Bản dịch
VV 70 — Thiên Cung của Người Bố Thí Vật Thực
6. Bhikkhādāyakavimānavatthu
BJT 1081“Thiên cung này cao, có cây trụ bằng ngọc ma-ni, ở xung quanh mười hai do-tuần, có bảy trăm ngôi nhà mái nhọn cao sang với các cây cột làm bằng ngọc bích, được trải lót bằng vàng, xinh đẹp.
BJT 1082Ngươi đã đạt được thần thông của chư Thiên, có đại oai lực. Khi là con người, ngươi đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà ngươi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của ngươi chiếu sáng khắp các phương?”
BJT 1083Vị Thiên tử ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, vị ấy đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 1084“Tôi, khi là con người ở cõi nhân loại, sau khi nhìn thấy vị tỳ khưu bị run rẩy, mệt nhọc, tôi đã cung cấp trọn phần ăn một ngày, khi ấy tôi đã thực hiện bằng bữa ăn thuộc sở hữu (của mình).
BJT 1085Do điều ấy, tôi có được màu da như thế ấy. Do điều ấy mà (sự việc) được thành tựu cho tôi ở nơi đây. Và (do điều ấy) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho tôi.
BJT 1086Thưa vị tỳ khưu có đại oai lực, tôi trình bày cho ngài về việc phước thiện tôi đã làm khi là con người. Do điều ấy mà tôi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của tôi chiếu sáng khắp các phương.”
Thiên Cung của Người Bố Thí Vật Thực.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
6. Bhikkhādāyakavimānavatthu
6. The Story of the Alms-Food-Giver's Mansion
6. Chuyện Thiên Cung Của Người Dâng Cúng Vật Thực
1081.
1081.
1081.
‘‘Uccamidaṃ maṇithūṇaṃ vimānaṃ, samantato dvādasa yojanāni;
Kūṭāgārā sattasatā uḷārā, veḷuriyathambhā rucakatthatā subhā.
“High is this jewel-pillared mansion, twelve yojanas all around; there are seven hundred magnificent pinnacled chambers with pillars of beryl, beautifully spread with delightful gold.
‘Thiên cung này có cột trụ bằng ngọc báu, cao lớn, bốn phía rộng mười hai do-tuần. Có bảy trăm lầu đài nguy nga, cột bằng ngọc lưu ly, sàn lát vàng ròng, thật là tráng lệ.’
1082.
1082.
1082.
‘‘Deviddhipattosi mahānubhāvo, manussabhūto kimakāsi puññaṃ;
Kenāsi evaṃ jalitānubhāvo, vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī’’ti.
“You have attained divine power and are of great majesty. When you were a human being, what meritorious deed did you perform? By what are you of such radiant power, and by what does your complexion illuminate all directions?”
‘Ngài đã đạt được thần lực của chư thiên, có đại oai lực. Khi còn là người, ngài đã làm phước gì? Do đâu ngài có oai lực rực rỡ như vậy, và dung sắc của ngài tỏa sáng khắp mọi phương?’
1083.
1083.
1083.
So devaputto attamano…pe… yassa kammassidaṃ phalaṃ.
That devaputta, with a delighted mind, having been questioned by Moggallāna, answered the question put to him, explaining of which kamma this is the result.
Vị thiên tử ấy, với tâm hoan hỷ... (v.v.)... (đã giải thích) nghiệp nào đã đưa đến quả này.
1084.
1084.
1084.
‘‘Ahaṃ manussesu manussabhūto, disvāna bhikkhuṃ tasitaṃ kilantaṃ;
Ekāhaṃ bhikkhaṃ paṭipādayissaṃ, samaṅgi bhattena tadā akāsiṃ.
“I, being a human among humans, having seen a monk who was thirsty and weary, gave him a single portion of alms-food. At that time, I made him fully provided with a meal.
‘Khi còn là người giữa cõi người, tôi đã thấy một vị tỳ-khưu đói khát và mệt mỏi. Tôi đã dâng cúng một phần vật thực, và lúc đó đã làm cho vị ấy được no đủ với vật thực.’
1085.
1085.
1085.
‘‘Tena metādiso vaṇṇo…pe… vaṇṇo ca me sabbadisā pabhāsatī’’ti.
“Because of that deed, such is my complexion... and my complexion illuminates all directions.”
‘Do nhân ấy, dung sắc của tôi được như thế này... (v.v.)... và dung sắc của tôi tỏa sáng khắp mọi phương.’
Bhikkhādāyakavimānaṃ chaṭṭhaṃ.
The story of the Alms-Food-Giver's Mansion, the sixth, is concluded.
Thiên cung của vị thí chủ cúng dường vật thực, câu chuyện thứ sáu.