Bản dịch
VV 16 — Thiên Cung của Sirimā
16. Sirimāvimānavatthu
BJT 136“Những con ngựa của nàng đã được thắng vào, đã được trang hoàng tuyệt vời, có khuôn mặt hướng xuống dưới, di chuyển ở không trung, có sức mạnh, có tốc lực, và năm trăm cỗ xe đã được nàng hóa hiện ra. Những con ngựa, được đốc thúc bởi những người đánh xe, theo sau nàng.
BJT 137Nàng, đã được điểm trang, đứng ở chiếc xe cao quý, đang chói sáng như vì sao, đang rực cháy như ngọn lửa. Hỡi cô nàng có thân hình cao quý, có dáng vóc tuyệt vời, ta hỏi nàng, từ tập thể nào nàng đã đi đến với đấng Cao Quý Nổi Bật?”
BJT 138“Người ta đã nói loại chư Thiên vui thích trong việc biến hóa thế này thế nọ là hạng cao nhất trong số chư Thiên đã đạt được tột đỉnh về dục lạc. Từ tập thể ấy, là tiên nữ có được dáng vóc theo như ý muốn, tôi đã đi đến nơi đây để lễ bái đấng Cao Quý Nổi Bật.”
BJT 139“Trước đây, nàng đã hành thiện hạnh gì ở nơi này? Do điều gì nàng có danh tiếng vô lượng, được nuôi dưỡng trong hạnh phúc, và thần thông của nàng là cao quý nổi bật, có sự di chuyển ở không trung, và màu da của nàng chói sáng mười phương?
BJT 140Nàng được chư Thiên vây quanh và tôn trọng. Hỡi nàng tiên, từ nơi đâu nàng đã chết đi, rồi đã đi đến chốn an vui? Hay là nàng đã thực hành theo lời chỉ dạy của vị nào? Nếu nàng đã là đệ tử của đức Phật, xin nàng hãy nói rõ cho ta.”
BJT 141“Ở thành phố cao quý khéo được xây dựng nơi thung lũng, tôi đã là người thị tỳ của vị vua cao quý có sự vinh quang. Tôi đã khéo được học tập đến tột đỉnh về múa, về hát. Ở Rājagaha người ta đã biết đến tôi là Sirimā.
BJT 142Và đức Phật, vị chúa của các ẩn sĩ, bậc Hướng Đạo đã thuyết giảng cho tôi về Tập Đế, về Khổ Đế, về tính chất vô thường, về sự không tạo tác, về sự Diệt Tận của Khổ, về tính chất trường cửu, và về Đạo Lộ không cong quẹo, thẳng tắp, tốt lành này.
BJT 143Sau khi lắng nghe về Đạo Lộ Bất Tử, về sự không tạo tác, về Giáo Pháp cao quý nổi bật của đức Như Lai, tôi đã tuyệt đối khéo léo thu thúc trong các giới, được vững vàng trong Giáo Pháp đã được thuyết giảng bởi đức Phật cao quý của loài người.
BJT 144Sau khi tôi biết được vị thế Vô Nhiễm, không tạo tác, đã được thuyết giảng bởi đức Như Lai, đấng Cao Quý tối thượng, ngay vào thời điểm ấy tôi đã chạm đến tầng định của thiền chỉ tịnh. Chính tôi đây đã có được bản thể vững bền tối thượng.
BJT 145Sau khi đạt được sự Bất Tử cao quý đặc biệt, sau khi đã xác định về sự lãnh hội, tôi đã chắc chắn, không còn hoài nghi, được nhiều người tôn vinh. Tôi thọ hưởng sự vui thích khoái lạc không phải là ít.
BJT 146Như vậy, tôi là vị Thiên nhân thấy được Bất Tử, là nữ Thinh Văn của đức Như Lai, đấng Cao Quý Nổi Bật. Tôi đã thấy được Pháp, đã được thiết lập ở quả vị thứ nhất, là vị Nhập Lưu, và hơn nữa không còn khổ cảnh đối với tôi.
BJT 147Với sự tôn kính đối với đấng Pháp Vương vinh quang, tôi đây đã đi đến để đảnh lễ đấng Cao Quý Tối Thượng và để lễ bái các vị tỳ khưu, những vị vui thích thiện pháp, tạo nên niềm tin, tập hợp tốt lành của các Sa-môn.
BJT 148Sau khi nhìn thấy bậc Hiền Trí, đức Như Lai, đấng Điều Ngự Trượng Phu cao quý, vị cắt đứt tham ái, bậc vui thích thiện pháp, đấng Hướng Đạo, tôi được hài lòng, có tâm ý hoan hỷ. Tôi đảnh lễ bậc có lòng thương tưởng đến điều lợi ích tối thượng (cho tất cả chúng sanh).”
Thiên Cung của Sirimā.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
16. Sirimāvimānavatthu
16. The Story of the Mansion of Sirimā
16. Câu chuyện Thiên cung của Sirimā
137.
137.
137.
