- Udāna 6.6
Tatiyanānātitthiyasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Tatiyanānātitthiyasutta
1. Tôi đã nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, nhiều Sa-môn, Bà-la-môn, và du sĩ thuộc các giáo phái khác nhau cư ngụ ở Sāvatthi có quan điểm khác nhau, có sự chấp nhận khác nhau, có sự ưa thích khác nhau, nương tựa vào sự nâng đỡ của những quan điểm khác nhau.
Có một số Sa-môn và Bà-la-môn có học thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: “Tự ngã và thế giới là trường tồn; chỉ điều này là sự thật, cái khác là rỗng không.” (1)
Có một số Sa-môn và Bà-la-môn có học thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: “Tự ngã và thế giới là không trường tồn; chỉ điều này là sự thật, cái khác là rỗng không.” (2)
Có một số Sa-môn và Bà-la-môn có học thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: “Tự ngã và thế giới là trường tồn và không trường tồn; chỉ điều này là sự thật, cái khác là rỗng không.” (3)
Có một số Sa-môn và Bà-la-môn có học thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: “Tự ngã và thế giới không phải là trường tồn mà cũng không phải là không trường tồn; chỉ điều này là sự thật, cái khác là rỗng không.” (4)
Có một số Sa-môn và Bà-la-môn có học thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: “Tự ngã và thế giới là được tạo ra bởi bản thân; chỉ điều này là sự thật, cái khác là rỗng không.” (5)
Có một số Sa-môn và Bà-la-môn có học thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: “Tự ngã và thế giới là được tạo ra bởi kẻ khác; chỉ điều này là sự thật, cái khác là rỗng không.” (6)
Có một số Sa-môn và Bà-la-môn có học thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: “Tự ngã và thế giới là được tạo ra bởi bản thân và được tạo ra bởi kẻ khác; chỉ điều này là sự thật, cái khác là rỗng không.” (7)
Có một số Sa-môn và Bà-la-môn có học thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: “Tự ngã và thế giới không phải là sự tạo ra của bản thân, không phải là sự tạo ra của kẻ khác, mà được tự động sanh lên.” (8)
Có một số Sa-môn và Bà-la-môn có học thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: “Hạnh phúc và khổ đau, tự ngã và thế giới là trường tồn; chỉ điều này là sự thật, cái khác là rỗng không.” (9)
Có một số Sa-môn và Bà-la-môn có học thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: “Hạnh phúc và khổ đau, tự ngã và thế giới là không trường tồn; chỉ điều này là sự thật, cái khác là rỗng không.” (10)
Có một số Sa-môn và Bà-la-môn có học thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: “Hạnh phúc và khổ đau, tự ngã và thế giới là trường tồn và không trường tồn; chỉ điều này là sự thật, cái khác là rỗng không.” (11)
Có một số Sa-môn và Bà-la-môn có học thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: “Hạnh phúc và khổ đau, tự ngã và thế giới không phải là trường tồn mà cũng không phải là không trường tồn; chỉ điều này là sự thật, cái khác là rỗng không.” (12)
Có một số Sa-môn và Bà-la-môn có học thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: “Hạnh phúc và khổ đau, tự ngã và thế giới là được tạo ra bởi bản thân; chỉ điều này là sự thật, cái khác là rỗng không.” (13)
Có một số Sa-môn và Bà-la-môn có học thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: “Hạnh phúc và khổ đau, tự ngã và thế giới là được tạo ra bởi kẻ khác; chỉ điều này là sự thật, cái khác là rỗng không.” (14)
Có một số Sa-môn và Bà-la-môn có học thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: “Hạnh phúc và khổ đau, tự ngã và thế giới là được tạo ra bởi bản thân và được tạo ra bởi kẻ khác; chỉ điều này là sự thật, cái khác là rỗng không.” (15)
Có một số Sa-môn và Bà-la-môn có học thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: “Hạnh phúc và khổ đau, tự ngã và thế giới không phải là sự tạo ra của bản thân, không phải là sự tạo ra của kẻ khác, mà được tự động sanh lên.” (16)
Họ đã nảy sanh sự xung đột, đã nảy sanh sự cãi cọ, đã tiến đến sự tranh luận, sống châm chích lẫn nhau bằng các vũ khí của mồm miệng (nói rằng): “Pháp là như thế này, pháp không phải là như thế kia. Pháp không phải là như thế kia, pháp là như thế này.”
