hãy đi đến Tôn giả Aụnanda và hỏi ý nghĩa này”. Bạch Thế Tôn, ý nghĩa của chúng được Tôn giả Ananda khéo phân tích với những lý do như thế này, với những chữ như thế này, với những chữ như thế này, với những câu văn như thế này.
TTC 9Lành thay, lành thay, này các Tỷ-kheo, Hiền trí là Hiền giả Ananda! Ðại tuệ là Hiền giả Ananda! Này các Tỷ-kheo, nếu các Thầy đến hỏi Ta về ý nghĩa này, Ta cũng trả lời như vậy, như đã được Ananda trả lời. Ðây là ý nghĩa của lời ấy, hãy như vậy thọ trì.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh nầy được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24. These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/ Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Numbered Discourses 10.115
- 12. The Ceremony of Descent
Bad Principles (3rd)
3. Kinh Phi Pháp thứ ba
“Adhammo ca, bhikkhave, veditabbo dhammo ca; anattho ca veditabbo attho ca. Adhammañca viditvā dhammañca, anatthañca viditvā atthañca yathā dhammo yathā attho tathā paṭipajjitabban”ti.
Idamavoca bhagavā. Idaṁ vatvāna sugato uṭṭhāyāsanā vihāraṁ pāvisi.
“Mendicants, you should know bad principles and good principles. And you should know bad results and good results. Knowing these things, your practice should follow the good principles with good results.”
That is what the Buddha said. When he had spoken, the Holy One rose from his seat and entered his dwelling.
115. “‘Này các tỳ khưu, phi pháp cần phải được biết và pháp cũng cần phải được biết; điều vô ích cần phải được biết và điều hữu ích cũng cần phải được biết. Sau khi đã biết phi pháp và pháp, sau khi đã biết điều vô ích và điều hữu ích, thì nên thực hành theo pháp, theo điều hữu ích.’ Thế Tôn đã nói điều này. Sau khi nói điều này, Thiện Thệ đã từ chỗ ngồi đứng dậy và đi vào tịnh xá.
Atha kho tesaṁ bhikkhūnaṁ acirapakkantassa bhagavato etadahosi: “idaṁ kho no, āvuso, bhagavā saṅkhittena uddesaṁ uddisitvā vitthārena atthaṁ avibhajitvā uṭṭhāyāsanā vihāraṁ paviṭṭho: ‘adhammo ca, bhikkhave, veditabbo dhammo ca; anattho ca veditabbo attho ca. Adhammañca viditvā dhammañca, anatthañca viditvā atthañca yathā dhammo yathā attho tathā paṭipajjitabban’ti. Ko nu kho imassa bhagavatā saṅkhittena uddesassa uddiṭṭhassa vitthārena atthaṁ avibhattassa vitthārena atthaṁ vibhajeyyā”ti?
Soon after the Buddha left, those mendicants considered, “The Buddha gave this brief summary recital, then entered his dwelling without explaining the meaning in detail. Who can explain in detail the meaning of this brief summary recital given by the Buddha?”
Rồi, không bao lâu sau khi Thế Tôn rời đi, các tỳ khưu ấy đã khởi lên suy nghĩ này: ‘Này chư hiền, Thế Tôn, sau khi trình bày đề mục một cách tóm tắt mà không phân tích ý nghĩa một cách chi tiết, đã từ chỗ ngồi đứng dậy và đi vào tịnh xá, rằng: “Này các tỳ khưu, phi pháp cần phải được biết và pháp cũng cần phải được biết; điều vô ích cần phải được biết và điều hữu ích cũng cần phải được biết. Sau khi đã biết phi pháp và pháp, sau khi đã biết điều vô ích và điều hữu ích, thì nên thực hành theo pháp, theo điều hữu ích.” Ai có thể phân tích chi tiết ý nghĩa của đề mục này đã được Thế Tôn trình bày một cách tóm tắt mà không được phân tích chi tiết?’”
Atha kho tesaṁ bhikkhūnaṁ etadahosi: “ayaṁ kho āyasmā ānando satthu ceva saṁvaṇṇito sambhāvito ca viññūnaṁ sabrahmacārīnaṁ. Pahoti cāyasmā ānando imassa bhagavatā saṅkhittena uddesassa uddiṭṭhassa vitthārena atthaṁ avibhattassa vitthārena atthaṁ vibhajituṁ. Yannūna mayaṁ yenāyasmā ānando tenupasaṅkameyyāma; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ etamatthaṁ paṭipuccheyyāma. Yathā no āyasmā ānando byākarissati tathā naṁ dhāressāmā”ti.
