- Udāna 6.9
Upātidhāvantisutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Upātidhāvantisutta
1. Tôi đã nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn ngồi ở ngoài trời trong bóng tối dày đặc của ban đêm, khi những cây đèn dầu đang cháy sáng. Vào lúc bấy giờ, nhiều côn trùng có cánh sa vào tai nạn, lâm cảnh bất hạnh do việc lao vào và bay vòng quanh ở những cây đèn dầu đang cháy sáng. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy nhiều côn trùng có cánh ấy đang sa vào tai nạn, đang lâm cảnh bất hạnh do việc lao vào và bay vòng quanh ở những cây đèn dầu đang cháy sáng.
2. Sau đó, khi hiểu ra sự việc này, đức Thế Tôn vào thời điểm ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Chúng chạy đến gần rồi vượt qua, không đi đến cốt lõi, chúng làm tăng thêm sự trói buộc mới hơn nữa, một số người lao theo điều đã được thấy, điều đã được nghe nói lại như thế, rồi sa đọa, tựa như các côn trùng có cánh rơi vào ngọn đèn.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Tự Thuyết (Udāna). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
9. Kinh Upātidhāvanti (Vượt Quá)
59. Tôi nghe như vầy – một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của Anāthapiṇḍika. Và vào lúc ấy, Thế Tôn đang ngồi ngoài trời trong đêm tối mịt mù, khi các ngọn đèn dầu đang cháy sáng.
Tena kho pana samayena sambahulā adhipātakā tesu telappadīpesu āpātaparipātaṁ anayaṁ āpajjanti, byasanaṁ āpajjanti, anayabyasanaṁ āpajjanti. Addasā kho bhagavā te sambahule adhipātake tesu telappadīpesu āpātaparipātaṁ anayaṁ āpajjante, byasanaṁ āpajjante, anayabyasanaṁ āpajjante.
And many moths were falling down and crashing down into the lamps, coming to grief and ruin. The Buddha saw the moths coming to grief.
Và vào lúc ấy, nhiều con thiêu thân, lao vào và bay vòng quanh những ngọn đèn dầu ấy, gặp phải tai họa, gặp phải sự hủy diệt, gặp phải tai họa và sự hủy diệt. Thế Tôn đã thấy nhiều con thiêu thân ấy, lao vào và bay vòng quanh những ngọn đèn dầu ấy, đang gặp phải tai họa, đang gặp phải sự hủy diệt, đang gặp phải tai họa và sự hủy diệt.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
Then, understanding this matter, on that occasion the Buddha expressed this heartfelt sentiment:
Rồi Thế Tôn, sau khi biết rõ ý nghĩa này, vào lúc ấy, đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Upātidhāvanti na sāramenti, Navaṁ navaṁ bandhanaṁ brūhayanti; Patanti pajjotamivādhipātakā, Diṭṭhe sute itiheke niviṭṭhā”ti.
Navamaṁ.
“Hastening by, they miss the essence, sprouting ever more new bonds. Like moths falling in the flame, some have become fixed in what is seen or heard.”
Họ chạy vượt quá, không đạt đến cốt lõi, họ làm tăng trưởng những ràng buộc mới và mới. Như những con thiêu thân rơi vào ngọn lửa, một số người cố chấp vào cái thấy, cái nghe như vậy. Hết kinh thứ chín.