2. Khi ấy, vào buổi sáng nhiều vị tỳ khưu đã quấn y (nội), rồi cầm lấy bình bát và y đi vào thành Sāvatthi để khất thực. Sau khi đi khất thực ở thành Sāvatthi, sau bữa ăn trong khi đi khất thực trở về, đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống ở một bên, các vị tỳ khưu ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này:
“Bạch Ngài, ở đây nhiều Sa-môn, Bà-la-môn, và du sĩ thuộc các giáo phái khác nhau cư trú ở Sāvatthi có quan điểm khác nhau, có sự chấp nhận khác nhau, có sự ưa thích khác nhau, nương tựa vào sự nâng đỡ của những quan điểm khác nhau. Có một số Sa-môn và Bà-la-môn có học thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: ‘Tự ngã và thế giới là trường tồn; chỉ điều này là sự thật, cái khác là rỗng không.’—như trên— Họ đã nảy sanh sự xung đột, đã nảy sanh sự cãi cọ, đã tiến đến sự tranh luận, sống châm chích lẫn nhau bằng các vũ khí của mồm miệng (nói rằng): ‘Pháp là như thế này, pháp không phải là như thế kia. Pháp không phải là như thế kia, pháp là như thế này.’”
3. “Này các tỳ khưu, các du sĩ ngoại đạo là bị mù, không có mắt (tuệ nhãn), không biết điều lợi ích, không biết điều không lợi ích, không biết pháp, không biết phi pháp. Trong khi không biết điều lợi ích, trong khi không biết điều không lợi ích, trong khi không biết pháp, trong khi không biết phi pháp, họ đã nảy sanh sự xung đột, đã nảy sanh sự cãi cọ, đã tiến đến sự tranh luận, sống châm chích lẫn nhau bằng các vũ khí của mồm miệng (nói rằng): ‘Pháp là như thế này, pháp không phải là như thế kia. Pháp không phải là như thế kia, pháp là như thế này.’”
4. Sau đó, khi hiểu ra sự việc này, đức Thế Tôn vào thời điểm ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Loại người này bị gắn bó (với ý nghĩ) ‘Tôi là người tạo ra,’ bị gắn liền (với ý nghĩ) ‘Kẻ khác là người tạo ra,’ nhiều người đã không biết rõ điều ấy, đã không thấy điều ấy là ‘mũi tên.’
Và đối với vị trước đây nhìn thấy điều ấy là mũi tên, (ý nghĩ) ‘Tôi tạo ra’ là không có đối với vị ấy, (ý nghĩ) ‘Kẻ khác tạo ra’ là không có đối với vị ấy.
Bị nhiễm bởi ngã mạn, bị trói buộc bởi ngã mạn, bị trói chặt bởi ngã mạn, có lời nói công kích về các quan điểm, loại người này không vượt qua luân hồi.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Tự Thuyết (Udāna). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
6. Kinh Về Các Ngoại Đạo Khác Nhau, (phẩm) thứ ba.
56. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của Anāthapiṇḍika. Và vào lúc bấy giờ, có rất nhiều sa-môn, bà-la-môn, du sĩ thuộc các ngoại đạo khác nhau đang cư ngụ tại Sāvatthī, họ có những quan điểm khác nhau, những khuynh hướng khác nhau, những sở thích khác nhau, và nương tựa vào những nền tảng kiến giải khác nhau.
Santeke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: “sassato attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan”ti.
Santi paneke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: “asassato attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan”ti.
Santeke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: “sassato ca asassato ca attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan”ti.
Santi paneke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: “neva sassato nāsassato attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan”ti.
Santeke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: “sayaṅkato attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan”ti.
Santi paneke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: “paraṅkato attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan”ti.
Santeke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: “sayaṅkato ca paraṅkato ca attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan”ti.
Santi paneke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: “asayaṅkāro aparaṅkāro adhiccasamuppanno attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan”ti.
Santeke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: “sassataṁ sukhadukkhaṁ attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan”ti.
Santi paneke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: “asassataṁ sukhadukkhaṁ attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan”ti.
Santeke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: “sassatañca asassatañca sukhadukkhaṁ attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan”ti.
Santi paneke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: “neva sassataṁ nāsassataṁ sukhadukkhaṁ attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan”ti.
Santeke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: “sayaṅkataṁ sukhadukkhaṁ attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan”ti.
Santi paneke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: “paraṅkataṁ sukhadukkhaṁ attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan”ti.
Santeke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: “sayaṅkatañca paraṅkatañca sukhadukkhaṁ attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan”ti.
Santi paneke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: “asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ sukhadukkhaṁ attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan”ti.
There were some ascetics and brahmins who had this doctrine and view: “The self and the cosmos are eternal. This is the only truth, anything else is futile.”