Then they considered, “This Venerable Ānanda is praised by the Buddha and esteemed by his sensible spiritual companions. He is capable of explaining in detail the meaning of this brief summary recital given by the Buddha. Let’s go to him, and ask him about this matter. As he answers, so we’ll remember it.”
Rồi các tỳ khưu ấy lại khởi lên suy nghĩ này: ‘Tôn giả Ānanda này được Bậc Đạo Sư tán thán và được các vị đồng phạm hạnh có trí tuệ kính trọng. Tôn giả Ānanda có khả năng phân tích chi tiết ý nghĩa của đề mục này đã được Thế Tôn trình bày một cách tóm tắt mà không được phân tích chi tiết. Hay là chúng ta hãy đi đến chỗ Tôn giả Ānanda; sau khi đến, chúng ta sẽ hỏi Tôn giả Ānanda về ý nghĩa này. Tôn giả Ānanda sẽ giải thích cho chúng ta như thế nào, chúng ta sẽ ghi nhớ theo cách ấy.’”
Atha kho te bhikkhū yenāyasmā ānando tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmatā ānandena saddhiṁ sammodiṁsu. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū āyasmantaṁ ānandaṁ etadavocuṁ:
Then those mendicants went to Ānanda, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, they sat down to one side. They told him what had happened, and said,
Rồi các tỳ khưu ấy đã đi đến chỗ Tôn giả Ānanda; sau khi đến, họ đã cùng Tôn giả Ānanda trao đổi lời chào hỏi thân thiện. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện và đáng ghi nhớ, họ ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, các tỳ khưu ấy đã nói với Tôn giả Ānanda điều này:
“Này hiền giả Ānanda, Thế Tôn, sau khi trình bày đề mục một cách tóm tắt mà không phân tích ý nghĩa một cách chi tiết, đã từ chỗ ngồi đứng dậy và đi vào tịnh xá, rằng: ‘Phi pháp… cho đến… nên thực hành như vậy.’”
“Này hiền giả, không bao lâu sau khi Thế Tôn rời đi, chúng tôi đã khởi lên suy nghĩ này: ‘Này chư hiền, Thế Tôn, sau khi trình bày đề mục một cách tóm tắt mà không phân tích ý nghĩa một cách chi tiết, đã từ chỗ ngồi đứng dậy và đi vào tịnh xá, rằng: ‘Phi pháp… cho đến… nên thực hành như vậy.’ Ai có thể phân tích chi tiết ý nghĩa của đề mục này đã được Thế Tôn trình bày một cách tóm tắt mà không được phân tích chi tiết?’”
“Này hiền giả, chúng tôi đã khởi lên suy nghĩ này: ‘Tôn giả Ānanda này được Bậc Đạo Sư tán thán và được các vị đồng phạm hạnh có trí tuệ kính trọng. Tôn giả Ānanda có khả năng phân tích chi tiết ý nghĩa của đề mục này đã được Thế Tôn trình bày một cách tóm tắt mà không được phân tích chi tiết. Hay là chúng ta hãy đi đến chỗ Tôn giả Ānanda; sau khi đến, chúng ta sẽ hỏi Tôn giả Ānanda về ý nghĩa này. Tôn giả Ānanda sẽ giải thích cho chúng ta như thế nào, chúng ta sẽ ghi nhớ theo cách ấy.’ Mong Tôn giả Ānanda hãy phân tích cho.”
“Seyyathāpi, āvuso, puriso sāratthiko sāragavesī sārapariyesanaṁ caramāno mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato atikkammeva mūlaṁ atikkamma khandhaṁ sākhāpalāse sāraṁ pariyesitabbaṁ maññeyya; evaṁsampadamidaṁ āyasmantānaṁ satthari sammukhībhūte taṁ bhagavantaṁ atisitvā amhe etamatthaṁ paṭipucchitabbaṁ maññatha. So hāvuso, bhagavā jānaṁ jānāti passaṁ passati, cakkhubhūto ñāṇabhūto dhammabhūto brahmabhūto vattā pavattā atthassa ninnetā amatassa dātā dhammassāmī tathāgato. So ceva panetassa kālo ahosi yaṁ tumhe bhagavantaṁyeva upasaṅkamitvā etamatthaṁ paṭipuccheyyātha. Yathā vo bhagavā byākareyya tathā naṁ dhāreyyāthā”ti.