‘‘Yuttā ca te paramaalaṅkatā hayā, adhomukhā aghasigamā balī javā;
Abhinimmitā pañcarathāsatā ca te, anventi taṃ sārathicoditā hayā.
And yoked are your horses, supremely adorned, with heads bowed, moving through the sky, powerful, and swift; and your five hundred magically created chariots, with horses as if urged on by charioteers, follow you.
‘Những con ngựa được trang hoàng lộng lẫy đã được thắng vào xe của nàng, chúng cúi đầu, đi trên không, mạnh mẽ và nhanh nhẹn. Năm trăm cỗ xe do nàng hóa hiện, với những con ngựa như được người đánh xe thúc giục, đang đi theo nàng.’
138.
138.
138.
‘‘Sā tiṭṭhasi rathavare alaṅkatā, obhāsayaṃ jalamiva joti pāvako;
Pucchāmi taṃ varatanu † anomadassane, kasmā nu kāyā anadhivaraṃ upāgami.
Adorned, you stand in the excellent chariot, illuminating and blazing brightly like a flame of fire. I ask you, O one of excellent form, of faultless appearance, from which divine company have you come to the Unsurpassed One?
‘Nàng đứng trên cỗ xe tuyệt vời, được trang hoàng lộng lẫy, tỏa sáng rực rỡ như ngọn lửa. Ta hỏi nàng, hỡi người có thân hình xinh đẹp, dáng vẻ hoàn hảo: Nàng từ cõi nào đến yết kiến bậc Vô Thượng?’
139.
139.
139.
‘‘Kāmaggapattānaṃ yamāhunuttaraṃ †, nimmāya nimmāya ramanti devatā;
Tasmā kāyā accharā kāmavaṇṇinī, idhāgatā anadhivaraṃ namassituṃ.
That which they call the unsurpassed realm for those who have reached the peak of sensual pleasures, where devas delight, creating and creating—from that divine company, I, a celestial nymph of desirable beauty, have come here to pay homage to the Unsurpassed One.
‘Cõi trời được gọi là vô thượng của các vị trời đã đạt đến đỉnh cao của dục lạc, nơi các vị trời hoan hỷ bằng cách tự hóa hiện (mọi thứ). Con là một tiên nữ có thể tạo ra dung sắc theo ý muốn, từ cõi ấy con đến đây để đảnh lễ bậc Vô Thượng.’
140.
140.
140.
‘‘Kiṃ tvaṃ pure sucaritamācarīdha †,
Kenacchasi tvaṃ amitayasā sukhedhitā;
Iddhī ca te anadhivarā vihaṅgamā,
Vaṇṇo ca te dasa disā virocati.
What good conduct did you practice previously? By what do you dwell here, of limitless renown and prospering in happiness? Your psychic power is unsurpassed, able to travel through the air, and your radiance illuminates the ten directions.
‘Trước đây nàng đã thực hành thiện hạnh gì? Do đâu mà nàng có đoàn tùy tùng vô số, sống trong an lạc? Thần lực của nàng không ai sánh bằng, có thể đi trên không, và dung sắc của nàng tỏa sáng khắp mười phương.’
141.
141.
141.
‘‘Devehi tvaṃ parivutā sakkatā casi,
Kuto cutā sugatigatāsi devate;
Kassa vā tvaṃ vacanakarānusāsaniṃ,
Ācikkha me tvaṃ yadi buddhasāvikā’’ti.
You are surrounded and honored by the devas. O devatā, having passed away from where have you gone to a good destination? Whose instruction do you follow, being one who carries out their word? Tell me, if you are a female disciple of the Buddha.
‘Nàng được các vị trời vây quanh và tôn kính. Này thiên nữ, nàng từ đâu mệnh chung mà được sanh về thiện thú? Nàng đã vâng theo lời giáo huấn của vị thầy nào? Nếu nàng là đệ tử của Đức Phật, hãy cho ta biết.’
142.
142.
142.
‘‘Nagantare nagaravare sumāpite, paricārikā rājavarassa sirimato;
Nacce gīte paramasusikkhitā ahuṃ, sirimāti maṃ rājagahe avediṃsu †.
Amidst the mountains, in the excellent, well-founded city, I was an attendant of the glorious, excellent king. I was extremely well-trained in dance and song; in Rājagaha, they knew me as Sirimā.
‘Tại thành phố Rājagaha tuyệt vời, được xây dựng khéo léo giữa những ngọn núi, con từng là người hầu của vị vua vĩ đại, đức vua Bimbisāra. Con đã được huấn luyện rất giỏi về ca và múa. Ở Rājagaha, người ta biết đến con với tên gọi Sirimā.’
143.
143.
143.
‘‘Buddho ca me isinisabho vināyako, adesayī samudayadukkhaniccataṃ;
Asaṅkhataṃ dukkhanirodhasassataṃ, maggañcimaṃ akuṭilamañjasaṃ sivaṃ.
And the Buddha, the bull among seers, the guide, taught me the impermanence of arising and suffering; the unconditioned, eternal cessation of suffering; and this path—not crooked, direct, and safe.