Others held views such as the following, each regarding their own view as true and others as silly. “The self and the cosmos are not eternal.”
“The self and the cosmos are both eternal and not eternal.”
“The self and the cosmos are neither eternal nor not eternal.”
“The self and the cosmos are made by oneself.”
“The self and the cosmos are made by another.”
“The self and the cosmos are made by both oneself and another.”
“The self and the cosmos have arisen anomalously, not made by oneself or another.”
“Pleasure and pain are eternal, and the self and the cosmos.”
“Pleasure and pain are not eternal, and the self and the cosmos.”
“Pleasure and pain are both eternal and not eternal, and the self and the cosmos.”
“Pleasure and pain are neither eternal nor not eternal, and the self and the cosmos.”
“Pleasure and pain are made by oneself, and the self and the cosmos.”
“Pleasure and pain are made by another, and the self and the cosmos.”
“Pleasure and pain are made by both oneself and another, and the self and the cosmos.”
“Pleasure and pain have arisen anomalously, not made by oneself or another, and the self and the cosmos.”
Có một số sa-môn, bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: 'Tự ngã và thế giới là thường hằng; chỉ điều này là sự thật, ngoài ra là sai lầm.' Lại nữa, có một số sa-môn, bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: 'Tự ngã và thế giới là không thường hằng; chỉ điều này là sự thật, ngoài ra là sai lầm.' Có một số sa-môn, bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: 'Tự ngã và thế giới vừa thường hằng vừa không thường hằng; chỉ điều này là sự thật, ngoài ra là sai lầm.' Lại nữa, có một số sa-môn, bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: 'Tự ngã và thế giới không thường hằng cũng không không thường hằng; chỉ điều này là sự thật, ngoài ra là sai lầm.' Có một số sa-môn, bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: 'Tự ngã và thế giới là do tự mình làm ra; chỉ điều này là sự thật, ngoài ra là sai lầm.' Lại nữa, có một số sa-môn, bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: 'Tự ngã và thế giới là do người khác làm ra; chỉ điều này là sự thật, ngoài ra là sai lầm.' Có một số sa-môn, bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: 'Tự ngã và thế giới vừa do tự mình làm ra vừa do người khác làm ra; chỉ điều này là sự thật, ngoài ra là sai lầm.' Lại nữa, có một số sa-môn, bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: 'Tự ngã và thế giới không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, sanh khởi không do nhân duyên; chỉ điều này là sự thật, ngoài ra là sai lầm.' Có một số sa-môn, bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: 'Lạc và khổ, tự ngã và thế giới là thường hằng; chỉ điều này là sự thật, ngoài ra là sai lầm.' Lại nữa, có một số sa-môn, bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: 'Lạc và khổ, tự ngã và thế giới là không thường hằng; chỉ điều này là sự thật, ngoài ra là sai lầm.' Có một số sa-môn, bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: 'Lạc và khổ, tự ngã và thế giới vừa thường hằng vừa không thường hằng; chỉ điều này là sự thật, ngoài ra là sai lầm.' Lại nữa, có một số sa-môn, bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: 'Lạc và khổ, tự ngã và thế giới không thường hằng cũng không không thường hằng; chỉ điều này là sự thật, ngoài ra là sai lầm.' Có một số sa-môn, bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: 'Lạc và khổ, tự ngã và thế giới là do tự mình làm ra; chỉ điều này là sự thật, ngoài ra là sai lầm.' Lại nữa, có một số sa-môn, bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: 'Lạc và khổ, tự ngã và thế giới là do người khác làm ra; chỉ điều này là sự thật, ngoài ra là sai lầm.' Có một số sa-môn, bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: 'Lạc và khổ, tự ngã và thế giới vừa do tự mình làm ra vừa do người khác làm ra; chỉ điều này là sự thật, ngoài ra là sai lầm.' Lại nữa, có một số sa-môn, bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: 'Lạc và khổ, tự ngã và thế giới không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, sanh khởi không do nhân duyên; chỉ điều này là sự thật, ngoài ra là sai lầm.'
Te bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharanti: “ediso dhammo, nediso dhammo; nediso dhammo, ediso dhammo”ti.
They were fighting, quarreling, and disputing, continually wounding each other with barbed words: “Such is Truth, such is not Truth! Such is not Truth, such is Truth!”
Họ sanh ra tranh cãi, sanh ra xung đột, rơi vào tranh luận, sống đả thương nhau bằng những ngọn giáo miệng: 'Pháp là như thế này, pháp không phải như thế này; pháp không phải như thế này, pháp là như thế này'.