“Reverends, suppose there was a person in need of heartwood. And while wandering in search of heartwood he’d come across a large tree standing with heartwood. But he’d pass over the roots and trunk, imagining that the heartwood should be sought in the branches and leaves. Such is the consequence for the venerables. Though you were face to face with the Buddha, you bypassed him, imagining that you should ask me about this matter. For he is the Buddha, the one who knows and sees. He is vision, he is knowledge, he is the manifestation of principle, he is the manifestation of divinity. He is the preacher, the proclaimer, the elucidator of meaning, the bestower of freedom from death, the lord of truth, the Realized One. That was the time to approach the Buddha and ask about this matter. You should have remembered it in line with the Buddha’s answer.”
“Này chư Hiền, ví như một người cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, trong khi đi tìm lõi cây, lại bỏ qua gốc, bỏ qua thân của một cây lớn có lõi cây đang đứng đó, mà lại nghĩ rằng nên tìm lõi cây ở cành lá; sự việc này cũng tương tự như vậy, khi Bậc Đạo Sư đang hiện diện trước mặt, các Tôn giả lại bỏ qua Thế Tôn ấy mà nghĩ rằng nên hỏi chúng tôi về ý nghĩa này. Này chư Hiền, Thế Tôn ấy, Ngài biết điều cần biết, thấy điều cần thấy, là con mắt, là trí tuệ, là Pháp, là Phạm Thiên, là người thuyết giảng, người tuyên bố, người dẫn dắt đến mục đích, người ban cho sự bất tử, là Pháp Vương, là Như Lai. Đây chính là thời điểm mà các vị nên đến yết kiến chính Đức Thế Tôn và hỏi về ý nghĩa này. Đức Thế Tôn sẽ trả lời cho các vị như thế nào, các vị nên ghi nhớ như thế ấy.”
“Addhāvuso ānanda, bhagavā jānaṁ jānāti passaṁ passati cakkhubhūto ñāṇabhūto dhammabhūto brahmabhūto vattā pavattā atthassa ninnetā amatassa dātā dhammassāmī tathāgato. So ceva panetassa kālo ahosi yaṁ mayaṁ bhagavantaṁyeva upasaṅkamitvā etamatthaṁ paṭipuccheyyāma, yathā no bhagavā byākareyya tathā naṁ dhāreyyāma. Api cāyasmā ānando satthu ceva saṁvaṇṇito sambhāvito ca viññūnaṁ sabrahmacārīnaṁ. Pahoti cāyasmā ānando imassa bhagavatā saṅkhittena uddesassa uddiṭṭhassa vitthārena atthaṁ avibhattassa vitthārena atthaṁ vibhajituṁ. Vibhajatāyasmā ānando agaruṁ katvā”ti.
“Certainly he is the Buddha, the one who knows and sees. He is vision, he is knowledge, he is the manifestation of principle, he is the manifestation of divinity. He is the preacher, the proclaimer, the elucidator of meaning, the bestower of freedom from death, the lord of truth, the Realized One. That was the time to approach the Buddha and ask about this matter. We should have remembered it in line with the Buddha’s answer. Still, Venerable Ānanda is praised by the Buddha and esteemed by his sensible spiritual companions. You are capable of explaining in detail the meaning of this brief summary recital given by the Buddha. Please explain this, if it’s no trouble.”
“Thưa Hiền giả Ānanda, chắc chắn rằng Đức Thế Tôn biết điều cần biết, thấy điều cần thấy, là con mắt, là trí tuệ, là Pháp, là Phạm Thiên, là người thuyết giảng, người tuyên bố, người dẫn dắt đến mục đích, người ban cho sự bất tử, là Pháp Vương, là Như Lai. Đây chính là thời điểm mà chúng tôi nên đến yết kiến chính Đức Thế Tôn và hỏi về ý nghĩa này, và chúng tôi sẽ ghi nhớ như thế nào Đức Thế Tôn trả lời cho chúng tôi. Hơn nữa, Tôn giả Ānanda đã được chính Bậc Đạo Sư tán thán và được các vị đồng phạm hạnh có trí tuệ kính trọng. Tôn giả Ānanda có khả năng phân tích chi tiết ý nghĩa của đề mục tóm tắt này đã được Đức Thế Tôn nêu lên nhưng chưa được giải thích chi tiết. Xin Tôn giả Ānanda, không xem là nặng nhọc, hãy phân tích cho.”