‘Và Đức Phật, bậc Thánh vương, bậc Đạo sư, đã giảng cho con về sự vô thường của khổ và tập, về sự diệt khổ vô vi, thường hằng, và về con đường này, con đường thẳng tắp, không quanh co, an tịnh.’
144.
144.
144.
‘‘Sutvānahaṃ amatapadaṃ asaṅkhataṃ, tathāgatassanadhivarassa sāsanaṃ;
Sīlesvahaṃ paramasusaṃvutā ahuṃ, dhamme ṭhitā naravarabuddhadesite †.
Having heard the deathless, unconditioned teaching of the unsurpassed Tathāgata, I became supremely well-restrained in the precepts, established in the Dhamma taught by the best of men, the Buddha.
‘Sau khi nghe giáo pháp của Như Lai, bậc Vô Thượng, là con đường bất tử, vô vi, con đã trở nên hết sức phòng hộ trong các giới, và an trú trong Pháp do bậc Tối thắng giữa loài người, Đức Phật, giảng dạy.’
145.
145.
145.
‘‘Ñatvānahaṃ virajapadaṃ asaṅkhataṃ, tathāgatenanadhivarena desitaṃ;
Tatthevahaṃ samathasamādhimāphusiṃ, sāyeva me paramaniyāmatā ahu.
Having known the stainless, unconditioned state taught by the unsurpassed Tathāgata, right there I attained the concentration of serenity—that itself became my supreme certainty.
Con đã biết được trạng thái vô trần, vô vi, do đấng Như Lai vô thượng thuyết giảng; ngay tại đó, con đã chứng đạt định tĩnh lặng; chính sự chứng đạt ấy đã trở thành sự xác quyết tối thượng cho con.
146.
146.
146.
‘‘Laddhānahaṃ amatavaraṃ visesanaṃ, ekaṃsikā abhisamaye visesiya;
Asaṃsayā bahujanapūjitā ahaṃ, khiḍḍāratiṃ † paccanubhomanappakaṃ.
Having obtained the excellent deathless distinction, and excelling in direct realization, I became certain. Free from doubt and revered by many people, I experience abundant playful delight.
Con đã đắc được pháp bất tử cao quý, sự đặc thù, đã đạt đến sự thấu triệt đặc biệt trong chánh trí. Không còn nghi ngờ, con được nhiều người cúng dường, và con hưởng thụ niềm vui và hoan lạc không ít.
147.
147.
147.
‘‘Evaṃ ahaṃ amatadasamhi † devatā, tathāgatassanadhivarassa sāvikā;
Dhammaddasā paṭhamaphale patiṭṭhitā, sotāpannā na ca pana matthi duggati.
Thus I am a devatā who has seen the deathless, a female disciple of the unsurpassed Tathāgata. A seer of the Dhamma, established in the first fruit, I am a stream-enterer, and for me there is no bad destination.
Như vậy, con là một thiên nữ đã thấy được pháp bất tử, là nữ đệ tử của đấng Như Lai vô thượng. Con đã thấy Pháp, an trú trong quả vị đầu tiên, là bậc Dự lưu, và đối với con không còn có đường ác nữa.
148.
148.
148.
‘‘Sā vandituṃ anadhivaraṃ upāgamiṃ, pāsādike kusalarate ca bhikkhavo;
Namassituṃ samaṇasamāgamaṃ sivaṃ, sagāravā sirimato dhammarājino.
I have come to venerate the Unsurpassed One and the inspiring bhikkhus who delight in the wholesome, and to pay homage to the safe assembly of ascetics; I am reverent towards the glorious King of Dhamma.
Con đã đến để đảnh lễ bậc Vô Thượng, và các vị Tỳ-kheo đáng kính, những người hoan hỷ trong thiện pháp; để kính lễ hội chúng Sa-môn an lành, với lòng tôn kính đối với Đức Pháp Vương, đấng phúc đức.
149.
149.
149.
‘‘Disvā muniṃ muditamanamhi pīṇitā, tathāgataṃ naravaradammasārathiṃ;
Taṇhacchidaṃ kusalarataṃ vināyakaṃ, vandāmahaṃ paramahitānukampaka’’nti.
Seeing the sage, I am joyful in mind and gratified. I venerate that sage—the Tathāgata, the charioteer of excellent men to be tamed, the cutter of craving, the one who delights in the wholesome, the guide, the one who is compassionate for the supreme welfare of others.
Khi thấy bậc Mâu-ni, đấng Như Lai, người đánh xe điều ngự những người đáng được điều phục, bậc tối thượng, người đã chặt đứt ái dục, người hoan hỷ trong thiện pháp, bậc Đạo Sư, con có tâm hoan hỷ và tràn đầy hân hoan. Con xin đảnh lễ Ngài, đấng có lòng bi mẫn vì lợi ích tối thượng.
Sirimāvimānaṃ soḷasamaṃ.
The Sixteenth: The Mansion of Sirimā.
Thiên cung của Sirimā, câu chuyện thứ mười sáu.