Atha kho sambahulā bhikkhū pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pāvisiṁsu. Sāvatthiyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkantā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
Then several mendicants robed up in the morning and, taking their bowls and robes, entered Sāvatthī for alms. Then, after the meal, when they returned from almsround, they went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what was happening.
Rồi, một số đông tỳ khưu, vào buổi sáng, đắp y, mang bát và y, vào Sāvatthī để khất thực. Sau khi đi khất thực ở Sāvatthī, dùng bữa xong, trên đường trở về từ nơi khất thực, họ đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, họ đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các tỳ khưu ấy bạch với Thế Tôn điều này:
“Idha, bhante, sambahulā nānātitthiyasamaṇabrāhmaṇaparibbājakā sāvatthiyaṁ paṭivasanti nānādiṭṭhikā nānākhantikā nānārucikā nānādiṭṭhinissayanissitā.
Bạch Thế Tôn, ở đây, có rất nhiều sa-môn, bà-la-môn, du sĩ thuộc các ngoại đạo khác nhau đang cư ngụ tại Sāvatthī, họ có những quan điểm khác nhau, những khuynh hướng khác nhau, những sở thích khác nhau, và nương tựa vào những nền tảng kiến giải khác nhau.
Santeke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘sassato attā ca loko ca, idameva saccaṁ moghamaññan’ti …pe… te bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharanti: ‘ediso dhammo, nediso dhammo; nediso dhammo, ediso dhammo’”ti.
Có một số sa-môn, bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy: 'Tự ngã và thế giới là thường hằng; chỉ điều này là sự thật, ngoài ra là sai lầm.' ...v.v... Họ sanh ra tranh cãi, sanh ra xung đột, rơi vào tranh luận, sống đả thương nhau bằng những ngọn giáo miệng: 'Pháp là như thế này, pháp không phải như thế này; pháp không phải như thế này, pháp là như thế này'.
“Aññatitthiyā, bhikkhave, paribbājakā andhā acakkhukā. Te atthaṁ na jānanti anatthaṁ na jānanti, dhammaṁ na jānanti adhammaṁ na jānanti. Te atthaṁ ajānantā anatthaṁ ajānantā, dhammaṁ ajānantā adhammaṁ ajānantā bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharanti: ‘ediso dhammo, nediso dhammo; nediso dhammo, ediso dhammo’”ti.
Này các Tỳ khưu, các du sĩ ngoại đạo là những kẻ mù lòa, không có mắt. Họ không biết lợi ích, không biết bất lợi, không biết Chánh pháp, không biết phi pháp. Họ, vì không biết lợi ích, không biết bất lợi, không biết Chánh pháp, không biết phi pháp, nên sanh ra tranh cãi, sanh ra cãi vã, rơi vào tranh luận, sống đâm chọt lẫn nhau bằng những ngọn giáo miệng: ‘Pháp là như thế này, Pháp không phải như thế này; Pháp không phải như thế này, Pháp là như thế này’.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
Then, understanding this matter, on that occasion the Buddha expressed this heartfelt sentiment:
Rồi Thế Tôn, sau khi biết rõ ý nghĩa này, vào lúc ấy, đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Ahaṅkārapasutāyaṁ pajā, Paraṅkārūpasaṁhitā; Etadeke nābbhaññaṁsu, Na naṁ sallanti addasuṁ.
“Folk are fixated on the I-maker, which is tied up with the other-maker. There are some who do not realize this, they do not see the dart.
Chúng sanh này chuyên chú vào ‘ta làm’, liên kết với ‘người khác làm’. Một số người không thừa nhận điều này, cũng không thấy nó là mũi tên.
Etañca sallaṁ paṭikacca passato, Ahaṁ karomīti na tassa hoti; Paro karotīti na tassa hoti.
But when they see this dart, they do not think, ‘I make it’, nor ‘another makes it’.
Và đối với người thấy trước mũi tên này, không có quan niệm ‘Tôi làm’, cũng không có quan niệm ‘Người khác làm’.
Mānupetā ayaṁ pajā, Mānaganthā mānavinibaddhā; Diṭṭhīsu sārambhakathā, Saṁsāraṁ nātivattatī”ti.
Chaṭṭhaṁ.
These folk are caught up in conceit, tied by conceit, shackled by conceit. Vehemently defending their views, they don’t escape transmigration.”
Chúng sanh này đầy ngã mạn, bị ngã mạn trói buộc, bị ngã mạn quấn chặt; có lời nói tranh chấp trong các tà kiến, không vượt qua được vòng luân hồi. Hết kinh thứ sáu.