- Udāna 8.1
Paṭhamanibbānapaṭisaṁyuttasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Paṭhamanibbānapaṭisaṁyuttasutta
1. Tôi đã nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho các vị tỳ khưu bằng bài Pháp thoại liên quan đến Niết Bàn. Và các vị tỳ khưu ấy đã xác định mục đích, đã chú tâm, và tập trung tất cả tâm tư lắng tai nghe Pháp.
2. Sau đó, khi hiểu ra sự việc này, đức Thế Tôn vào thời điểm ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Này các tỳ khưu, có xứ ấy, là nơi không có yếu tố đất, không có nước, không có lửa, không có gió, không có Không vô biên xứ, không có Thức vô biên xứ, không có Vô sở hữu xứ, không có Phi tưởng phi phi tưởng xứ, không có đời này, không có đời sau, không có cả hai mặt trăng và mặt trời. Này các tỳ khưu, thậm chí ở nơi ấy Ta nói rằng không có đi đến, không có ra đi, không có trụ lại, không có tử, không có sanh, nơi này không có thành lập, không có vận hành, không có đối tượng (của sáu căn). Chính nơi này là sự chấm dứt của khổ.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Tự Thuyết (Udāna). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
1. Kinh Đầu Tiên Liên Quan Đến Niết Bàn
71. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú tại Sāvatthī, ở Jetavana, trong khu vườn của Anāthapiṇḍika. Vào lúc ấy, Thế Tôn đang chỉ dạy, khuyến khích, làm cho hăng hái, và làm cho phấn khởi các vị tỳ khưu bằng một bài pháp thoại liên quan đến Niết bàn. Và các vị tỳ khưu ấy, chú tâm, tác ý, hướng toàn bộ tâm ý, lắng tai nghe pháp.
72. Tôi nghe như vầy – một thời, đức Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Và vào lúc ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, và làm cho hoan hỷ các vị Tỳ khưu bằng bài pháp thoại liên quan đến Nibbāna. Và ở đây, các vị Tỳ khưu ấy, sau khi đã chú tâm, đã tác ý, đã tổng hợp tất cả bằng tâm, với tai lắng nghe, họ lắng nghe Pháp.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
“Atthi, bhikkhave, tadāyatanaṁ, yattha neva pathavī, na āpo, na tejo, na vāyo, na ākāsānañcāyatanaṁ, na viññāṇañcāyatanaṁ, na ākiñcaññāyatanaṁ, na nevasaññānāsaññāyatanaṁ, nāyaṁ loko, na paraloko, na ubho candimasūriyā. Tatrāpāhaṁ, bhikkhave, neva āgatiṁ vadāmi, na gatiṁ, na ṭhitiṁ, na cutiṁ, na upapattiṁ; appatiṭṭhaṁ, appavattaṁ, anārammaṇamevetaṁ.
Then, understanding this matter, on that occasion the Buddha expressed this heartfelt sentiment:
“There is, mendicants, that dimension where there is no earth, no water, no fire, no wind; no dimension of infinite space, no dimension of infinite consciousness, no dimension of nothingness, no dimension of neither perception nor non-perception; no this world, no other world, no moon or sun. There, mendicants, I say there is no coming or going or remaining or passing away or reappearing. It is not established, does not proceed, and has no support.
Rồi đức Thế Tôn, sau khi hiểu rõ ý nghĩa này, vào lúc ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
Paṭhamaṁ.
“Đối với người nương tựa thì có sự dao động, đối với người không nương tựa thì không có sự dao động. Khi không có sự dao động thì có sự an tịnh, khi có sự an tịnh thì không có sự nghiêng chiều. Khi không có sự nghiêng chiều thì không có sự đến và đi. Khi không có sự đến và đi thì không có sự chết và sanh. Khi không có sự chết và sanh thì không có ở đây, không có ở kia, không có ở khoảng giữa cả hai. Đây chính là sự chấm dứt của khổ đau.” (Kinh) thứ tư.