“Tenahāvuso, suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evamāvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato ānandassa paccassosuṁ. Athāyasmā ānando etadavoca:
“Then listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, reverend,” they replied. Ānanda said this:
“Này chư Hiền, nếu vậy, hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý; tôi sẽ nói.” “Vâng, thưa Hiền giả,” các vị Tỳ khưu ấy đã đáp lại Tôn giả Ānanda. Bấy giờ, Tôn giả Ānanda nói điều này:
“Yaṁ kho no, āvuso, bhagavā saṅkhittena uddesaṁ uddisitvā vitthārena atthaṁ avibhajitvā uṭṭhāyāsanā vihāraṁ paviṭṭho: ‘adhammo ca, bhikkhave, veditabbo dhammo ca; anattho ca veditabbo attho ca. Adhammañca viditvā dhammañca, anatthañca viditvā atthañca yathā dhammo yathā attho tathā paṭipajjitabban’ti.
“Reverends, the Buddha gave this brief summary recital, then entered his dwelling without explaining the meaning in detail: ‘You should know bad principles and good principles. And you should know bad results and good results. Knowing these things, your practice should follow the good principles with good results.’
“Này chư Hiền, Đức Thế Tôn đã nêu lên đề mục một cách tóm tắt, không phân tích ý nghĩa một cách chi tiết, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh xá: ‘Này các Tỳ khưu, phi pháp cần phải được biết, và chánh pháp cũng vậy; điều bất lợi cần phải được biết, và điều lợi ích cũng vậy. Sau khi đã biết phi pháp và chánh pháp, đã biết điều bất lợi và điều lợi ích, thì nên thực hành theo chánh pháp, theo điều lợi ích.’”
Katamo cāvuso, adhammo, katamo ca dhammo, katamo ca anattho, katamo ca attho?
So what are bad principles? What are good principles? What are bad results? And what are good results?
Và này chư Hiền, thế nào là phi pháp, thế nào là chánh pháp, thế nào là điều bất lợi, thế nào là điều lợi ích?
Micchādiṭṭhi, āvuso, adhammo; sammādiṭṭhi dhammo; ye ca micchādiṭṭhipaccayā aneke pāpakā akusalā dhammā sambhavanti, ayaṁ anattho; sammādiṭṭhipaccayā ca aneke kusalā dhammā bhāvanāpāripūriṁ gacchanti, ayaṁ attho.
Wrong view is a bad principle. Right view is a good principle. And the many bad, unskillful qualities produced by wrong view are bad results. And the many skillful qualities fully developed because of right view are good results.
“Này chư Hiền, tà kiến là phi pháp; chánh kiến là chánh pháp. Và do duyên tà kiến mà nhiều pháp ác, bất thiện sanh khởi, đây là điều bất lợi. Và do duyên chánh kiến mà nhiều pháp thiện đi đến sự viên mãn do tu tập, đây là điều lợi ích.”
Micchāsaṅkappo, āvuso, adhammo; sammāsaṅkappo dhammo … micchāvācā, āvuso, adhammo; sammāvācā dhammo … micchākammanto, āvuso, adhammo; sammākammanto dhammo … micchāājīvo, āvuso, adhammo; sammāājīvo dhammo … micchāvāyāmo, āvuso, adhammo; sammāvāyāmo dhammo … micchāsati, āvuso, adhammo; sammāsati dhammo … micchāsamādhi, āvuso, adhammo; sammāsamādhi dhammo … micchāñāṇaṁ, āvuso, adhammo; sammāñāṇaṁ dhammo ….
Wrong purpose is a bad principle. Right purpose is a good principle. … Wrong speech is a bad principle. Right speech is a good principle. … Wrong action is a bad principle. Right action is a good principle. … Wrong livelihood is a bad principle. Right livelihood is a good principle. … Wrong effort is a bad principle. Right effort is a good principle. … Wrong mindfulness is a bad principle. Right mindfulness is a good principle. … Wrong immersion is a bad principle. Right immersion is a good principle. … Wrong knowledge is a bad principle. Right knowledge is a good principle. …
“Này chư Hiền, tà tư duy là phi pháp; chánh tư duy là chánh pháp… Này chư Hiền, tà ngữ là phi pháp; chánh ngữ là chánh pháp … Này chư Hiền, tà nghiệp là phi pháp; chánh nghiệp là chánh pháp… Này chư Hiền, tà mạng là phi pháp; chánh mạng là chánh pháp… Này chư Hiền, tà tinh tấn là phi pháp; chánh tinh tấn là chánh pháp… Này chư Hiền, tà niệm là phi pháp; chánh niệm là chánh pháp… Này chư Hiền, tà định là phi pháp; chánh định là chánh pháp… Này chư Hiền, tà trí là phi pháp; chánh trí là chánh pháp….
