- Udāna 7.1
Paṭhamalakuṇḍakabhaddiyasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Paṭhamalakuṇḍakabhaddiyasutta
1. Tôi đã nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, đại đức Sāriputta đang chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho đại đức Lakuṇṭakabhaddiyaṃ bằng bài Pháp thoại với nhiều phương thức. Khi ấy, trong lúc đại đức Lakuṇṭakabhaddiyaṃ đang được đại đức Sāriputta chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại với nhiều phương thức, tâm của vị ấy đã không còn chấp thủ và đã giải thoát khỏi các lậu hoặc. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy đại đức Lakuṇṭakabhaddiyaṃ đang được đại đức Sāriputta chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại với nhiều phương thức, tâm của vị ấy đã không còn chấp thủ và đang được giải thoát khỏi các lậu hoặc.
2. Sau đó, khi hiểu ra sự việc này, đức Thế Tôn vào thời điểm ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Bên trên, bên dưới, tất cả các nơi, người đã được giải thoát
không có sự suy xét rằng: ‘Tôi là cái này.’
Người được giải thoát như vậy đã vượt lên dòng chảy
trước đây chưa vượt qua, do việc không còn hiện hữu lại nữa.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Tự Thuyết (Udāna). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
1. Kinh Lakuṇḍaka Bhaddiya Thứ Nhất
61. Tôi nghe như vầy: Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Sāriputta đã dùng pháp thoại với nhiều phương tiện để chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ Tôn giả Lakuṇḍaka Bhaddiya.
Atha kho āyasmato lakuṇḍakabhaddiyassa āyasmatā sāriputtena anekapariyāyena dhammiyā kathāya sandassiyamānassa samādapiyamānassa samuttejiyamānassa sampahaṁsiyamānassa anupādāya āsavehi cittaṁ vimucci.
Then after being taught like this Bhaddiya’s mind was freed from defilements by not grasping.
Khi ấy, Tôn giả Lakuṇḍaka Bhaddiya, trong khi được Tôn giả Sāriputta dùng pháp thoại với nhiều phương tiện để chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ, tâm đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ.
Addasā kho bhagavā āyasmantaṁ lakuṇḍakabhaddiyaṁ āyasmatā sāriputtena anekapariyāyena dhammiyā kathāya sandassiyamānaṁ samādapiyamānaṁ samuttejiyamānaṁ sampahaṁsiyamānaṁ anupādāya āsavehi cittaṁ vimuttaṁ.
The Buddha saw what had happened.
Thế Tôn đã thấy Tôn giả Lakuṇḍaka Bhaddiya, trong khi được Tôn giả Sāriputta dùng pháp thoại với nhiều phương tiện để chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ, có tâm đã được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
Then, understanding this matter, on that occasion the Buddha expressed this heartfelt sentiment:
Rồi Thế Tôn, sau khi biết rõ ý nghĩa này, vào lúc ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Uddhaṁ adho sabbadhi vippamutto, Ayaṁhamasmīti anānupassī; Evaṁ vimutto udatāri oghaṁ, Atiṇṇapubbaṁ apunabbhavāyā”ti.
Paṭhamaṁ.
“Above, below, everywhere free, not contemplating ‘I am this’. Freed like this, he has crossed the flood not crossed before, so as to not be reborn.”
“Trên, dưới, và khắp mọi nơi đều được giải thoát, Không còn quán xét rằng ‘đây là ta’; Người giải thoát như vậy đã vượt qua dòng bộc lưu, Điều chưa từng vượt qua, để không còn tái sanh.” (kết thúc bài kinh thứ nhất)