Micchāvimutti, āvuso, adhammo; sammāvimutti dhammo; ye ca micchāvimuttipaccayā aneke pāpakā akusalā dhammā sambhavanti, ayaṁ anattho; sammāvimuttipaccayā ca aneke kusalā dhammā bhāvanāpāripūriṁ gacchanti, ayaṁ attho.
Wrong freedom is a bad principle. Right freedom is a good principle. And the many bad, unskillful qualities produced by wrong freedom are bad results. And the many skillful qualities fully developed because of right freedom are good results.
Tà giải thoát, này chư Hiền, là phi pháp; chánh giải thoát là chánh pháp. Và do duyên tà giải thoát mà nhiều pháp ác, bất thiện sanh khởi, đây là điều bất lợi. Và do duyên chánh giải thoát mà nhiều pháp thiện đi đến sự viên mãn do tu tập, đây là điều lợi ích.
Ayaṁ kho no, āvuso, bhagavā saṅkhittena uddesaṁ uddisitvā vitthārena atthaṁ avibhajitvā uṭṭhāyāsanā vihāraṁ paviṭṭho: ‘adhammo ca, bhikkhave, veditabbo dhammo ca …pe… tathā paṭipajjitabban’ti, imassa kho ahaṁ, āvuso, bhagavatā saṅkhittena uddesassa uddiṭṭhassa vitthārena atthaṁ avibhattassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāmi. Ākaṅkhamānā ca pana tumhe, āvuso, bhagavantaṁyeva upasaṅkamitvā etamatthaṁ paṭipuccheyyātha. Yathā vo bhagavā byākaroti tathā naṁ dhāreyyāthā”ti.
The Buddha gave this brief summary recital, then entered his dwelling without explaining the meaning in detail: ‘You should know bad principles and good principles … and practice accordingly.’ And this is how I understand the detailed meaning of this summary recital. If you wish, you may go to the Buddha and ask him about this. You should remember it in line with the Buddha’s answer.”
“Này chư Hiền, đây là đề mục mà Đức Thế Tôn đã nêu lên một cách tóm tắt, không phân tích ý nghĩa một cách chi tiết, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh xá: ‘Này các Tỳ khưu, phi pháp cần phải được biết, và chánh pháp cũng vậy… nên thực hành như vậy.’ Này chư Hiền, đối với đề mục được Đức Thế Tôn nêu lên một cách tóm tắt mà không phân tích ý nghĩa chi tiết này, tôi hiểu ý nghĩa chi tiết như vậy. Nhưng nếu các vị muốn, hãy đến yết kiến chính Đức Thế Tôn và hỏi về ý nghĩa này. Đức Thế Tôn trả lời cho các vị như thế nào, các vị hãy ghi nhớ như thế ấy.”
“Evamāvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato ānandassa bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“Yes, reverend,” said those mendicants, approving and agreeing with what Ānanda said. Then they rose from their seats and went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened. Then they said:
“Vâng, thưa Hiền giả.” Các vị Tỳ khưu ấy đã hoan hỷ, tán thán lời nói của Tôn giả Ānanda, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến chỗ Đức Thế Tôn; sau khi đến, họ đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các vị Tỳ khưu ấy bạch với Đức Thế Tôn điều này:
“Yaṁ kho no bhagavā saṅkhittena uddesaṁ uddisitvā vitthārena atthaṁ avibhajitvā uṭṭhāyāsanā vihāraṁ paviṭṭho: ‘adhammo ca, bhikkhave, veditabbo …pe…
“Bạch Thế Tôn, Ngài đã nêu lên cho chúng con đề mục một cách tóm tắt, không phân tích ý nghĩa một cách chi tiết, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh xá: ‘Này các Tỳ khưu, phi pháp cần phải được biết… nên thực hành như vậy.’”
Tesaṁ no, bhante, amhākaṁ acirapakkantassa bhagavato etadahosi: ‘idaṁ kho no, āvuso, bhagavā saṅkhittena uddesaṁ uddisitvā vitthārena atthaṁ avibhajitvā uṭṭhāyāsanā vihāraṁ paviṭṭho—adhammo ca, bhikkhave, veditabbo …pe… tathā paṭipajjitabbanti. Ko nu kho imassa bhagavatā saṅkhittena uddesassa uddiṭṭhassa vitthārena atthaṁ avibhattassa vitthārena atthaṁ vibhajeyyā’ti?
“Bạch ngài, sau khi Thế Tôn rời đi không bao lâu, chúng con đã khởi lên suy nghĩ như sau: ‘Này chư hiền, Thế Tôn đã nêu lên đề mục này một cách tóm tắt cho chúng ta, nhưng không phân tích ý nghĩa một cách chi tiết, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh xá – (đề mục là): ‘Này các Tỳ khưu, phi pháp cần phải được biết... cho đến... cần phải thực hành như vậy.’ Vậy ai có thể phân tích chi tiết ý nghĩa của đề mục này đã được Thế Tôn nêu lên một cách tóm tắt mà không được phân tích chi tiết ý nghĩa?’”
Tesaṁ no, bhante, amhākaṁ etadahosi: ‘ayaṁ kho āyasmā ānando satthu ceva saṁvaṇṇito sambhāvito ca viññūnaṁ sabrahmacārīnaṁ. Pahoti cāyasmā ānando imassa bhagavatā saṅkhittena uddesassa uddiṭṭhassa vitthārena atthaṁ avibhattassa vitthārena atthaṁ vibhajituṁ. Yannūna mayaṁ yenāyasmā ānando tenupasaṅkameyyāma; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ etamatthaṁ paṭipuccheyyāma. Yathā no āyasmā ānando byākarissati tathā naṁ dhāressāmā’ti.
“Bạch ngài, chúng con lại khởi lên suy nghĩ như sau: ‘Tôn giả Ānanda này được bậc Đạo Sư tán thán và được các vị đồng phạm hạnh có trí tuệ kính trọng. Tôn giả Ānanda có khả năng phân tích chi tiết ý nghĩa của đề mục này đã được Thế Tôn nêu lên một cách tóm tắt mà không được phân tích chi tiết ý nghĩa. Hay là chúng ta hãy đến chỗ Tôn giả Ānanda; sau khi đến, chúng ta hãy hỏi Tôn giả Ānanda về ý nghĩa này. Tôn giả Ānanda sẽ giải thích cho chúng ta như thế nào, chúng ta sẽ ghi nhớ như thế ấy.’”
Atha kho mayaṁ, bhante, yenāyasmā ānando tenupasaṅkamimhā; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ etamatthaṁ apucchimhā. Tesaṁ no, bhante, āyasmatā ānandena imehi ākārehi imehi padehi imehi byañjanehi attho suvibhatto”ti.
“Sir, we went to Ānanda and asked him about this matter. And Ānanda clearly explained the meaning to us in this manner, with these words and phrases.”
“Bạch ngài, rồi chúng con đã đến chỗ Tôn giả Ānanda; sau khi đến, chúng con đã hỏi Tôn giả Ānanda về ý nghĩa này. Bạch ngài, Tôn giả Ānanda đã khéo phân tích ý nghĩa cho chúng con bằng những cách thức này, bằng những từ ngữ này, bằng những văn cú này.”
“Sādhu sādhu, bhikkhave. Paṇḍito, bhikkhave, ānando. Mahāpañño, bhikkhave, ānando. Mañcepi tumhe, bhikkhave, upasaṅkamitvā etamatthaṁ paṭipuccheyyātha, ahampi cetaṁ evamevaṁ byākareyyaṁ yathā taṁ ānandena byākataṁ. Eso ceva tassa attho evañca naṁ dhāreyyāthā”ti.
Tatiyaṁ.
“Good, good, mendicants! Ānanda is astute, he has great wisdom. If you came to me and asked this question, I would answer it in exactly the same way as Ānanda. That is what it means, and that’s how you should remember it.”
“Lành thay, lành thay, này các Tỳ khưu! Này các Tỳ khưu, Ānanda là bậc hiền trí. Này các Tỳ khưu, Ānanda là bậc có đại tuệ. Này các Tỳ khưu, nếu các ngươi đến hỏi Như Lai về ý nghĩa này, Như Lai cũng sẽ giải thích y như Ānanda đã giải thích. Đây chính là ý nghĩa của điều đó, và các ngươi hãy ghi nhớ như vậy.” (Hết bài kinh thứ ba).